Thiền
hiển nhiên đã được xử dụng trong Do thái giáo, Hồi giáo,
Thiên chúa giáo. Khái niệm thường dùng trong thánh kinh là
revelation.Tiếng Việt dịch là khải thị, mặc
thị, mặc khải. Tĩnh tâm và mặc khải cũng hệt như lặng
yên và thiền định. Cảnh giới thấy được trong mặc khải
cũng tương đồng như cảnh giới trong tam muội (samadhi). Trong
chương Revelation tức Apocalypse, thường được dịch là kinh
Khải huyền, tất cả những mô tả về tiếng nói,
âm thanh, âm nhạc, kèn đồng, ánh sáng, lửa...và đủ loại
các cảnh giới khiến ta liên tưởng ngay đến các tam muội.
Rất
dễ dàng để nhận ra khải thị, mặc thị, mặc khải là
kết quả của thiền (meditation). Có những sự kiện trong Tân
Ước làm ta nhận ra trải nghiệm thiền, tam muội và chứng
đắc trong Thiên chúa giáo, ví dụ:
- Ngay
khi John Baptiste làm phép nước (water baptize) cho
Jesus. Jesus thấy một làn ánh sáng từ trời cao chiếu xuống,
mà ngôn ngữ ẩn dụ của thánh kinh thời đó mô tả như một
con chim bồ câu trắng lao xuống. Thể nghiệm ánh sáng này
thường xảy ra trong thiền định, và cảnh giới này được
gọi là tam muội (Samadhi). Theo ngôn ngữ của Ấn giáo hay phật
giáo thì đây là lúc John Baptist truyền tâm ấn (initiation)
cho Jesus. Trong kinh thánh, theo lời của chính John Baptist, Jesus
có đẳng cấp tâm linh cao hơn John Baptist. Thế thì tại sao
người thấp lại truyền cho người cao? Đây là một thiên
cơ, một sắp xếp đã lập trình, Jesus mang một năng lượng
tâm vĩ đại, nhưng người biết cách ‘swich on” lại là
John.
- Khi
Jesus đi vào sa mạc một mình. Ngài đã làm gì trong một tháng
độc cư giữa cái hoang vu im lặng của sa mạc. Theo bạn bạn
nghĩ sự kiện đó là gì? Vatican có cách hiểu, và giải thích,
theo một truyền thống riêng của giáo hội. Nhưng cách hiểu
rằng Jesus trong sa mạc đã ngồi tĩnh tâm, quán chiếu và mặc
khải là phù hợp với sự thật nhất. Jesus đã thiền định
và chiến thắng mọi ảo giác. Ngài chiến thắng con rắn,
tức Satan, tức biểu tượng của cái ác. Khi những ảo tưởng
của tâm đã bị hàng phục, Jesus đại ngộ (enlightened). Ngài
trở về và bắt đầu thuyết giảng.
Trong
huyền thoại của Hồi giáo, Mohammad đã nhiều
lần lên núi Hira để mặc khải, tức thiền định. Trong cảnh
giới của mặc khải (Ấn giáo và Phật giáo gọi là tam muội)
Mohamad đã gặp thánh Michael (tổng lãnh các thiên thần), và
nghe những lời giảng linh thiêng tại đây.
Theo
Do thái giáo, Moses đã từng nhiều lần nhận các
mặc khải trên núi Sinai. Bởi vì cùng có chung một cội nguồn
xuất phát, nên cả ba tôn giáo Do thái, Hồi giáo, Thiên chúa
giáo đều chia sẻ chung khái niệm về “revelation” tức “mặc
khải” như vừa kể ở trên.
Các
tôn giáo thần khải, xuất phát từ Cựu ước (Old Testament),
đều có chung niềm tin rằng mặc khải là ơn thiên sủng.
Nghĩa là trạng thái mặc khải chỉ được ban ơn từ Chúa
trời. Vâng, đây chính là sự khác biệt chính yếu nhất,
làm ra đường ranh giữa các tôn giáo xuất phát từ Cựu ước
với các tôn giáo xuất phát từ Ấn độ. Những tôn giáo
như Ấn giáo, Sik, Phật giáo v.v… đều tin rằng không phải
trạng thái mặc khải là ơn huê được ban từ Thượng Đế,
mà chính mọi người, hoặc do bẩm sinh, hoặc do rèn luyện
tâm linh cao, đều có khả năng nhập được vào trạng thái
đó.
