Con
người có quyền được lựa chọn và quyết định mọi suy
nghĩ, mọi hành động, mọi kế hoạch cho mình hay không? Hay
là do “Thượng đế” sắp đặt trước. Nói một cách triết
học là “Con người có ý chí tự do hay không?” (Free will
or not free will? Predetermined or not predetermined?)
Một
việc xảy ra do ý trời (sự sắp đặt của vũ trụ) hay do
ý người (sự tự do dùng ý chí của ta để sắp đặt sự
việc). Ngôn ngữ Việt thường dùng chữ ”Thiên định”
để ám chỉ một sự việc do trời, hay do qui luật vũ trụ,
sắp đặt trước; và dùng chữ “Nhân định” để ám chỉ
một sự việc do chính ý chí của ta sắp đặt và quyết định.
Cụ Nguyễn Du có lúc thì nhấn mạnh yếu tố thiên định,
đến yếu tố nghiệp, như:
Đã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng nên trách trời gần trời xa
Bắt
phong trần phải phong trần
Cho
thanh cao mới được phần thanh cao
Nhưng
lại có lúc cụ lại nói như một lời an ủi:
Có
trời mà cũng có ta.
Hoặc:
Xưa
nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!
Vậy
thì thế nào? Vũ trụ lập trình mọi sự kiện, mọi biến
cố (thiên định), hay con người ta tự quyết định lấy số
mệnh của mình (nhân định), hay là… năm mươi-năm mươi?
Trong
suốt chiều dài lịch sử đây là một câu hỏi đau đầu,
một vấn đề rất gai góc liên hệ đến mọi tôn giáo, mọi
triết học, mọi khía cạnh nhân văn, xã hội, luật pháp,
đạo đức v.v…Có vô số những lời giải đáp, có vô số
những câu trả lời, đưa đến vô số những quan điểm và
nhận định hoàn toàn trái ngược nhau.
Trong
đời sống hàng ngày có vẻ như ta rất tự do. Ta muốn đi,
đứng, nằm, ngồi, hay làm bất cứ việc gì đó, tất cả
là do quyết định của ta, tức là do ý chí (will, volonte’)
của ta. Nhưng có đôi khi ta lại thấy dường như không phải
vậy. Ngay cả đối với bản thân ta nhiều khi, rất nhiều
khi, ta chẳng có quyết định gì được cả. Ta không muốn
già, không muốn bệnh, nhưng cơ thể vẫn cứ già, cứ bệnh.
Hoặc ta rất muốn có đủ trí thông minh để đối chọi với
đời, hoặc ta rất muốn hoàn tất một dự định, hoặc ta
rất muốn thành đạt; nhưng muốn là một chuyện, còn có
thực hiện được không lại là một chuyện khác. Cầu thủ
tiền đạo đến trước khung thành đối phương, rất muốn
sút vào goal, tất cả cổ động viên hàng trăm ngàn người
đều muốn như thế, nhưng muốn là một chuyên, banh có đi
vào lưới hay không đó là chuyện khác. Rõ ràng: Man proposes
but God disposes! Con người dự tính nhưng Thượng đế quyết
định!
Từ
hiểu biết về vấn đề vô thức, nghiệp, sự qui định sinh
học của genes, khiến ta khó chứng minh được rằng con người
ta có quyền tự do lựa chọn trong ý nghĩ và hành động của
mình. Rồi trong thế kỉ này, thuyết Big bang càng ngày càng
được kiểm chứng. Nghĩa là sự thành lập vũ trụ tùy thuộc
vào những hằng số lúc ban đầu, đưa đến một diễn tíến
nhất định (determined process) để hình thành thế giới chúng
ta. Chính đây là luận điểm mạnh mẽ nhất, chứng minh chúng
ta đã bị lập trình từ trước. Lập trình từ cơ thể sinh
học đến cơ chế tư duy, hành vi ứng xử v.v…
Về
mặt Pháp luật, tất cả các bộ luật đều bắt con người
phải chịu trách nhiệm về hành động của mình (trừ khi
bác sĩ xác nhận bị bệnh tâm thần). Về mặt tôn giáo, nhiều
tôn giáo lớn cho rằng con người ta có ý chí tự do (free will),
có thể làm những gì mình muốn, có thể quyết định những
lựa chọn của mình. Vì có ý chí tự do nên con người phải
chịu trách nhiệm về tất cả những hành động của mình.
