HENRY
STEEL OLCOTT VÀ PHONG TRÀO
PHỤC
HƯNG PHẬT GIÁO TẠI TÍCH LAN
Hàng năm
vào ngày 17 tháng hai, trên khắp nước Tích Lan các tự viện
đều long trọng tổ chức lễ kî ông Henry Steel Olcott, một
anh hùng Phật tử người Hoa Kỳ. Trong học đường trên khắp
quốc gia này cũng tổ chức lễ kỷ niệm về Ông.
Chân
dung ông Henry Steel Olcott ( 1832-1907)
Các sử gia
vô tư mô tả ông Henry Steel Olcott ( 1832-1907) như là một người
khai sáng và làm chủ tịch Hội Linh Trí (Theosophical Society),
một trong những hội Phật giáo (PG) đầu tiên ở Hoa Kỳ và
ông cũng là một người đóng góp quan trọng đối với phong
trào phục hưng PG cả ở Ấn Độ lẫn Tích Lan vào cuối thế
kỷ thứ 19. Thiếu khách quan một chút, các nhà quan sát xếp
ông vào vị trí trung tâm của lịch sử thiêng liêng. Một
vị thủ tướng của Tích Lan từng ca ngợi Olcott như sau: "Đó
là một trong những vị anh hùng đấu tranh cho nền độc lập
của chúng ta và là một người tiên phong trong phong trào phục
hưng nền văn hóa và tôn giáo ngày nay".
Tại quê
hương của mình, Olcott bị đối xử một cách thiếu tử tế.
Tờ New York Times viết rằng suốt đời ông như là "một kẻ
nổi loạn, một người mất hết lý trí, người mắc chứng
bệnh điên vô hại, không thể chữa khỏi".
Xuất thân
từ Thanh giáo, Henry Steel Olcott sinh năm 1832 trong một gia đình
theo đạo Tin Lành ở Orange, bang New Jersey, Hoa Kỳ. Bỏ ngang
đại học (nay là Đại học New York), Olcott đi lên miền Tây
để lao theo những cuộc phiêu lưu tuổi trẻ. Tại Ohio,ở
tuổi hai mươi, ông bỏ Tin Lành theo Thuyết Duy linh, chẳng
bao lâu sau đó, ông tổ chức chống lại nhiều thứ như chống
kỳ thị nô lệ, tổ chức cải cách nông nghiệp, đòi quyền
phụ nữ, lập hội người kiêng rượu. Ông làm việc tại
một trang trại thí nghiệm, phục vụ một thời ngắn trong
quân đội, rồi có một lúc ông làm thanh tra trong một Ủy
ban đặc biệt xem xét hồ sơ về vụ ám sát cố Tổng thống
A. Lincoln (1809 - 1865). Nhưng cuối cùng ông đã trở về New
York và sống bằng nghề viết báo, rồi làm luật sư trong
ngành bảo hiểm. Vào năm 1874, trong khi viết một loạt bài
về tinh thần vật chất hóa tại một trang trại thuộc vùng
Chittenden, tiểu bang Vermont, ông đã gặp và kết hôn với bà
Helena Petrovna Blavatsky, một thầy thuốc chuyên khoa về bệnh
mắt người Nga. Một năm sau, ông và bà Blavatsky cùng sáng
lập Hội LinhTrí (HLT), một tổ chức mà về sau đóng một
vai trò chính giúp người Hoa Kỳ đến với Đạo Phật của
phương Đông.
Năm 1879,
ông và bà Blavatsky du lịch đến Ấn Độ. Sau đó họ quyết
định viếng thăm Tích Lan. Họ đến Colombo vào ngày 16 tháng
năm năm 1880. Rõ ràng danh tiếng của họ đã lan đến trước
họ, vì họ được tiếp đón mà về sau này Olcott miêu tả
lại như là một cuộc tiếp đón của Hoàng gia.
"Một đám
đông chờ đợi chúng tôi và họ đồng thanh hô to "Sadhu, Sadhu"
để chào đón chúng tôi. Một tấm vải trắng trải dài chờ
cho chúng tôi bước tới một chiếc xe ngựa đã đợi saün
và có hàng ngàn lá cờ vẫy chào chúng tôi".