Trạng
thái “Mặc khải” chính là “Tạm muội”. Hai khái niệm
này trùng khít với nhau. Đối với Phật giáo những tam muội
được được phân biệt và phân loại rõ ràng…ví dụ Tam
muội vương tam muội, Hoa Nghiêm tam muội, Du hí thần thông
tam muội…
Như
vậy thiền định hoặc mặc khải độc lập với mọi tôn
giáo.
Đó
chỉ là những phương tiện.
Tín
đồ của mọi tôn giáo, thực hiện thiền định như một
phương cách để thấu hiểu và giao tiếp với “Thượng Đế
riêng” của tôn giáo mình. Tôi đã từng thấy nhiều tín
đồ Thiên Chúa ngồi yên trong tĩnh lặng, để cầu nguyện,
hoặc quán chiếu nội tâm (contemplation). Người Thiên Chúa
giáo thường dùng chữ tĩnh tâm. Có lần tại một nhà thờ
ở Vũng tàu, tôi đã thấy một linh mục ngồi bất động
trên chiếc ghế sau lưng nhà thờ, trầm tư mặc tĩnh hằng
giờ! Những hình ảnh cho thấy cách tiếp cận với Chúa duy
nhất là: quay vào bên trong.
Tôi
đã đọc Thánh Kinh. Tôi cũng có cơ hội nói chuyện nhiều
với những bạn bè Thiên Chúa giáo. Sự tìm hiểu dẫn đưa
tôi đến những thể nghiệm tâm linh của các bậc thánh trong
Thiên Chúa giáo. Thật lạ lùng, có sự tương đồng rõ rệt
trong tâm linh của mọi con người tâm linh, dù khác biệt tôn
giáo! Tôi muốn giới thiệu với những người ngoại đạo,
trường hợp của Ông John thánh giá (John of the Cross). Đừng
nhầm với ông John thanh tẩy (John Baptist) cùng thời với Jesus
Christ.
John
of the Cross (1542-1591) sinh tại một làng nhỏ ở Fontiveros,
gần Avila, Tây Ban Nha. Cha mất sớm, đi làm cho một bệnh viện,
rồi gia nhập giáo phái Carmel (Carmel order). Cuộc đời nhiều
thăng trầm, nhưng ngài là một tu sĩ được mọi người ngưỡng
mộ và được thắng tiến rất sớm. John of the Cross nổi tiếng
với những cải cách về tôn giáo. Có lẽ ngài ngộ (enlightened)
rất sớm, cho nên thấy rất rõ những sai lầm của giáo hội,
và những sai lầm ngay trong Carmelite order, mà ngài là thành
viên cao cấp. Cuối cùng đến tháng 12 năm 1577. Đại diện
cho thế lực tôn giáo lúc đó, người lãnh đạo Carmelite oder
đã bắt giam ngài. John of the Cross đã chịu giam cầm trong một
phòng vô cùng nhỏ, chỉ vừa cho cơ thể của ngài và đủ
thứ nhục hình, thậm chí phải chịu đòn roi trước công
chúng mỗi tuần (tham khảo Wikipedie). Không còn chịu nổi sự
hành hạ tàn nhẫn của giáo hội, của những con người đại
diện Chúa Trời lúc đó, John of the Cross vượt ngục sau chin
tháng bị giam cầm.
Sau
khi hồi phục thể xác và tâm linh, Thánh John of the Cross, được
sự đồng cảm và giúp đỡ của Thánh nữ Theresa D’Avila,
bắt đầu gây dựng phong trào cải cách Thiên Chúa giáo gọi
là New Carmelite Order với rất nhiều nhà thờ. Thời gian này,
ngài đã viết một số tác phẩm tâm linh, dưới hình thức
văn thơ. Tôi liên tưởng đến Thánh John of the Cross khi viết
bài này, vì ngài là vị thánh Thiên Chúa giáo hiếm hoi, trình
bày minh bạch các thể nghiệm tâm linh của mình cho công chúng.
Đây chính là các trải nghiệm mà một người có kinh nghiệm
thiền định đều dễ dàng nhận biết.
