THƯ VIỆN HOA SEN  

[SEARCH]   [ENGLISH]   [VISCII FONT]
c
HOME KINH ÐIỂN GIỚI LUẬT LUẬN GIẢI  PHẬT HỌC   THIỀN NGUYÊN THỦY   THIỀN TỔ SƯ  NIỆM PHẬT  SỬ PHẬT GIÁO   PHÁP LUẬN  TỰ ÐIỂN PHẬT HỌC  DINH DƯỠNG CHAY  TRUYỆN NGẮN  DIỄN ÐÀN PHẬT PHÁP INDEX TÁC GIẢ 
c
c
Mục Lục Tổng Quát
Lời giới thiệu 1. Hòa Thuợng Thích Ðức Nhuận
Lời giới thiệu 2. Thuợng Tọa Thích Bảo Lạc
Lời thưa của soạn giả (Thích Nguyên Tạng)
I. XỨ SỞ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
II. NHÂN VẬT PHẬT GIÁO THẾ GIỚI 
III. SỰ KIỆN PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
301-Kinh Pháp Hoa duợc dịch sang tiếng  Nga 
302-Kinh Pháp Hoa duợc dịch sang tiếng Pháp
303-Phật tử ở Nga với công tác xây Chùa 
304-Công trình xây dựng Tuợng Ðài Phật Di Lặc tại Ấn Ðộ.
305-Tuợng Phật cao nhất Thế Giới
306-Niềm vui của Ni giới Tây Tạng
307-Hết bệnh ung thu nhờ Tu Thiền
308-Về một tổ chức Phật Giáo Quốc Tế mới ra dời
309-Ðại hội Tang Già Thế Giới lần thứ 7
310-Ðại hội Liên hữu Phật Giáo Thế Giới lần 20
311-Ðại hội Liên hữu Phật Giáo Thế Giới lần 21
312-Ðại hội Phật Giáo thế giới tại Ðông Á
313-Phật Giáo Nhật bản tổ chức chuyến di hành huong Thế Giới vì Tôn giáo và hòa bình
314-Ðức Ðạt Lai Lạt Ma truyền dạy Pháp Mật Tông Kalachakra tại Tây Ban Nha. 
315-Lễ hội hoa dang tại Ấn Ðộ.
316-CD-Rom Tam Tạng Kinh Ðiển dầu tiên trên Thế Giới
317-Làm thế nào dể phát triển Phật Giáo ở Phuong Tây ?
318-Bảo tháp Borobudur, một kỳ quan của Phật Giáo Thế Giới
319-Trách nhiệm bảo vệ môi truờng trong hành tinh của chúng ta
320-Bồ Tát Quan Âm trong tín nguỡng của nguời Nhật Bản
IV. PHỤ LỤC
c

 

c
PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
Soạn Giả: Thích Nguyên Tạng
Tu Viện Quảng Ðức, Australia
Niềm Vui 
Cho Ni Giới Tây Tạng

Một học giả Phật giáo, dịch giả và tác giả người Hoa Kỳ, cô Besty Napper đã từ bỏ công việc dạy học của mình ở Đại học đường Stanford vào năm 1990 để đến làm việc tại Dharamsala - Ấn Độ, giúp đỡ sư bà Rinchen Khadro, điều hành một kế hoạch xây dựng một ni viện và một trường Phật học cho ni giới Tây Tạng. "Tôi có cái may mắn mà người phụ nữ Tây Tạng không có được", cô đã trả lời phỏng vấn với sư cô Robina Courtin vào tháng sáu trong chuyến đi ngắn trở lại Hoa Kỳ để in lịch Tây Tạng năm 1996. "Tôi thật sự muốn làm một công việc gì đó để giúp thay đổi hoàn cảnh sống của ni giới Tây Tạng, như là một phương cách để đền đáp lại". 

Cô Besty đậu bằng Tiến sĩ Phật học (Ph.D in Buddhist Studies) tại trường đại học Virginia vào năm 1985. Sau đó cô lưu lại dạy Tạng ngữ cho đại học này và có một năm làm giảng viên cho khoa tôn giáo học ở trường đại học Stanford. 

Tại sao cô bỏ nghề dạy học của mình ? 

