Sóng-Bản
chất của thế giới
Sự
tiến bộ của vật lý cho ta biết thêm những cấu tạo dưới
nguyên tử (sub atomic). Đó là những hạt quarks. Hiện tại
người ta lại biết rằng Quarks không phải là cấu tạo cơ
bản vì chúng có tính không ổn định, chúng có thể thay đổi.
Lý thuyết mới nhất Super string
theory: Cho rằng yếu tố cơ
bản không phải là hạt (particle) mà là dây (string). Theo lý
thuyết này, Proton gồm có 3 dây, mỗi dây tương ứng với
một quark. Mỗi dây có chiều dài bằng nhau (chiều dài đó
có trị số bằng hằng số Planck),
nhưng rung động với các tần số khác nhau. Sự rung động
của mỗi dây giống như mỗi nốt nhạc. Cả thế giới vật
chất là một bản giao hưởng vĩ đại.
Thế
giới vật chất của chúng ta có bản chất là sóng. Toàn bộ
vũ trụ với các thiên thể là những sóng. Đất đá là sóng.
Cơ thể sinh học chúng ta là sóng. Âm thanh, ánh sáng, hương-vị,
cảm giác cũng là sóng. Như vậy có thể cái đầu tiên cũng
là sóng năng lượng chăng? Trong kinh Tân Ước, thánh
John viết:
“In
the beginning was the Word and the Word was with God and the Word was God”.
Ban đầu có Ngôi Lời? Ngôi Lời ở cùng Chúa trời và Ngôi
Lời chính là Chúa trời.
Cái
gì là Ngôi Lời-The Word? Giải thích của giáo hội
Cơ Đốc theo nhiều người là rất khó hiểu. Nếu thoát ra
khỏi sự giải thích của Giáo hội Cơ đốc,
người ta có thể phân vân Ngôi Lời phải chăng chính là biểu
tượng của âm thanh, của sự rung động, của sóng. Triết
học Hy Lạp coi Ngôi Lời là Logos, là cái Lý sáng tạo toàn
thể vũ trụ và loài người (Bùi Giáng dịch là cái Lồ gồ
:P)
Âm thanh bên
trong-The inner sounds
Giống
như tất cả mọi hiện hữu vật chất. Cơ thể của chúng
ta cũng là sóng tức những dao động. Và những dao động này
ta có thể cảm nhận được. Thỉnh thoảng khi bạn mệt, bị
cảm cúm hoặc sau một cố gắng quá sức, bạn có thể nghe
ù tai (nghe như tiếng ve kêu). Triệu chứng này bác sĩ gọi
là tinnitus (French: bourdonnement de l’oreilles). Ù tai loại này
xuất hiện thình lình và cũng biến mất đột ngột, ít khi
kéo dài quá vài ngày. Tôi dám chắc rằng nó không phải là
tổn thương những sợi lông nhỏ của tai trong, như chẩn đoán
của các bác sĩ tai-mũi-họng, nhưng đó là “âm thanh bên
trong, the inner sound”! Những âm thanh này chính là những dao
động của cơ thể của bạn. Đây là cơ chế tự bảo vệ
của cơ thể, nó xuất hiện để bạn có ý thức về chính
cơ thể mình. Ngoài ra có thể nó còn đi kèm với cơ chế
tự sửa chữa, tự phục hồi cơ thể!
Thỉnh
thoảng ngay lúc bạn hoàn toàn khỏe mạnh, bạn cũng có thể
nghe được Âm thanh bên trong. Thỉnh thoảng trong lúc ngồi
thiền bạn cũng có thể nghe âm thanh bên trong. Đa số nghe
âm thanh bên trong giống như tiếng côn trùng, tiếng ve, tiếng
vang trong vỏ ốc lớn. Có người nghe được tiếng sáo, tiếng
trumpet, tiếng tù-và, tiếng đàn Harp, tiếng trống, tiếng
sấm, tiếng sóng biển.v.v…Đôi khi rất hiếm, có người
nghe được tiếng nhạc với melody rõ rệt. Lịch sử chế
tạo nhạc cụ cho biết rất nhiều nhạc cụ được chế tạo
ra do kinh nghiệm từ âm thanh bên trong.
Ấn
độ giáo thường được biết đến với biểu tượng thần
Krisna đang thổi sáo. Chương Khải huyền
(Revelation, Apocalype) của Tân Ước kể về mặc khải của
Đức Jesus với bảy thiên thần thổi bảy cây kèn Trumpet.
