|
|
c
Phật
giáo Việt Nam
bình
đẳng hay bất bình đẳng với Ni giới?
Thích
Lệ Thọ
Nhân
đọc bài viết của Thích Nữ Minh Tâm đăng trên tạm chí
Pháp Âm số 71, “MONG THAY ĐỔi CÁCH NHÌN VỀ PHÍA NI CHÚNG”.
(tháng 08/năm 2001) Nhận thấy bài viết có vài quan niệm chưa
thấu đáo và dễ dẫn đến sự ngộ nhận nên chúng tôi nhín
chút thì giờ để trao đổi vớiSư Cô Minh Tâm và cùng
quí đọc giả. Trong bài viết của Sư Cô Minh Tâm, tôi thấy
có vài vấn đề cần được đem ra trao đổi.
“…Trong
gia đình và ngoài xã hội, người nữ có một chổ đứng
quá khiêm nhường, nên khi bước vào Tăng đoàn, Ni giới vẫn
chìm trong sự thờ ơ lãnh đạm của Tăng chúng và Phật tử
qua sự câu thúc của Bát Kỉnh Pháp và tệ hơn hết là tư
tưởng “nghiệp chướng thân nữ”. Nếu cho phép đổi thì
chúng tôi xin đổi lại rằng: “Tại gia tòng phụ, Xuất gia
tòng Tăng,Tăng xử, Ni lãnh chỉ…”
Qua
nhận định trên của tác giả, tôi thấy tác giả đã so sánh
1 cách khập khiểng giữa phong tục tập quán của xã hội
Việt Nam, và đạo đức của người xuất gia rồi chụp mũ
cho là Phật giáo Việt Nam thiếu bình đẳng trong cư xử giữa
Tăng và Ni! Tôi cho ý kiến trên của tác giả là vì bức xúc
trước một vài cá nhân Tăng sĩ nào đó yếu kém về mặt
tu và học, rồi đưa Bát kỉnh pháp ra như lá “bùa hộ mạng”
để “bắt nạt” người khác là một thiểu số chứ không
thể nói “hồ đồ” như vậy được!
Vì
“bát kỉnh Pháp” là do đức Phật chế ra để có lợi cho
chư Ni chứ không phải vì Đức Phật thương “con trai”
hơn là “con gái”. Phải chăng với trí tuệ siêu việt của
Ngài như thế mà vẫn chưa thấu đáo hết mọi chuyện
để hướng dẫn cho hàng đệ tử của mình cùng đạt
một mục tiêu là giải thoát hay sao mà phải đợi đến thế
kỷ thứ 21 này có Sư Cô Minh Tâm mới nhìn ra được cái sai
của Đức Phật là“lỡ chế ra Bát kỉnh pháp” để di hại
đến ngày hôm nay! Và phải chăng Đức Phật cũng đã “lỡ
quên” để cho chư Ni giữ đến 348 giới và chư Tăng
chỉ giữ có 250 giới (theo Bắc Tông). Và phật giáo Việt
Nam bị sai luôn nên “Ni giới vẫn chìm trong sự thờ ơ lãnh
đạm của Tăng chúng và Phật tử…” ???