Sau cuộc
đón rước đó vào ngày 25 tháng năm, tại tu viện Wijananda
ở Galle, Olcott và Blavatsky đảnh lễ trước một pho tượng
Phật khổng lồ và tham dự lễ quy y Tam Bảo. Như vậy, hai
vị này là người Hoa Kỳ và người Châu Âu đầu tiên công
khai và trịnh trọng trở thành tín đồ theo Đạo Phật. Olcott
giải thích tại sao ông theo Đạo Phật: "Nếu Đạo Phật chứa
đựng một giáo thuyết độc đoán mà buộc chúng tôi phải
chấp nhận, thì chúng tôi sẽ không thọ Tam quy ngũ giới và
theo Đạo Phật trong mười phút. Đạo Phật của chúng ta do
Đức Đạo Sư Thích Ca khai sáng, là Đạo của trí tuệ, là
linh hồn của tất cả những tín ngưỡng thế giới cổ đại".
Trong chuyến
viếng thăm đầu tiên này đến Tích Lan, Olcott đã thành lập
được bảy chi nhánh thuộc HLT và một Hội Linh Trí Phật
giáo ( Buddhist Theosophical Society) tại Colombo. Ông giải thích
rõ ràng về mô hình công việc của ông làm ở Á Châu là
tương tự như kiểu mẫu của Ky Tô giáo: "Người Ky Tô có
hội truyền bá lời dạy của Chúa, thì tại sao chúng ta không
lập hội để truyền bá lời Phật dạy?". Đứng trên lập
trường đó, Olcott đã tiến hành xây dựng nhiều trường
trung học PG và những "Sunday School" cho hội của ông. Sự khởi
xướng của ông đã trở thành một cuộc vận động lâu dài
và thành công cho nền giáo dục PG theo kiểu phương Tây tại
Tích Lan.
Nhờ những
thành tích này, Olcott và Blavatsky đã lưu lại Tích Lan danh
hiệu như là những vị anh hùng dân tộc. Họ đã tiếp xúc
và làm việc với một vị trưởng lão Phật giáo cao cấp
và đạt được sự tin yêu của các ngài. Nhưng điều quan
trọng hơn tất cả là Olcott và Blavatsky được hầu hết Phật
tử Tích Lan kính trọng và biết ơn.
BàAnnie Besant,
cụ Henry Steel Olcott và Thẩm phán William Quan
Olcott lập
kế hoạch đến Ấn Độ năm 1879 sống một thời gian để
nghiên cứu và học hỏi Ấn Độ giáo và PG từ các Đạo
sư Đông phương rồi trở về Hoa Kỳ, nơi ông cống hiến
quãng đời còn lại của mình để phát triển HLT. Nhưng kết
quả và danh tiếng mà Olcott đạt được trong chuyến viếng
thăm đầu tiên đến Tích Lan khiến ông phải đánh giá lại
kế hoạch của mình. Lần hồi ông nhận ra rằng ông là một
người thầy hơn là một học trò. Do đó ông cần làm nhiều
việc để giúp đỡ cho Phật tử ở Tích Lan.
Lần thứ
hai, Olcott đã trở lại Tích Lan vào tháng 4 năm 1881. Sau đó,
ông cùng với trưởng lão Mohotivatte Gunananda, một người lãnh
đạo giai đoạn đầu trong phong trào phục hưng PG tại Tích
Lan. Họ đi qua các tỉnh phía Tây trong tám tháng trên một
chiếc xe bò do Olcott thiết kế. Người Tích Lan khâm phục
sự khéo léo và làm việc siêng năng của ông. Ông thành lập
một ngân quỹ giáo dục quốc gia, viết và phân phát miễn
phí kinh sách Phật.
