RHYS DAVIDS
VÀ HIỆP HỘI
THÁNH ĐIỂN
PÀLI Ở ANH QUỐC
* Nhân duyên ban đầu :
Đầu thế kỷ thứ 19, các
quốc gia ở châu Âu hùng mạnh lên với sự phát triển của
kỹ thuật từ cuộc cách mạng công nghiệp, họ đẩy ra bên
ngoài hàng loạt cuộc chinh phạt thế giới dưới sức mạnh
của chủ nghĩa thực dân châu Âu, các quốc gia ở châu Á
là mục tiêu của họ và họ đã thành công. Ngược lại,
tư tưởng Phật giáo (PG) lại có cơ hội để truyền bá sang
thế giới phương Tây. Hơn thế nữa, sự khám phá ra kho tàng
văn hóa phong phú của châu Á và triết lý độc đáo của
PG đã làm thức tỉnh và ảnh hưởng sâu đậm trong giới
trí thức châu Âu, các cộng đồng tôn giáo và nói chung là
các xã hội phía bên Tây bán cầu. Thông qua sự nỗ lực của
một nhóm chuyên gia về ngôn ngữ học, các tác phẩm lớn
của PG được truyền bá sang Âu-Mỹ trong một thời điểm
mà nhiều người đang tìm kiếm một phương cách để trật
tự hóa những đổi thay rộng lớn giữa hai lĩnh vực công
nghiệp hóa và đô thị hóa.
Các học giả phương Tây
thường phục vụ trong các chính quyền thuộc địa ở châu
Á và đây là cơ hội đưa họ đến với PG. Đáng kể nhất
trong số này là ông William Jones (người Iran), ông Charles Wilkens
(một dịch giả Sanskrit người Anh), ông A.Csoma de Koros (một
nhà ngôn ngữ học người Hungary), ông Houghton Hodgson (người
Anh), ông Eugene Burnouf (một dịch giả Pàli người Pháp); đặc
biệt trong số trên có ông T.W.Rhys Davids, một chuyên gia ngôn
ngữ người Anh, người đã có công sáng lập nên Hiệp hội
Thánh điển Pàli tại Luân Đôn, Anh quốc vào năm 1881.
* Đôi nét về ông T. W. Rhys
Davids (1843-1922):
Cũng như nhiều học giả
PG châu Âu khác, ông Rhys Davids bắt đầu sự nghiệp của mình
là một viên chức của Hoàng gia Anh làm việc tại các chính
quyền thuộc địa ở trong vùng Nam Á. Tuy nhiên, khi khám phá
ra kho tàng trí tuệ PG đang ẩn tàng phía sau những bộ kinh
Pàli đồ sộ ở Tích Lan, ông đã quyết định chấm dứt
con đường danh vọng của mình mà đi thẳng vào lĩnh vực
học thuật và nghiên cứu ngôn ngữ Pàli. Ông đã đậu được
bốn bằng tiến sĩ (gồm triết học, sử học, ngôn ngữ học
và văn chương) và ông đã cống hiến trọn đời mình cho
công trình nghiên cứu, phiên dịch và ấn hành Tam tạng thánh
điển Pàli (Pàli Tipitaka). Năm 1881, ông cùng vợ (bà Caroline
Augusta Davids) đã thành lập Hiệp hội Thánh Điển Pàli (Pàli
Text Society-PTS) tại Luân Đôn. Đây là một tổ chức PG đầu
tiên tại Anh quốc với sự tham gia của nhiều học giả nổi
tiếng Âu châu và Á châu, để nghiên cứu, biên soạn, chuyển
ngữ và in ấn kinh điển PG bằng tiếng Pàli và Anh ngữ.
Ngoài việc tham gia công tác
phiên dịch, biên tập ..., ông Davids còn biên soạn những sách
PG có giá trị như "Từ điển Pàli - Anh" gồm 500 trang, in lần
thứ nhất vào năm 1921 và được tái bản vào các năm 1925,
1992 và 1995; "Những câu hỏi của vua Milinda" (xuất bản năm
1890); "Phật giáo, lịch sử và văn học" (Xb năm 1896); "Những
pháp thoại của Đức Phật" (Xb năm 1899); "Phật giáo Ấn Độ"
(Xb năm 1903)...