Đại thừa Phật giáo trong Kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm
Phổ môn có đề cập tới Diệu âm, Phạm âm, ,
Hải triều âm, Quán thế âm, Thắng bỉ thế gian âm. Rất
nhiều tôn giáo` và giáo phái có đề cập đến âm thanh bên
trong với những từ khác nhau như: Naad, Akash
Bani, Sruti (trong Vedanta) hoặc Nada, Udgit (trong Upanisad) hoặc
Kalma (trong kinh Qur’an) hoặc Music
of the sphere (Pythagoras).
Ánh sáng
bên trong-The inner lights
Cũng
như âm thanh, ánh sáng cũng là sóng. Ai cũng biết về sóng
ánh sáng, về sự tương ứng giữa màu sắc với tần số
sóng. Trong thiền định ta có thể đột nhiên thấy xuất hiện
ánh sáng. Sự cảm nhận ánh sáng trong thiền định có lẽ
khó hơn so với sự cảm nhận âm thanh. Theo kinh nghiệm của
tôi, ánh sáng dễ xảy ra khi thiền nhắm mắt. Thoạt đầu
vùng đen tối lộn xộn trước mắt ta từ từ trở nên đen
tuyền và mịn màng như một khối đồng nhất (homogeneous),
sau đó dần dần có những chấm sáng lóe lên. Có thể ánh
sáng có nhiều hình dạng hoặc nhiều màu sắc khác nhau. Đôi
khi ta có thể cảm nhận như có hai luồng sáng phát ra từ
hai đuôi mắt phía ngoài (phía thái dương). Cũng được coi
như là cảm nhận ánh sáng nếu ta bỗng chợt nhìn thấy một
hình ảnh hoặc một khung cảnh nào đó với những cường
độ sáng khác nhau. Có những phân loại cường độ ánh sáng
trong thiền định như: Bóng tối, những điểm ánh sáng lóe,
ánh sáng đêm trăng, ánh sáng mặt trời… Một người rất
thân của tôi ngồi thiền trong bóng tối bỗng thấy quanh mình
là ánh sáng rất sáng, dường như có thể đọc sách được.
Bằng thiền định sâu, khi quay về được với bản thể sóng
của mình, ta có thể cảm nhận âm thanh hay ánh sáng. Ngay thời
điểm giác ngộ cũng có biểu hiện ánh sáng với cường độ
cao. Khi Jean Baptist làm phép nước, Jesus Christ cảm nhận một
làn ánh sáng từ trời cao vụt xuống ngài, Tân ước ẩn dụ
là… giống như con chim bồ câu trắng đang lao xuống. Tuy nhiên
một blog friend của tôi kể rằng trong lúc tâm hồn đau khổ
cùng cực bỗng nhiên cô trông thấy toàn thể căn phòng rực
sáng! Lúc đó phòng tắt đèn và cô cũng không ngồi thiền
(?).
Nghĩa
là có rất nhiều điều được kể lại về thể nghiệm ánh
sáng từ những chuyện thuộc về lịch sử tôn giáo cho đến
chuyện của người hành thiền bình thường hôm nay. Theo kinh
điển Mật tông, khi chết, lúc
cơ thể sinh học tan rã, bản thể chúng ta cũng được bộc
lộ như những vùng ánh sáng chói chang (clear light of the nature)
và những âm thanh chấn động trong cõi
trung ấm.
Surat
Shabd Yoga
Chắc
chắn sự hiểu biết về âm thanh và ánh sáng đã có từ lâu
trong truyền thống triết học và tôn giáo Ấn. Nhưng có một
phong trào thiền định về âm thanh và ánh sáng nở rộ cách
đây khoảng 700 năm gọi là Surat Shabd yoga. Shabd có nghĩa là
âm thanh (Sound) hay lời (Word). Surat
Shabd hình thành ở bắc Ấn
độ vào thế kỉ 13th, được biết đến như phong trào Sant
Mat hay Satsang. Đó là phản ứng
của tầng lớp dân dã Ấn độ trước sự kiêu ngạo độc
quyền của giai cấp Bà la môn. Người Bà la môn không chạm
vào dù là cái bóng của người ở giai cấp khác. Phong
trào Sant Mat như một cuộc cách
mạng tôn giáo phủ nhận cái bóng quá lớn của Bà la môn
tức Ấn giáo bằng những Guru nổi tiếng. Sant Mat vẫn tiếp
tục truyền thống của nó tới
tận hôm nay với rất nhiều
guru và giáo phái. Hiện nay, Surat Shabd ở Ấn độ là Radhaswami.