  • Tôi thật sự không thích thú đời sống học viện ở Stanford. Họ yêu cầu tôi dạy về Khổng giáo và Lão giáo và một số môn khác. Nhưng tôi thì không biết gì về các đề tài này. Trên thực tế, tôi đang làm một công việc mà nhiều người có thể làm được. Cái tôi thích là tôi muốn đem sự hiểu biết và tài năng của mình để giúp đỡ cho ni giới Tây Tạng. 
  • Tôi cho rằng tôi đã thực sự may mắn, vì lúc đó có nhiều học giả nổi tiếng từ truyền thống Phật giáo phái Gelugpa (phái Hoàng Mao thuộc PG Tây Tạng) đến đại học Virginia trong lúc tôi đang làm việc ở đó và tôi đã có cơ hội để học Phật từ các vị ấy, vì thế tôi đã được sự giáo dục Phật giáo hoàn hảo. 
  • Mặt khác tôi nhận ra rằng mình có nhiều thuận lợi mà người phụ nữ Tây Tạng không có được. Vì vậy tôi thật sự muốn làm một công việc gì đó để giúp thay đổi hoàn cảnh sống của ni giới Tây Tạng như là một phương cách để đền đáp. Thêm vào đó tôi lại đạt được một nền học vấn của một tăng sĩ Phật giáo và đã bị ảnh hưởng rất mạnh mẽ bởi truyền thống này. Nên tôi quan tâm tìm hiểu nhiều hơn về Ni giới, vì thế tôi bắt đầu nghiên cứu xem những gì đang xảy ra đối với họ. Tôi đã nhanh chóng khám phá rằng có nhiều nhu cầu không được đáp ứng và có nhiều việc mà tôi có thể góp sức để đáp ứng lại nhu cầu kia. 
  • Vào mùa xuân năm 1990, sau khi rời đại học Stanford, tôi đã đến Ấn Độ và lưu trú ở Ni viện Ganden Choling ở Dharamsala (Bắc Ấn). Tôi quan sát điều kiện sống của chư ni ở đây và khám phá ra cái dự án của chư ni hầu như không hoạt động. Một nhóm chúng tôi tập hợp lại và quyết định làm việc cật lực để nó hoạt động trở lại. Chúng tôi hình thành ngay một kế hoạch là xây dựng một tu viện và một ngôi trường Phật học. 
  • Chúng tôi thực sự tập trung nhiều vào việc xây dựng ngôi trường, chúng tôi đã cung cấp một số tiền để mua miếng đất; việc mua đang xúc tiến, thì thình lình có một số đông Ni sinh kéo đến từ Tây Tạng vào đầu năm 1991. Họ dựng lều ở tạm bên ngoài tu viện. Vì vậy chúng tôi phải lập tức ngưng công việc dài lâu kia để tập trung vào việc lo ăn ở cho tất cả những người này. 
  • Có quá nhiều công việc phải làm lại từ đầu. Phần lớn trong số họ đều mù chữ và chúng tôi phải cung cấp cho họ một chương trình giáo dục cơ bản. 
Chương trình có đào tạo cho Ni sinh trở thành giáo viên không? 
  • Có chứ, mục tiêu được tập trung nhiều vào việc ấy: có chương trình dạy về Trụ trì Ni viện, có lớp dạy về phương pháp phục vụ cộng đồng với những vai trò khác nhau như giáo viên, nhân viên y tế, cũng có lớp đào tạo cho họ hoạt động tích cực hơn trong hội chúng của họ. Nói chung không có việc gì ngăn cản lại vấn đề đào tạo Ni sinh trở thành giáo viên ngoại trừ chính họ thiếu tự tin mà thôi. 
Còn các thói quen cũ và quan điểm bảo thủ thì sao? 
  • Cũng có, tuy nhiên nó có thể được khắc phục bởi việc học. Nếu chúng ta suy nghĩ về một việc mà 30 năm trước phụ nữ không được đi học và bây giờ đã thay đổi hẳn, nam nữ đều bình đẳng trong học hành, thậm chí có thể 50% phụ nữ là giáo viên. Nói chung không có gì ngăn cản được họ. Tuy vậy, ở một số tu viện vẫn còn giữ quan niệm bảo thủ, họ đặc biệt đào sâu vào việc đào tạo cho tăng giới, vì thế điều này dẫn đến việc thay đổi rất chậm. Nhưng tôi nghĩ nó sẽ xảy ra. Đức Đạt Lai Lạt Ma hoàn toàn ủng hộ việc này, do đó tôi tin chắc là sẽ có sự thay đổi. 
Cô là đồng chủ nhiệm Dự án với Sư bà Rinchen Khadro?
  • Đúng vậy, tuy nhiên Sư bà là người đứng đầu toàn bộ và là người gây quỹ chính cho công trình này. Tôi đã được gây ấn tượng mạnh mẽ từ nơi bà. Bà là người cống hiến hết sức mình cho Đạo pháp. 
