|
|
c
PHẬT
GIÁO THẾ GIỚI
Soạn
Giả: Thích Nguyên Tạng
Tu
Viện Quảng Ðức, Australia
 |
Niềm
Vui
Cho
Ni Giới Tây Tạng
Một học
giả Phật giáo, dịch giả và tác giả người Hoa Kỳ, cô
Besty Napper đã từ bỏ công việc dạy học của mình ở Đại
học đường Stanford vào năm 1990 để đến làm việc tại
Dharamsala - Ấn Độ, giúp đỡ sư bà Rinchen Khadro, điều hành
một kế hoạch xây dựng một ni viện và một trường Phật
học cho ni giới Tây Tạng. "Tôi có cái may mắn mà người
phụ nữ Tây Tạng không có được", cô đã trả lời phỏng
vấn với sư cô Robina Courtin vào tháng sáu trong chuyến đi
ngắn trở lại Hoa Kỳ để in lịch Tây Tạng năm 1996. "Tôi
thật sự muốn làm một công việc gì đó để giúp thay đổi
hoàn cảnh sống của ni giới Tây Tạng, như là một phương
cách để đền đáp lại".
Cô Besty đậu
bằng Tiến sĩ Phật học (Ph.D in Buddhist Studies) tại trường
đại học Virginia vào năm 1985. Sau đó cô lưu lại dạy Tạng
ngữ cho đại học này và có một năm làm giảng viên cho khoa
tôn giáo học ở trường đại học Stanford.
Tại
sao cô bỏ nghề dạy học của mình ?
-
Tôi thật sự
không thích thú đời sống học viện ở Stanford. Họ yêu cầu
tôi dạy về Khổng giáo và Lão giáo và một số môn khác.
Nhưng tôi thì không biết gì về các đề tài này. Trên thực
tế, tôi đang làm một công việc mà nhiều người có thể
làm được. Cái tôi thích là tôi muốn đem sự hiểu biết
và tài năng của mình để giúp đỡ cho ni giới Tây Tạng.
-
Tôi cho rằng
tôi đã thực sự may mắn, vì lúc đó có nhiều học giả
nổi tiếng từ truyền thống Phật giáo phái Gelugpa (phái Hoàng
Mao thuộc PG Tây Tạng) đến đại học Virginia trong lúc tôi
đang làm việc ở đó và tôi đã có cơ hội để học Phật
từ các vị ấy, vì thế tôi đã được sự giáo dục Phật
giáo hoàn hảo.
-
Mặt khác tôi
nhận ra rằng mình có nhiều thuận lợi mà người phụ nữ
Tây Tạng không có được. Vì vậy tôi thật sự muốn làm
một công việc gì đó để giúp thay đổi hoàn cảnh sống
của ni giới Tây Tạng như là một phương cách để đền
đáp. Thêm vào đó tôi lại đạt được một nền học vấn
của một tăng sĩ Phật giáo và đã bị ảnh hưởng rất mạnh
mẽ bởi truyền thống này. Nên tôi quan tâm tìm hiểu nhiều
hơn về Ni giới, vì thế tôi bắt đầu nghiên cứu xem những
gì đang xảy ra đối với họ. Tôi đã nhanh chóng khám phá
rằng có nhiều nhu cầu không được đáp ứng và có nhiều
việc mà tôi có thể góp sức để đáp ứng lại nhu cầu
kia.
-
Vào mùa xuân
năm 1990, sau khi rời đại học Stanford, tôi đã đến Ấn Độ
và lưu trú ở Ni viện Ganden Choling ở Dharamsala (Bắc Ấn).
Tôi quan sát điều kiện sống của chư ni ở đây và khám
phá ra cái dự án của chư ni hầu như không hoạt động. Một
nhóm chúng tôi tập hợp lại và quyết định làm việc cật
lực để nó hoạt động trở lại. Chúng tôi hình thành ngay
một kế hoạch là xây dựng một tu viện và một ngôi trường
Phật học.
-
Chúng tôi thực
sự tập trung nhiều vào việc xây dựng ngôi trường, chúng
tôi đã cung cấp một số tiền để mua miếng đất; việc
mua đang xúc tiến, thì thình lình có một số đông Ni sinh
kéo đến từ Tây Tạng vào đầu năm 1991. Họ dựng lều ở
tạm bên ngoài tu viện. Vì vậy chúng tôi phải lập tức ngưng
công việc dài lâu kia để tập trung vào việc lo ăn ở cho
tất cả những người này.
-
Có quá nhiều
công việc phải làm lại từ đầu. Phần lớn trong số họ
đều mù chữ và chúng tôi phải cung cấp cho họ một chương
trình giáo dục cơ bản.
Chương
trình có đào tạo cho Ni sinh trở thành giáo viên không?
-
Có chứ, mục
tiêu được tập trung nhiều vào việc ấy: có chương trình
dạy về Trụ trì Ni viện, có lớp dạy về phương pháp phục
vụ cộng đồng với những vai trò khác nhau như giáo viên,
nhân viên y tế, cũng có lớp đào tạo cho họ hoạt động
tích cực hơn trong hội chúng của họ. Nói chung không có việc
gì ngăn cản lại vấn đề đào tạo Ni sinh trở thành giáo
viên ngoại trừ chính họ thiếu tự tin mà thôi.
Còn các
thói quen cũ và quan điểm bảo thủ thì sao?