Surat Shabd ở Đài Loan và Việt Nam là pháp
môn quán âm. Surat Shabd ở Mỹ
là Master Path, Eckanka…Bởi
vì Surat Shabd luôn là những giáo phái bí mật (esoteric) hoặc
bán bí mật (half esoteric) cho nên nhận diện Surat Shabd là điều
không dễ.
Hình
ảnh của Sant Mat đáng lẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu họ
không đi theo bánh xe cũ của Ấn độ giáo là tính bảo thủ.
Ví dụ họ vẫn giữ những thuộc-tính xấu mà đa số các
tôn giáo đã mắc phải, thậm chí họ trở thành những giáo
phái thần bí và rất khắt khe. Ví dụ họ vẫn sử dụng
lí luận truyền thống của Vedanta là: một
người không thể giác ngộ nếu không thọ giáo với một
minh sư. Lịch sử cho thấy sa môn Siddartha đã chứng minh luận
điểm này là không đúng, là quá cố chấp. Surabd Shabd dùng
khái niệm minh sư còn sống (living master)
để giữ độc quyền sự phổ biến pháp môn. Cũng từ đó,
sự tranh dành địa vị “Minh sư tại thế” đưa đến đấu
đá tranh dành quyết liệt trong suốt lịch sử phát triển
của Sant Mat. Một số Guru vì thế phải dấu kín tông tích
của mình.
Phép
quán âm thanh và ánh sáng của Surat Shabd
-
Quán
âm thanh: Người thực hành chọn sóng chấn động bên
trong cơ thể mình làm đối tượng quán. Lắng nghe âm thanh
bên trong đầu của mình. Hiệu ứng tăng lên khi dùng ngón
cái bịt lỗ tai và trong tư thế ngồi xổm. Lúc đầu người
tập nghe được âm thanh côn trùng, lâu dần có thể nghe được
những âm thanh gọi là cao hơn như tiếng sáo, tiếng đàn harp,
tiếng kèn túi, tiếng sóng, tiếng sấm, tiếng nhạc v.v…
- Quán
ánh sáng: Người tập ngồi với tư thế thoải mái,
tập trung tư tưởng vào giữa hai chân mày, nơi được coi
là con mắt thứ ba. Sau một thời gian sẽ cảm nhận được
ánh sáng. Lấy ánh sáng bên trong này làm đối tượng quán
để tiếp tục công phu thiền định cho đến mức độ cao
hơn. Hiện tại Surat Shabd ở Việt Nam được lấy tên là “Pháp
môn Quán âm”
hoặc “Pháp môn Diệu âm”
với giáo lí cải biến cho phù hợp với Phật giáo là tôn
giáo chiếm tỉ lệ cao trong cộng đồng. Trước năm 1975 tại
miền Nam Việt Nam cũng có một pháp môn dùng kĩ thuật thiền
định bịt hai lỗ tai mà họ gọi là “soi
hồn” đó là pháp
môn vô vi sáng lập bởi ông
Đỗ Thuần Hậu, hiện tại kế tục bởi ông Lương Sĩ Hằng.
Nhận xét:
Quán
âm thanh hay ánh sáng bên trong, là quán một cảm thọ của
chính cơ thể mình, vì vậy về nguyên lý đó cũng là Vipassana.
Thực sự thì quán âm thanh bên trong, rất dễ cho người mới
thực hành thiền định, và điều này mau làm tâm ổn định.
Quán ánh sáng thì khó hơn, thậm chí có người thực hành
hơn hai mươi năm mà vẫn chẳng thấy gì, dù có được truyền
tâm ấn (initiated) , ăn chay tuyệt đối, duy trì thời gian thiền
hai tiếng rưỡi mỗi ngày! Sự thể nghiệm nhiều hay ít tùy
thuộc vào yếu tố tiên thiên của từng người (predisposed
factors) tức là yếu tố nghiệp, bộ genes của từng người.