  • Khi Sư bà được bầu làm Bộ trưởng giáo dục trong chính quyền lưu vong (tại Ấn Độ). Bà buộc phải thôi giữ các chức vụ ở các tổ chức phi chính phủ. Tuy nhiên, chư Ni thương kính bà, nên đã thỉnh cầu Đức Đạt Lai Lạt Ma cho phép bà được ở lại trong dự án này và Ngài đã chấp thuận. 
Chắc hẳn chư ni sinh xem cô là một tấm gương tốt? 
  • Ổ, nó chắc chắn là trao cho họ một tấm gương của một người làm được nhiều công việc. Tuy nhiên tất cả những kinh nghiệm học vấn của tôi thì không có nghĩa gì đối với họ. 
Chư ni ở đó trẻ hay già? họ đến từ Tây Tạng hay là người địa phương (Ấn Độ)? 
  • Có người lớn tuổi, nhưng phần lớn đều trẻ, từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi. Họ đến từ Tây Tạng, hoặc họ làm chính trị, hoặc bỏ trốn hay chỉ vì không chịu nổi sức ép của điều kiện sống ở Tây Tạng mà họ tìm đến. 
  • Sức mạnh và lòng dũng cảm của họ tỏ ra để đến được đất Ấn là một điều đáng khâm phục. Họ không được học hành hoặc biết bất cứ một ngành nghề nào. Do vậy có nhiều điều để huấn luyện cho họ, nhiều việc họ cần phải học cấp tốc. 
  • Nhiều người trong số họ cho thấy sức mạnh khi quyết định để trở thành nữ tu. Tôi không biết rằng tất cả họ có biết trước những gì sẽ xảy ra khi họ trở thành nữ tu hay không, nhưng tôi thấy họ thực sự cố gắng. Họ cho rằng người Tây phương nhanh chóng phát nguyện đi tu rồi cũng nhanh chóng từ bỏ, và họ không có sự chọn lựa tương tự. - một phương diện nào đó, điều này giúp cho họ dai sức hơn trên đường tu của mình. 
Có một sự nhận thức nào giữa các nữ tu Tây Tạng về việc thọ đại giới không? 
  • Không, không nhiều, chắc chắn là không có đối với chư ni ở ni viện Dolma Ling. Họ có nhiều vấn đề khác để đối phó hơn, họ đang vật lộn với việc ăn, ở và học hành. Do vậy vấn đề thọ giới cũng không khác mấy. 
  • Điều đó được quan tâm nhiều hơn đối với chư ni ở ni viện Ganden Choling, vì các vị tu lâu hơn và có hiểu biết nhiều hơn. Trong thực tế thì họ không thể hoàn tất việc học nếu họ không thọ đại giới, và họ không thể trở thành một Geshe (học vị Tiến sĩ trong PG Tây Tạng) được. Đó là điều mà tôi không được biết từ trước. 
Kinh phí cho dự án xây dựng có lớn không? 
  • Cho đến nay có lẽ chúng tôi đã chi khoảng 250.000 đô la cho công tác xây dựng, và chúng tôi đang cần thêm khoảng 500.000 đô la nữa. 
Ngân quỹ này lấy từ đâu?
  • Khắp mọi nơi, mỗi người một ít. 
Dư án có được ủng hộ nhiều không? 
  • Có rất nhiều sự quan tâm và ủng hộ. Nhiều phụ nữ Tây phương đang để tâm giúp đỡ ni chúng Tây tạng. Chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ từ bên trong cộng đồng Tây Tạng, mặc dù mức độ ủng hộ dành cho phụ nữ có phần ít hơn mức độ dành cho nam giới. Nhưng đó vẫn là niềm vui cho Ni giới Tây Tạng. 
  • Nhiều phụ nữ Tây phương đến thỉnh ý Đức Đạt Lai Lạt Ma là tại sao các nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng không tạo những điều kiện tốt hơn cho Ni giới? Và họ nghĩ rằng Ngài sẽ tung "chiếc gậy thần" để hóa phép cho tình hình được tốt hơn. Nhưng thực tế điều đó đã không xảy ra giống như thế mà lẽ ra nó phải được như thế. Trên cơ bản thì một vài quan điểm cho rằng người phụ nữ phải tự lo liệu lấy. Và điều đó hiện đang xảy ra. 
Theo Tạp chí MANDALA, tháng 10/1995
 
 
[LINKS] [PHẬT GIÁO THẾ GIỚI] [NHẠC PHẬT GIÁO] [PHÁP THOẠI] [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL: banbientap@thuvienhoasen.org