-
Cũng có, tuy
nhiên nó có thể được khắc phục bởi việc học. Nếu chúng
ta suy nghĩ về một việc mà 30 năm trước phụ nữ không được
đi học và bây giờ đã thay đổi hẳn, nam nữ đều bình
đẳng trong học hành, thậm chí có thể 50% phụ nữ là giáo
viên. Nói chung không có gì ngăn cản được họ. Tuy vậy,
ở một số tu viện vẫn còn giữ quan niệm bảo thủ, họ
đặc biệt đào sâu vào việc đào tạo cho tăng giới, vì
thế điều này dẫn đến việc thay đổi rất chậm. Nhưng
tôi nghĩ nó sẽ xảy ra. Đức Đạt Lai Lạt Ma hoàn toàn ủng
hộ việc này, do đó tôi tin chắc là sẽ có sự thay đổi.
Cô là
đồng chủ nhiệm Dự án với Sư bà Rinchen Khadro?
-
Đúng vậy,
tuy nhiên Sư bà là người đứng đầu toàn bộ và là người
gây quỹ chính cho công trình này. Tôi đã được gây ấn tượng
mạnh mẽ từ nơi bà. Bà là người cống hiến hết sức mình
cho Đạo pháp.
-
Khi Sư bà được
bầu làm Bộ trưởng giáo dục trong chính quyền lưu vong (tại
Ấn Độ). Bà buộc phải thôi giữ các chức vụ ở các tổ
chức phi chính phủ. Tuy nhiên, chư Ni thương kính bà, nên đã
thỉnh cầu Đức Đạt Lai Lạt Ma cho phép bà được ở lại
trong dự án này và Ngài đã chấp thuận.
Chắc hẳn
chư ni sinh xem cô là một tấm gương tốt?
-
Ổ, nó chắc
chắn là trao cho họ một tấm gương của một người làm
được nhiều công việc. Tuy nhiên tất cả những kinh nghiệm
học vấn của tôi thì không có nghĩa gì đối với họ.
Chư ni
ở đó trẻ hay già? họ đến từ Tây Tạng hay là người
địa phương (Ấn Độ)?
-
Có người lớn
tuổi, nhưng phần lớn đều trẻ, từ mười tám đến hai
mươi lăm tuổi. Họ đến từ Tây Tạng, hoặc họ làm chính
trị, hoặc bỏ trốn hay chỉ vì không chịu nổi sức ép của
điều kiện sống ở Tây Tạng mà họ tìm đến.
-
Sức mạnh và
lòng dũng cảm của họ tỏ ra để đến được đất Ấn
là một điều đáng khâm phục. Họ không được học hành
hoặc biết bất cứ một ngành nghề nào. Do vậy có nhiều
điều để huấn luyện cho họ, nhiều việc họ cần phải
học cấp tốc.
-
Nhiều người
trong số họ cho thấy sức mạnh khi quyết định để trở
thành nữ tu. Tôi không biết rằng tất cả họ có biết trước
những gì sẽ xảy ra khi họ trở thành nữ tu hay không, nhưng
tôi thấy họ thực sự cố gắng. Họ cho rằng người Tây
phương nhanh chóng phát nguyện đi tu rồi cũng nhanh chóng từ
bỏ, và họ không có sự chọn lựa tương tự. - một phương
diện nào đó, điều này giúp cho họ dai sức hơn trên đường
tu của mình.
Có một
sự nhận thức nào giữa các nữ tu Tây Tạng về việc thọ
đại giới không?
-
Không, không
nhiều, chắc chắn là không có đối với chư ni ở ni viện
Dolma Ling. Họ có nhiều vấn đề khác để đối phó hơn,
họ đang vật lộn với việc ăn, ở và học hành. Do vậy
vấn đề thọ giới cũng không khác mấy.
-
Điều đó được
quan tâm nhiều hơn đối với chư ni ở ni viện Ganden Choling,
vì các vị tu lâu hơn và có hiểu biết nhiều hơn. Trong thực
tế thì họ không thể hoàn tất việc học nếu họ không
thọ đại giới, và họ không thể trở thành một Geshe (học
vị Tiến sĩ trong PG Tây Tạng) được. Đó là điều mà tôi
không được biết từ trước.
Kinh phí
cho dự án xây dựng có lớn không?
-
Cho đến nay
có lẽ chúng tôi đã chi khoảng 250.000 đô la cho công tác xây
dựng, và chúng tôi đang cần thêm khoảng 500.000 đô la nữa.
Ngân quỹ
này lấy từ đâu?
-
Khắp mọi nơi,
mỗi người một ít.
Dư án
có được ủng hộ nhiều không?
-
Có rất nhiều
sự quan tâm và ủng hộ. Nhiều phụ nữ Tây phương đang để
tâm giúp đỡ ni chúng Tây tạng. Chúng tôi cũng nhận được
sự ủng hộ từ bên trong cộng đồng Tây Tạng, mặc dù mức
độ ủng hộ dành cho phụ nữ có phần ít hơn mức độ dành
cho nam giới. Nhưng đó vẫn là niềm vui cho Ni giới Tây Tạng.
-
Nhiều phụ
nữ Tây phương đến thỉnh ý Đức Đạt Lai Lạt Ma là tại
sao các nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng không tạo những
điều kiện tốt hơn cho Ni giới? Và họ nghĩ rằng Ngài sẽ
tung "chiếc gậy thần" để hóa phép cho tình hình được tốt
hơn. Nhưng thực tế điều đó đã không xảy ra giống như
thế mà lẽ ra nó phải được như thế. Trên cơ bản thì
một vài quan điểm cho rằng người phụ nữ phải tự lo liệu
lấy. Và điều đó hiện đang xảy ra.
Theo
Tạp chí MANDALA, tháng 10/1995

[LINKS]
[PHẬT GIÁO THẾ GIỚI]
[NHẠC PHẬT GIÁO] [PHÁP
THOẠI] [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL:
banbientap@thuvienhoasen.org
|