Dù bận rộn điều hành công
việc của Hội, phiên dịch, biên soạn kinh sách, nhưng tiến
sĩ Davids vẫn dành thời giờ nhất định để đi diễn thuyết
khắp nơi ở nước Anh và ở nước ngoài, trong đó Tích Lan
và Hoa Kỳ là nơi ông thường xuyên lui tới. Từ năm 1881 đến
1894, ông đến Hoa Kỳ nhiều lần để diễn thuyết bài giảng
đầu tiên của ông là "Nguồn gốc và sự phát triển của
PG Ấn Độ", các đề tài khác là về giáo lý PG theo hệ Nikàya,
sự hòa hợp giữa PG và Ky-tô giáo, lịch sử tôn giáo thế
giới... Trong mỗi dịp xuất hiện trước công chúng Hoa Kỳ,
ông không quên giới thiệu về tổ chức PTS. Ông làm việc
không biết mỏi mệt cho đến cuối đời, ông tạ thế vào
năm 1922. Lúc ấy, Hiệp hội đã in được 70 quyển kinh sách
các loại (cả bản gốc Pàli và bản dịch).
* Hiệp hội Thánh điển
Pàli, quá trình hình thành và phát triển:
Vào tháng 5 năm 1882, trong buổi
diễn thuyết thứ hai của ông tại Hibbert, tiến sĩ Davids thông
báo cho cử tọa biết ý định thành lập Hiệp hội Thánh
điển Pàli và được mọi giới nhiệt tình ủng hộ về tài
chánh, nên không lâu sau đó PTS đã ra đời tại Luân Đôn
và ông giữ chức Chủ tịch hội đầu tiên. Đến nay, PTS
đã trải qua 100 năm và tính đến nay có bảy người giữ
chức chủ tịch PTS theo thứ tự như sau: ông Rhys Davids (sáng
lập và làm Chủ tịch Hội từ năm 1881-1922); bà Caroline Augusta
Davids, tiến sĩ văn chương (từ 1922-1942); ông W.H.Rouse, tiến
sĩ văn chương (từ 1942-1950); ông W.Stede, tiến sĩ triết (từ
1950-1958); bà I.B.Horner, tiến sĩ văn chương (từ 1959-1981);
ông K.R.Norman (từ 1981-1994); từ 1994 đến nay là tiến sĩ R.F.Gombrich,
trụ sở của PTS hiện nay tọa lạc tại số 73 Time Walk, Headington,
Oxford OX3.7AD. England.
Với tôn chỉ vô vị lợi,
ngay từ những ngày đầu của Hội, ông Davids đã nhanh chóng
tập hợp được một nhóm học giả, các chuyên gia ngôn ngữ
học để biên tập lại Kinh, Luật và Luận Pàli. Nổi bật
trong nhóm này có các vị như R.Morris, E.Hardy, M.Hunt, E.Muller,
J.Minayeff, E.R.Gooneratne, J.E.Carpenter, E.Windisch, W.Trenckner, R.Chalmers,
L.Feer, H.Bode, H.Oldenberg, Wilhelm Geiger, E.B.Cowell, P.S.Jaini, E.W.Burlingame,
James Gray, J.S.Speyer, Pe Paung Tin... đồng thời công bố danh
sách các mạnh thường quân trên khắp thế giới tài trợ
cho công trình vĩ đại này, một trong những nhà tài trợ chính
cho Hội lúc bấy giờ là vua của Thái Lan. Công việc của
Hội khởi đầu được chia thành hai phần: in lại toàn bộ
Tam tạng Pàli để bảo tồn giá trị nguyên thủy của nó
và tiếp đó là chuyển ngữ ra tiếng Anh để cho thế giới
phương Tây tiện bề học hỏi. Để cho mọi giới biết rõ
mục đích của Hội, nên năm 1882, ông Davids đã xuất bản