Tín đồ Catholic phải chịu trách nhiệm về quyết định việc
mình theo Chúa hay theo Satan, lên thiên đàng hay xuống địa
ngục. Ngay cả Phật giáo cũng có những luân điểm như vậy.
Anh phải làm điều thiện và tránh điều ác. Những lời dạy
như vậy phổ biến trên hầu hết các tôn giáo, các bộ luật,
các nhà xã hội, các nhà đạo đức…
Về
mặt thế gian, luật pháp phải đòi hỏi con người có ý chí
tự do, đòi hỏi con người phải chịu trách nhiệm với hành
động của mình. Đó là chuyện đương nhiên, nếu không thì
còn gì luật pháp, còn gì an ninh trật tự. Về mặt đạo
đức, nếu anh không chịu trách nhiệm về tội lỗi của anh
thì xã hội sẽ ra sao?
Về
mặt tôn giáo cũng vậy? Hai tôn giáo lớn, Thiên Chúa giáo
và Phật giáo, cũng đều cho rằng con người phải chịu trách
nhiệm với hành động của chính mình, điều này gián tiếp
cho rằng con người có ý chí tự do. Từ quan điểm này dẫn
đến cách giáo dục là tín đồ phải nguyện làm điều thiện
tránh điều ác. Tôi nguyện làm điều này, tôi nguyện tránh
điều kia. Nhưng “nguyện” là phải dùng tới ý chí, nếu
ý chí của tôi được tư do thì tôi mới thực hiện lời
nguyện được. Ngay ở đây, một câu hỏi phải được nêu
lên: Liệu con người ta thực sự có ý chí tự do để quyết
định mọi hành động của mình hay không?
Ta
thấy rằng tính tất định của vũ trụ, luật nhân quả,
nghiệp, vô thức, genes đã chi phối, qui định toàn bộ hiên
hữu của con người. Nghĩa là những nhận thức này đưa tới
những hệ luận mâu thuẫn với phần lớn các quan điểm về
tự do ý chí đang phổ biến trong xã hội con người.
Tự do ý chí của con người dường như là nhận thức phổ
thông và phổ biến. Tự do ý chí dường như là một chấp
nhận hiển nhiên, không cần chứng minh. Vì thế, bài viết
chỉ đưa ra đây một vài ví dụ cho quan điểm “Con người
không có tự do của ý chí”:
•
Kinh
cựu ước: Mỗi một sợi tóc rụng cũng là ý của chúa
(tất cả mọi hiện tượng mọi sự kiện xảy ra là do ý
chúa). Không hiểu sao Cựu ước nhận thức như vậy, mà đến
Tân ước và nhà thờ hiên tại thì con người phải chịu
trách nhiệm về hành động của mình. Đáng lẽ ra “Ổng”
làm “ổng” chịu chứ.
•
Cả
Do thái giáo lẫn Hồi giáo cũng rất lúng túng khi phải
giải thích về ý chí tự do. Họ cố gắng giải thích sao
cho có sự quân bình giữa quyền quyết định tối cao của
thượng đế với cái ý chí tự do của mỗi con người, giống
như giải pháp của cụ Nguyễn Du.
•
Triết
học tây phương cũng đau đầu về vấn đề này. Những
khuôn mặt lẫy lừng như Kant, Nietzche, Schopenhauer, Hume, Spinoza
và nhiều người nữa cũng đều cho là vũ trụ và con người
đều bị qui định trước (predetermined) như vậy có gì còn
được gọi là ý chí tự do? Triết gia Đức Schopenhauer viết:
“Nếu một hòn đá đang bị ném bay trong không trung mà nó
biết suy nghĩ thì nó cũng nghĩ là nó đang bay bằng ý chí
tự do theo quĩ đạo mà nó muốn”. Hòn đá vô tri vô giác
nếu có ý thức thì điều đầu tiên nó mơ ước là có được
tư do trong hành động của mình, huống hồ là con người một
sinh vật có ý thức! và luôn luôn tự hào về mình. Chính
vì nỗi khao khát này mà rất nhiều người muốn chứng minh
con người có ý chí tự do, có quyền quyết định và chịu
trách nhiệm với hành động của mình.