Tôi
cho đây là cách nhận định lệch lạc và tai hại cho chính
bản thân và những người mới bắt đầu nghiên cứu giáo
lý Phật giáo để hướng đến giải thoát! Nên rất chính
xác khi Giáo Sư Eliot cũng đã nhận định: “Lần đầu tiên
trong lịch sử thế giới, đức phật đã tuyên bố và mở
ra một con đường giải thoát mà mỗi người có thể đạt
được cho mình ngay trong đời này, tại thế gian này bằng
nỗ lực của bản thân mà không cần một sự giúp đỡ tối
thiểu nào từ các vị thần hay một vị Thượng đế. Ngài
đã kiên quyết chủ trương và áp dụng mạnh mẽ chủ thuyết
về sự tự lực, tự tin, sự thanh tịnh, sự giác ngộ, bình
ổn nội tâm, và lòng đại từ đại bi. Ngài khẩn thiết
nhấn mạnh chú trọng phát triển đến trí tuệ, vì không
có trí tuệ thì không làm sao chứng nghiệm tâm linh và an lạc
giải thoát ngay trong đời sống thường nhật mà ngôn ngữ
thế gian không làm sao đáp ứng được”. (Buddhism and Hinduism)
Thế
đấy, chỉ là một học giả sau khi nghiên cứu giáo lý của
đức Phật mà còn nhận thấy được cốt tuỷ của đạo
Phật là ở chỗ Trí tuệ và giải thoát. Vậy mà Sư cô Minh
Tâm là một hành giả lại không nhận ra, rồi chạy theo một
vài học giả nghiên cứu chưa thấu đáo và có một nhìn thiển
cận đối với Phật giáo, trong đó có quyển “Equal or Non-equalitarian
in Buddhism” của một giáo sư trường đại học Delhi! Trong
khi đó Albert Enstain đã nhận định một cách hùng hồn về
Phật giáo: “Tôn giáo của tương sẽ là một tôn giáo toàn
cầu, vượt trên mọi thần linh, giáo điều và thần học.
Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn
thiên nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát
xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trong
cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng
đủ các điều kiện ấy”. Nên các học giả có nhận định
sai và thậm chí có vo tròn bóp méo đến đâu đi nữa thì
cũng không vì thế mà Phật giáo phải nói theo cho vừa lòng
họ. Còn chuyện thân nữ có “Ngũ chướng” và “Long Nữ”
thành Phật trong phẩm hiện Bửu Tháp của Kinh Pháp Hoa là
cả một kho tàng triết lý của Phật Giáo Đại Thừa, nhằm
dẹp bỏ mọi vọng tưởng phân biệt “chấp có và chấp
không”. Nên đọc kinh điển Đại Thừa là phải biết đi
tìm nghĩa lý uyên thâm, chứ không phải “cày bừa” cho từng
chữ nát ra để tìm nghĩa lý trong đó, thì có khác gì Tổ
Đơn Hà chẻ tượng Phật tìm Xá-Lợi!
Trở
lại vấn đề, từ dựa vào những quan niệm lệch lạc trên
nên Sư Cô đã cảm nhận là chư Ni Việt Nam đã và đang
sống trong thời kỳ đen tối của Phật giáo Việt Nam! “điểm
lại suốt chiều dài lịch sử nhân loại cho đến ngày nay,
giới nữ đã lãnh chịu trăm bề cai đắng khổ nhọc, ngay
khi bước chân vào Ni đoàn cũng chưa hẳn xoá hết những bất
công ngày nào của tập tục để lại…” Tập tục nào bất
công ở trong Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói
riêng? Phải chăng tác giả muốn đề cập “Bát Kỉnh Pháp”
là tập tục bất công? Nên tác giả lạiđi xa hơn “Dựa
trên kinh nghiệm xác thực và mục kích những thảm kịch gia
đình xã hộitrong thời gian tu học tại Ấn Độ, chúng tôi
không khỏi bàng hoàng đau xót thương cho thân phận phụ nữ
và chạnh lòng nghĩ đến hiện trạng Ni giới Việt Nam” Phải
chăng tác giả đang là người mắc một chứng bệnh hoang tưởng,
nên so sánh 2 vấn đề chẳng ăn nhập vào đâu! Một đàng
là do những định kiến của xã hội và tôn giáo thống trị
gây ra trạng thái bất bình đẳng cho xã hội, một đàng là
năm lần bảy lượt tha thiết xin được gia nhập Tăng đoàn
của đức Phật và tự nguyện gìn giữ “Bát Kỉnh Pháp”
để có lợi cho chính mình được an lạc và giải thoát. Nên
chính tác giả cũng đã thừa nhận ở một đoạn khác “
Trên 2500 năm trước, Đức Phật chế định ra Bát Kỉnh Pháp
khôngphải dùng để phân biệt kỳ thị giữa Tăng và Ni mà
thực ra dùng để đối trị tánh cống cao ngã mạn của các
bậc Vương phi, công chúa khi xuất gia đầu phật…” Nên
vào thời ấy, hầu nhưtoàn bộ chư Ni đều đạt đạo quả
giải thoát. (xin xem trưởng lão Ni kệ) Còn ở Việt Nam ngày
naythì có quí Sư Trưởng Huê Lâm, Từ Nghiêm, Dược Sư, Phước
Hải, Phước Hoà, Ni Viện Diệu Đức Nha Trang, Huế và Ni Sư
Trí Hải, Sư Cô Diệu Thuỷ…là những bậc tòng lâm thạch
trụ của của Ni giới và đã đạo tạo ra vô số chư Ni tài
giỏi đã và đang phục vụ cho Phật giáo Việt Nam.