Tuy nhiên,
Olcott nhận ra rằng sự thờ ơ đáng kinh ngạc của người
Tích Lan đối với PG. Đó là một sự phán đoán kỳ quặc
của một người mới đổi đạo đến Á châu không phải
dạy học mà để học hỏi. Nhưng thực tế đã khiến ông
phải suy nghĩ về con đường phục hồi lại PG ở Tích Lan.
Chiến lược
của ông là truyền bá lờùi Phật dạy qua ngõ giáo dục.
Ông tiến hành biên soạn quyển "Buddhist Catechism" (Phật Pháp
vấn đáp) để làm giáo trình cho các trường học ở Tích
Lan. Quyển sách nhanh chóng được phổ biến khắp Tích Lan
và đến nay đã tái bản trên bốn mươi lần và được chuyển
ngữ ra hai mươi thứ tiếng trên thế giới. Lần đầu tiên,
sách được in bằng hai thứ tiếng Tích Lan và tiếng Anh vào
ngày 24 tháng 7 năm 1881. Quyển sách gây được sự ảnh hưởng
rất lớn trong quần chúng Tích Lan, đến nay nó vẫn được
sử dụng như một giáo trình chính thức của nền giáo dục
tại quốc gia này.
Chính ông
Olcott đã mô tả Buddhism Catechism như là một "loại thuốc
giải độc" cho các tín đồ đạo giáo khác. Chẳng hạn:
Hỏi: Đức
Phật có phải là Thượng đế không?
Đáp: Không,
Ngài không phải là Thượng đế.
Hỏi: Tín
đồ Đạo Phật có chấp nhận thuyết vạn vật được hình
thành từ hư vô bởi một Đấng tạo hóa không?
Đáp: Chúng
tôi không tin vào phép mầu, do đó chúng tôi phủ nhận sự
tạo hóa và không thể chấp nhận quan điểm vạn vật được
hình thành từ một Đấng nào đó.
Trở lại
Colombo vào ngày 18 tháng bảy năm 1882 trong chuyến viếng thăm
lần thứ ba. Olcott khám phá ra rằng Hội PG Linh Trí và Hội
Phục hưng PG ngưng hoạt động. Trong nỗ lực khôi phục lại
hạt động của Hội. Ông Olcott hiến cúng 13.000 rupees cho Hội
và thỉnh cầu chư tăng tham gia vào hoạt động, nhưng không
có vị tăng nào chịu hoạt động. Cuối cùng ông quyết định
làm việc một mình.
Phương hướng
lần này là phát thuốc trị bệnh cho nhân dân Tích Lan. Ông
tuyển mộ một số phật tử người Ấn và Tích Lan để làm
việc cho đoàn. Từ năm 1882 đến 1883 đoàn chữa bệnh từ
thiện của ông đã điều trị cho gần ba ngàn người. Danh
tiếng của đoàn đã lan đi khắp nơi và nó đã trở thành
là một gánh nặng cho ông. Và ông nhận ra rằng công việc
này lần hồi đã đi xa mục đích truyền bá Phật pháp của
mình, nên cuối năm 1883, ông tuyên bố ngưng hoạt động chữa
bệnh từ thiện.
Olcott củng
cố vai trò của mình như một nhà lãnh đạo phong trào phục
hưng PG tại Tích Lan theo sau cuộc xung đột bi thảm giữa PG
và Ky Tô giáo xảy ra vào ngày 25 tháng 3 năm 1883 ở Kotahela,
một vùng của người Ky Tô giáo. Vào ngày hôm đó một đoàn
Phật tử đi diễu hành qua vùng này để đến dự lễ khánh
thành chùa Deepaduttama. Khi đoàn diễu hành xuất hiện trước
ngôi nhà thờ Thiên Chúa, cách tu viện một vài dặm, thì chuông
nhà thờ được gióng lên, lập tức chuông của các nhà thờ
trong vùng đều vang lên. Như để đáp lại dấu hiệu, khoảng
một ngàn người Ky Tô tràn xuống đường và tấn công đoàn
diễu hành, tiếp đó là cuộc xô xát đổ máu. Nhà cầm quyền
huy động đến hiện trường 80 cảnh sát, nhưng baton của
họ không thể dẹp nổi gậy gộc và gạch đá của đám đông.