•
Sáu
phái Triết học Ấn độ hoặc công khai hoặc không công
khai cũng đều phủ nhận cái cho là Ý chí tự do.
•
Mục
Kiền Liên, đệ tử Phật, người rất nhiều thần thông
và pháp thuật cuối đời bị một đám đông người của
giáo phái khỏa thân bao vây và đánh hội đồng tan xương
nát thịt cho đến chết. Bạn bè nói chuyện với thần thức
của Mục Kiền Liên:
•
Sao ông lại để chịu chết như vậy, những thần thông đệ
nhất của ông đâu? Sao không tàng hình, hoặc đằng vân bay
đi, mà đứng đó đưa lưng chịu đòn?
•
Các ông chưa hiểu nghiệp là gì! Lúc nghiệp đổ ào ào tới,
thần thông cũng chẳng xoay chuyển nổi!
Về
Ý chí thì mình muốn làm mọi cách để sống nhưng nghiệp
thì bắt mình chết, ai cũng biết điều đó. Câu chuyện Mục
Kiền Liên chỉ dù là huyền thoại, nhưng sự xuất hiên của
câu chuyện đó trong lịch sử Phật giáo chứng minh rằng đã
có ý nghĩ về sự bất lực của con người trước nghiệp,
trước định mệnh.
Tính
tất định của vũ trụ, luật nhân quả (law of cause and effect),
nghiệp, genes, là những cái qui định hình dạng cơ thể, trí
thông minh, cho cả đến toàn thể vân mệnh một cá nhân. Sự
chứng minh và tranh luận về quan điểm này, sẽ vượt quá
khuôn khổ bài viết. Nếu ai đã tìm hiểu căn kẽ, và đã
tin ở sự qui định đó, thì quả thực khó thấy được cái
phần tự do trong mọi tư duy và hành động của mình . Tôi
cũng khao khát tự do như bạn, tôi cũng muốn chứng minh rằng,
dù bị nghiệp quản thúc, genes qui định nhưng tôi vẫn có
tự do ý chí để thực hiện những nguyện ước của tôi.
Nhưng thực sự là không thể được, thực sự rất khó tìm
được chứng minh cho cái tự do của tôi.
Có
người nói tình trạng bị qui định (predetermined) và ý chí
tự do (free will) là hai vấn đề khác nhau. Ta phải phân ra
làm hai lãnh vực, lãnh vực vật chất thì bị qui định, còn
lãnh vực tinh thần thì tư do. Tiếc rằng lý luận vừa nêu
rất khó thuyết phục, bởi vì tách thế giới ra làm hai phạm
trù độc lập không phù hợp với tính thống nhất hiển nhiên
của vạn vật.
Có
người nói Cơ học lượng tử (quantum physics) chứng minh rằng
dù thế giới vật lý có bị qui định (predetermined) bởi những
hăng số nào đi nữa thì vẫn có những sai lệch xác suất
(probability) do tính bất định của hạt. Nghĩa là trong thế
giới hạt (micro world) không có sự qui định tuyệt đối.
Nghĩa là thế giới vĩ mô mà ta đang sống (macro world) cũng
không hẳn bị qui định tuyệt đối. Tuy nhiên những chống
chỏi như thế đều rất yếu về mặt lí luận. Ví dụ như
nói cơ học lượng tử bế tắc trước sự bất định của
hạt thì đó là tại vì cơ học lượng tử bế tắc chứ
biết đâu một nền cơ học khác thì không bế tắc và lại
tuyên bố không có cái gì là bất định. Theo tôi nhìn vấn
đề từ quan điểm vật lý là rõ ràng nhất:
Nếu
vũ trụ được hình thành theo một quy trình nhất định với
những hằng số (constants) được tự nhiên lựa chọn trước,
thì mọi hiện hữu, mọi sự kiện của thế giới, xảy ra
sau đó, tất yếu cũng đều diễn ra theo một diễn trình không
thể thay đổi. Từ vận động vĩ mô của vũ trụ đến từng
hành động hay suy nghĩ của một cá thể cũng đã đều được
lập trình. Thuyết này gọi là tất định luận (determinism).