Như
vậy, suốt chiều dài lịch sử của Ni giới từ Kiều
Đàm Di Mẫu cho đến hiện nay chẳng có aithan phiền vì sự
hiện hữu của Bát Kỉnh Pháp đã làm cản trở họ đi vào
Thánh quả, mà chỉ có Sư Cô Minh Tâm là thấy chướng ngại,
thấy Tăng sĩ có cái nhìn “miệt thị Ni chúng mà ngay cả
các Phật Tử tại gia cũng theo gót chư Tăng xem nhẹ các Ni
Cô không kém; nhất là các vị cư sĩ có bằng cấp học thức
thế gian và bảo thủ trọng nam khinh nữ, trọng Tăng khinh
Ni…” Vào trường hợpnày, trong nhà Thiền có câu rất hay
“phản quan tự kỷ” tức là hãy nhìn vào thực tại, hãy
nhìn vào chính mình. Tôi tạm mượn nghĩa bóng của câu trên
để làm rõ ý, tại sao những trí thức Phật tử coi thường
quí Ni Cô mà cụ thể là Sư Cô minh Tâm, phải chăng không
có cái gì để cho họ sinh tâm cung kính? Trong khi tu sĩ phải
là “bậc thiên nhân chi đạo sư” mà chẳng chịu nhìn lại
chính mình rồiđi trách cứ mọi người sao chẳng “tung hô
vạn tuế”, trong khi “tôi” cũng đầu tròn áo vuông như
bao nhiêu tu sĩ khác! Hoặc nói theo tư tưởng của Khổng Tử:
“tiểu nhân trách người, trung nhân trách mình và đại nhân
chẳng trách mình và người”. Hay thật, những câu nói nhắc
cho mọi người luôn luôn lúc nào cũng phải tự quán xét lại
chính mình để xem mình đang ở đâu mà tiếp tục hoàn thiện!
Tôi
mượn lời của một học giả người Anh, giáo sư tiến sĩ
Edward Conze, đã phát biểu để thay cho lời kết: “Càng đi
sâu vào giáo lý Phật giáo, tôi càng thấy thích thú, vì tôi
đã tìm thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ qua kinh Bát Nhã. Sau 40
năm nghiên cứu, đã mở ra trong tôi một cái nhìn trực quan
sinh động, mà không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào!”
Thiết nghĩ, giáo lý Phật giáo như mặt trăng vẫn hằng hữu
chiếu sáng trên mặt hồ, nhưng chúng ta không nhìn thấy trăng
phản chiếu dưới đáy hồ, vì mặt hồ dỡn sóng. Khi nào
mặt hồ phẳng lặng, thì sẽ nhìn thấy trăng dưới hồ!
Có lẽ Sư Cô Minh Tâm lười làm bài tập, (nghĩa là không
chịu tìm hiểu một vấn đề cho cặn kẽ, vì vậy, mới nhận
định quá đơn giản về giáo lý Phật giáo), nên nhìn mọi
sự vật hiện tượng đều bị khúc xạ.
Delhi
08/06/2002
Lệ
Thọ
 |