John
of the Cross có hai tập thơ khoảng 2.500 câu:
The
spiritual Canticle: Mô tả cái khao khát được gặp Chúa, ẩn
dụ dưới hình ảnh một chú rể khao khát tìm kiếm cô dâu,
hay nỗi sợ hãi phải chia lìa người hôn phối.
Dark
night of the soul: Kể lại hành trình của linh hồn, từ ngôi
nhà thường ngày của mình là thân xác, đi đến găp gỡ và
phối giao với Thượng đế. Cảm giác giống như nội dung
của kinh Hoa Nghiêm với Thiện Tài đồng tử trên hành trình
đi học đạo. Ngài mô tả những giai đoạn khó khăn của
linh hồn, khi tách ra khỏi thân xác hay khi gặp gỡ và phối
hợp với ánh sáng của Thượng đế.
Và
tác phẩm thứ ba rất quan trọng gây ấn tượng nhất là:
Lên đỉnh Carmel.
Ascension
of Mount Carmel
Mô
tả chi tiết toàn bộ các trãi nghiệm tâm linh trên hành trình
tìm và gặp chúa. Một tín đồ có thể tìm gặp chúa ở đâu?
Không phải ở giáo đường (tương tự một Phật tử sẽ
không tìm thấy Phật trong chùa). Kinh thánh luôn nhắc nhở:
Giáo đường linh thiêng nhất là bên trong chính cơ thể của
mình. Đó chẳng phải là nghĩa đen đó sao! Chỉ có duy nhất
một cách để tiếp cận Chúa Trời hay Phật tánh là quay vào
bên trong, đó là măc khải hay thiền định. Thánh John of the
Cross đã mô tả trãi nghiêm “quay vào trong” này gian khó
như người leo lên một ngọn núi cao. Tất cả các trải nghiệm
của ngài, được mô tả theo thứ bậc, giống như trạng thái
thiền có giai đoạn và thứ bậc. Lúc bắt đầu ở chân núi
thì cảm giác còn ấm áp nhẹ nhàng. Càng lên cao càng lạnh
căm giá buốt. Có lúc phải trải nghiệm một cảm giác như
bị xé rách lúc gần tới đỉnh. Cuối cùng là ánh sáng huy
hoàng của Chúa, niềm hoan lạc cực đỉnh khi hòa tan với
Chúa.
Từ
các sự kiện trong kinh thánh Thiên Chúa giáo, từ trải nghiệm
tâm linh của các vị thánh, từ thể nghiệm của Thiền đinh,
ta nhìn thấy sự tương đồng trong mọi con đường tiếp cận
với Chúa, với Thượng Đế, hay với Phật tánh. Mọi con đường,
thật ra cũng dựa trên một nguyên lý duy nhất: quay vào bên
trong cơ thể, tức vào tâm thức của mình. Nơi đây Thánh
kinh cho là giáo đường linh thiêng nhất.
Đừng
câu chấp vào sự khác biệt của ngôn ngữ, của truyền thống
hay của tôn giáo. Tất cả sinh hoạt tâm linh của mọi tôn
giáo đều giống nhau về cơ bản. Bài viết này là một trong
những nổ lực xóa nhòa biên giới của các pháp môn, của
các tôn giáo khác biệt. Đối chiếu và so sánh các tôn giáo,
không phải là nổ lưc nhằm vạch ra cái khác nhau và dị biệt.
Trái lại so sánh và đối chiếu các tôn giáo có mục đích
là tìm ra cái tương đồng và cái nguyên lý chung nhất. Biết
được cái nguyên lý chung nhất, ví dụ trong các quan điểm
khác nhau về thiền định hay mặc khải, nhãn quan ta sẽ rộng
mở hơn.
Chú
thích:
-
Tam muội (Samadhi) là cảnh giới phát sinh từ định lực. Định
lực phát sinh từ định chỉ (samatha). Cho nên có khi định
hay tam muội được dùng một cách lẫn lộn.
-
Muốn hiểu rõ về tam muội xin đọc “Luận
đại trí độ” của Long Thọ. Chương 12, Tập 01 (thượng
tọa Thiện Siêu Việt dịch)
Phạm Doãn
03-12-2008
11:23:56