Trong ba giờ hỗn chiến, một người chết và bốn mươi người
khác bị thương.
Sau vụ này,
cả PG và Ky Tô giáo cùng nhau ra tòa. Vô số những bằng chứng
được đưa ra, nhưng cuối cùng Nhà cầm quyền đều bác bỏ
tất cả lời buộc tội của đôi bên, vì thiếu những chứng
cớ đáng tin cậy. Sau đó vụ án không được đưa ra xét
xử. Hội PG Tích Lan đánh điện khẩn cho Olcott và ông đã
đến Tích Lan vào ngày 27 tháng giêng năm 1884. Ông liền thành
lập một Ủy Ban Bảo Vệ PG (The Buddhist Defense Committee), ông
được chọn làm một thành viên danh dự và giao nhiệm vụ
đến Anh Quốc đại diện cho PG Tích Lan để yêu cầu Chính
phủ Anh xem xét và giải quyết các vấn đề còn tồn tại
của Chính quyền thuộc địa của họ ở Tích Lan. Như vậy
vai trò của Olcott là người trung gian giữa Đông và Tây đã
trở nên rõ ràng, không chỉ cho PG mà còn cho Chính quyền thuộc
địa.
Tháng tư
năm 1884, ông Olcott đến Luân Đôn. Ông đã tiếp xúc và làm
việc với ông Toàn quyền Tích Lan ông Longden về vụ xung đột
giữa PG và TC tại Tích Lan. Sau khi xem xét hồ sơ của vụ
việc, Toàn quyền Longden cho rằng nguyên nhân chính tạo ra
cuộc xung đột đó là do sự phục hưng của PG. Sau đó ông
Longden đã cử một phái đoàn đến Tích Lan để giải quyết
vụ này.
Trong dịp
này, Olcott đã đệ trình lên Chính phủ Anh một thỉnh nguyện
thư với năm nguyện vọng của PG Tích Lan gồm: (1) Vụ xung
đột giữa PG và TC phải được đưa ra xét xử; (2) Phật
giáo phải được tự do trong mọi sinh hoạt tôn giáo; (3) Các
ngày đại lễ của PG phải là ngày nghỉ của quốc gia; (4)
Tất cả những hạn chế về nghi lễ của PG phải được
loại bỏ; (5) Hộ khẩu của tăng sĩ phải được thành lập
và vấn đề tồn tại đối với PG phải được giải quyết.
Chỉ hai điều
trong năm nguyện vọng trên nhanh chóng được ban hành, và như
vậy nhiệm vụ của ông đã thành công viên mãn. Người Tích
Lan kết luận rằng việc Chính phủ Anh tuyên bố các ngày
đại lễ của PG là ngày nghỉ của toàn dân, chủ yếu là
nhờ vào lời thỉnh cầu của Olcott.
Dù được
tuyên bố rằng Olcott đã khởi xướng phong trào phục hưng
PG tại Tích Lan, mối liên hệ của ông với phong trào rất
mật thiết như chính ông đã thừa nhận, không là người
khởi đầu cũng không là người kết thúc, mà là một người
tổ chức và là một người tiếp nối. Đó chính là Henry
Steel Olcott, người đã đem lại quyền công dân cho người
Phật tử, người tiên phong trong việc phục hưng và phát triển
văn hóa, giáo dục và PG tại Tích Lan. Ông là một nhà hùng
biện Phật tử, một nhà truyền bá PG và ông là một người
môi
giới văn hóa, với một chân đặt trong PG và một chân khác
đặt trong HLT. Chính nhờ sự phối hợp sáng tạo từ hai nguồn
này, cùng với sự ảnh hưởng nhiều đến lãnh vực khác,
ông đã tạo ra một hình thức mới cho PG mà chúng được
thịnh hành không những tại Tích Lan mà còn ở Hoa Kỳ nữa.
Tổng hợp
từ những tài liệu How the Swans came to the Lake, a narrative History
of Buddhism in America (1992) &Tricycle : The Buddhist Review, Fall
of 1996