Theo tất định luận, trên thế giới này không có gì gọi
là tự do ý chí hay ý chí tự do cả.
Nếu
bạn kể rằng, ngày xưa, có lần bạn thất bại trong cuộc
sống, nhưng nhờ ý chí mạnh mẽ mà bạn đã đứng dậy,
vươn lên, vượt qua được nghịch cảnh để trở thành con
người thành đạt hôm nay. Nếu bạn tin rằng diễn trình này
chứng minh bạn đã có tự do ý chí, thì xin thưa: Toàn bộ
diễn trình đó, sự thất bại ban đầu, nổ lực phấn đấu
vượt khó sau đó và sự thành đạt hôm nay, tất cả đã
được lập trình. Tất cả mọi hiện hữu, mọi diễn biến
đều đã được định trước, kể cả sự xuất hiện ý
chí mạnh mẽ của bạn lúc đó.
Thế
sao thực tế là lúc nào tôi cũng cảm thấy dường như mình
có tự dọ quyết định điều này điều nọ. Tình trạng
“cảm thấy” này được giải thích như sau: ví dụ như
có một con Robot được lập trình sao cho, trước một tình
thế, nó phản ứng được với mười cách ứng xử khác nhau.
Ta cho rằng con Robot này rất thông minh, nhưng ta biết nó không
có ý chí tự do, vì tất cả mười cách phản ứng cùa nó
đã được lập trình sẵn, nó không biết đến cách phản
ứng thứ mười một và hơn nữa. Nhưng nếu một nhà lập
trình siêu việt trong tương lai viết được một phần mềm,
sao cho con Robot có thể có đến vô số những lựa chọn, thì
chắc bạn không dám gọi nó là Robot nữa. Lúc ấy Robot sẽ
thông minh không khác người sản xuất ra chúng. Và lúc ấy
con Robot cũng không chịu nhận mình là Robot, chúng sẽ nói
chúng có ý chí tự do, chúng sẽ tự quyết định sự tồn
tại của chúng, chúng sẽ làm một cuộc nổi dậy chống lại
con người. Phim khoa học giả tưởng (science fiction) mà bạn
xem trên TV chắc chắn có một giá trị nhất định.
Trường
hợp con người cũng vậy, do tương tác duyên khởi trùng điệp,
con người có một số quá lớn những lựa chon trước một
tình huống. Do đó ta luôn luôn có cảm giác như được tự
do trong những lựa chọn hoặc quyết định của mình. Mà không
biết rằng ngay từ lúc khai thiên lập địa, ở những phút
đầu tiên của Big bang, toàn bộ hiện hữu và tiến trình
vân động của vũ trụ đã bị qui định. Lúc nào protein được
thành lập, lúc nào xuất hiên sinh vật đơn bào, lúc nào xuất
hiên sinh vật đa bào, lúc nào có con người đầu tiên, sinh
lý cơ thể con người vận hành thế nào, tư duy con người
vận hành theo những phản xạ ra sao... Tất cả đều được
định trước. Khi nào hình thành xã hội, cấu trúc xã hội
ra sao, khi nào chiến tranh, khi nào hòa bình tất cả đều được
lập trình trước. Nhưng con người, sinh vật sinh sau đẻ muộn
trong suốt chiều thời gian thăm thẳm đó, luôn luôn tin mình
độc lập với tự nhiên và quyết định hết mọi diễn tiến
của lịch sử loài người. Trong cuộc đời riêng tư của
mình, thì con người còn lại tin chắc hơn nữa về sự tự
do của nó. Sở dĩ thế, vì thiên nhiên đã lập trình cho con
người rất nhiều lựa chọn trong cách ứng xử của nó.