Quan
sát cho thấy, pháp quán âm thanh và ánh sáng cũng chỉ là một
pháp tu thiền định như những pháp tu tâp khác. Nó nâng tâm
thức người thực hành lên đến mức độ nào, tùy theo căn
cơ nghiệp chướng của người đó. Ý nghĩ cho rằng âm
thanh và ánh sáng là bản thể cuối cùng của thế giới, và
đồng nghĩa với Phật tánh, thì hoàn toàn sai. Thế
giới vật chất của ta, mà bản thể có thể là ánh sáng,
nằm trong tam giới. Phật tánh thì vượt qua tam giới,
bao trùm vô lượng thế giới. Tuy nhiên phương pháp
tu tập hướng sự di chuyển nhận thức, từ cơ thể vật
chất thô đến rung động vi tế sâu hơn, như rung động cấp
tế bào, cấp phân tử, và cấp vi tế hơn nữa…thì hướng
di chuyển này là hợp lý. Nương theo âm thanh hay ánh sáng để
thâm nhập cõi giới vi tế hơn. Có lúc phải vượt qua ánh
sáng để đến những thế giới cao hơn. (Surat shabd cho rằng
cái ánh sáng mà pháp môn họ đề cập tới là loại ánh sáng
khác với ánh sáng thông thường. Đó là loại ánh sáng không
có bóng!)
Kinh
Lăng Nghiêm có nhấn mạnh đến thể nghiệm ánh sáng của
người tu thiền. Trong phần ngũ ấm ma, kinh cũng
khẳng định thể nghiệm ánh sáng là một ấn chứng bình
thường, nhưng nếu nhận đó là Phật tánh thì liền rơi vào
ma chướng. Một số người lại e sợ những thể nghiệm,
coi tất cả là ma chướng. Vì thế, vấn đề “ma chướng”,
phải nên được hiểu một cách thật rõ ràng. Có thể nói,
mọi thể nghiệm đều là ma chướng, cho tới khi bạn đạt
quả vị A nậu đa la. Nếu không dám đi qua những thể nghiệm
ấy nghĩa là bạn đứng yên một chỗ trên đường tu hành.
Đức Phật trước giây phút cuối cùng để thành quả vị
A nậu đa la mà còn phải đối mặt với bao nhiêu là thể
nghiệm ma chướng!
Kết luận:
Mục
đích bài viết là muốn:
-
Gợi ý về một sự tương đồng "có thể", giữa “bản
thể" của thế giới Vật lý với “thực tại Tâm" của người
đang trụ sâu trong thiền định ( Dĩ nhiên đây là điều còn
rất nhiều tranh luận ). Hiểu rõ về bản chất vật lý của
âm thanh và ánh sáng, cũng như thể nghiệm thiền định về
âm thanh và ánh sáng, có thể giúp người thực hành có cái
nhìn rộng rãi hơn về những hiện tượng này. Người thực
hành thiền định sẽ không quá thần bí hóa, tôn sùng hoặc
ngược lại quá e ngại hay sợ hãi những ấn chứng về âm
thanh hay ánh sáng.
- Giải
thích thể nghiệm âm thanh và ánh sáng trong ý nghĩa
khoa học của chúng. Tâm và Vật là hai thực thể không thể
tách rời. Phần sâu nhất của Tâm cũng tương ứng với phần
sâu nhất của Vật chất. Một cách đơn giản, ta có thể
mường tượng Sự chứng đắc trong thiền định như là sự
di dời ý thức từ cấp độ cơ thể đến cấp độ hạt
cơ bản và sâu xa hơn nữa.
- Giới
thiệu những phương pháp thiền định nhắm vào bản
thể vật chất của con người: sóng năng lượng. Tuy nhiên
phải hiểu rằng âm thanh hay ánh
sáng chưa phải là bản thể cuối cùng, chưa phải là Phật
tính.
- Xác
nhận tính giới hạn của tri thức khoa học.Về mặt
Vật lý, dĩ nhiên lí thuyết hạt hay dây chưa phải là điểm
dừng, nhưng dưới hằng số Planck, là một thế giới mà Vật
lý học vĩnh viễn không thể nào biết tới. Vũ trụ quan Phật
giáo quan niệm có vô lượng thế giới. Thế giới mà chúng
ta đang sống, đang tư duy triết lí, đang nghiên cứu khoa học,
chỉ là một phần của cái vô lượng thế giới. Thế giới
của chúng ta nằm trong tam giới. Để hiểu biết vượt ra
ngoài tam giới, phải nhờ đến năng lực thiền định. Trong
lịch sử, và có thể ngay trong hiện tại, đã từng có những
bậc tu hành vượt qua giới hạn của thế giới vật chất
bằng thiền định. Theo ngôn ngữ Phật giáo, đó là vượt
ra ngoài tam giới.
Phạm
Doãn
Vài
links tham khảo
Nghiên
cứu về Sant Mat, Sat Sang, Surat Shabd
Sant
Mat
Naam
or Word
Kirpal
Singh
Thakar
Singh
Guru
Nanak
Bài
Viết Liên Quan:
Pháp
Môn Quan Âm, Hoàng Liên Tâm
03-12-2008
12:12:34