Tại
sao đa số con người tin tưởng ở ý chí tự do, tin tưởng
mình có khả năng lựa chọn, mà lại có thiểu số rất ít
người lại đặt dấu hỏi nghi ngờ về cái tự do này. Đây
là thiểu số bi quan (pessimist)? Đúng, tất cả các triết gia
đã tìm thấy sự bất lực của con người, tìm thấy sự
không tự do trong ý chí con người, đều nhận rằng mình là
kẻ bi quan. Nhưng sự thật rõ ràng, không phải cứ lạc quan
là chân lý. Nếu nhanh nhạy, ta sẽ thấy ngay, chính các triết
gia đó mới là những người khao khát tự do nhất. Họ là
thiểu số muốn tìm đến cái tự do tuyệt đối, cái tự
do tuyệt đối mà đám đông không dám nghĩ tới và thực sự
cũng không có khả năng nghĩ tới. Rất tiếc là các triết
gia Tây phương luôn đặt vấn đề mà lại thường bất lực
khi tìm giải pháp cụ thể.
Đạo
học đông phương cũng đối mặt với vấn đề tự do ý chí,
câu trả lời của đạo sư Vivekananda có thể là một
trong những ví dụ cho minh triết của đông phương:
“Tự
do ý chí” tự thân nó là một cụm từ mang những nghịch
lý. Không thể có tự do ý chí. Vì ý chí là cái ta nhận thức
được, mà cái ta nhận thức được, nghĩa là nó phải hiện
hữu trong thế giới này. Bất cứ cái gì hiện hữu trong thế
giới thì phải chịu chi phối của thời gian, không gian, luật
nhân quả. Muốn tìm thấy tự do, phải vượt qua thế giới
này.
“Therefore
we see at once that there cannot be such thing as Free-Will; the very words
are a contradiction, because will is what we know, and everything that
we know is within our universe, and everything within our universe is moulded
by conditions of time, space and causality…To acquire freedom we have
to get beyond the limitation of this universe; it can not be found here.”
Thế
giới chúng ta đang sống bị qui định bởi hai chiều thời
gian và không gian. Tất cả hiện hữu, hay hiện tượng, đều
xuất hiện và diễn tiến theo một quá trình nhất định,
chi phối bởi luật nhân quả. Người ta gọi đây là “thế
giới nhân quả”. Trong thế giới nhân quả không thể
có tự do ý chí.
Vũ
trụ quan Phật giáo quan niệm có hiện hữu của vô lượng
thế giới. Kinh Hoa Nghiêm gọi là “thế giới Hoa Nghiêm”.
Trong đó có những thế giới không nằm trong vũ trụ của
Vật lý học hiện đại. Những thế giới không xuất hiện
theo diễn trình Big Bang. Những thế giới mà lý trí con người
không thể nhận thức được. Lý trí hữu hạn chắc chắn
không hình dung được khái niệm “Tam giới” của Phật giáo.
Lý trí hữu hạn chẳng thể biết giới hạn Tam giới là thế
nào. Nhưng chúng ta có thể biết chắc một điều, thế giới
nhân quả nằm trong tam giới. Cứu cánh của đạo Phật là
vượt qua Tam giới. Chỉ khi nào mức tiến hóa tâm linh vượt
qua tam giới, vượt qua nhân quả, ta mới tìm thấy tự do tuyệt
đối.
Cuối
cùng, đối với Phật giáo, “ngã” không tồn tại một cách
độc lập, ngã không có tự tính. Trong chân lý tuyệt
đối, “ngã” không có thực. Chấp lầm rằng có một “bản
ngã” tức có một cái ta, đó là một ảo giác. Tất cả
chân lý về “ngã” làm cho con người trần thế chơi vơi.
Tương tự như thế với “ý chí”, cái xuất phát từ “ngã”.
Ý
chí xuất phát từ bản ngã (cái tôi) không có thực, nên nó
cũng không có thực. Ý chí chỉ là ảo giác hệt như chủ
nhân của nó tức là bản ngã. Điều này càng làm cho con người
trần thế chơi vơi hơn nữa. Đạo Phật không đặt những
giả thuyết về “bản ngã” hay “ý chí”. Trong quá trình
tu tập và thực hành, hành giả (practitioner) sẽ tự tìm ra
lời giải đáp. Đứng ở điểm xuất phát của người tu
hành, nêu lên sự thật về “ảo tưởng bản ngã” hay “ý
chí không tự do” chỉ là cách định hướng con đường tu
tập.
Tham
khảo:
Free
Will
Big
Bang
Swami
Vivekananda
Tam
giới
Phạm
Doãn
01-31-2008
05:23:13