tờ nguyệt san PTS, tờ báo đã nhanh chóng thu hút giới trí
thức ở châu Âu. Thành quả của Hội được ghi nhận vào
năm 1900 là in được 42 quyển Kinh, Luận Pàli, tổng cộng
có hơn 15.000 trang sách. Đặc biệt trong số này là các bộ
"Thắng pháp tập yếu luận"; "Tăng Chi Bộ kinh" (6 quyển);
"Pháp Cú sơ giải" (5 quyển); "Kinh Bổn Sám" (6 quyển), "Tiểu
Bộ kinh" (Khuddaka Nikàya)... Tiếp đó, các bản dịch kinh Pàli
đầu tiên xuất hiện như "Những câu chuyện tiền thân của
Phật" do E.B.Cowell chuyển ngữ in từ năm 1895 đến 1907; "Tương
Ưng Bộ kinh" (Samyutt Nikàya) gồm 5 quyển, do ông bà R.Davids
và ông Woodward chuyển ngữ và ấn hành từ năm 1917 đến 1930;
"Tăng Chi Bộ kinh" (Angutara Nikàya) do ông E.M.Hare và ông Woodward
dịch và ấn hành từ năm 1932 đến 1936.
Sau thế chiến thứ nhất,
dù tài chánh của PTS có eo hẹp nhưng Hội vẫn giữ mức độ
làm việc bình thường, các dịch phẩm lần lượt xuất hiện
và gây được tiếng tốt trong giới trí thức ở châu Âu.
Theo sau sự qua đời của người sáng lập Hội _ông Davids_
năm 1922, bà Caroline, vợ ông, được cử làm Chủ tịch hội,
bà là học giả và dịch giả Pàli có uy tín. Các dịch phẩm
của bà gồm có "Tương Ưng Bộ kinh" (quyển I và II); "Những
pháp thoại của Đức Phật" (3 quyển, dịch cùng với chồng)
; "Đạo đức tâm lý PG" (Xb năm 1900)... Đến năm 1942, bà Davids
được thay thế bởi tiến sĩ W.H.Rouse, người có công lớn
trong việc phiên dịch bộ Jataka (Chuyện tiền thân của Đức
Phật, gồm 6 quyển).
Năm 1950, Hội bầu tiến sĩ
William Stede làm Chủ tịch, một người từng biên tập và
chú giải bộ Culla-Niddesa (1918); hai quyển sớ giải về "Trường
Bộ kinh" (Dìgha Nikàya) in năm 1931 và 1932; trước đó ông cũng
đã cộng tác với Rhys Davids để soạn bộ Từ điển Pàli-Anh.
Năm 1958, tiến sĩ Stede qua đời, bà I.B.Horner được cử vào
chức Chủ tịch, người từng làm thư ký cho bà Davids. Trong
23 năm lãnh đạo tổ chức này, bà đã làm nhiều việc để
phát triển Hiệp Hội. Các dịch phẩm đáng chú ý của bà
là "Trung Bộ kinh" (Majjhima Nikàya, gồm 3 quyển, Xb từ năm
1954 đến năm 1959 và tất cả được tái bản vào năm 1995);
"Những câu hỏi của Milinda" (Malindapanha, gồm 2 quyển, Xb từ
năm 1963-1964); "Luật tạng" (Vinaya - Pilaka, gồm 6 quyển, Xb
từ năm 1938-1966, đến năm 1993 đã tái bản lại toàn bộ).
Bà Horner rất quan tâm đến
việc phát triển và mở rộng chi nhánh của Hội ở khắp
nơi trên thế giới (hiện nay đã có các chi nhánh như ở Mỹ,
Tân Tây Lan, Thái Lan, Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện và Nhật
Bản. Riêng ở Việt Nam, tuy chưa có chi nhánh, nhưng từ đầu
thập niên sáu mươi đến nay, HT. Thích Minh Châu, nhà phiên
dịch Đại tạng kinh Pàli, đã thường xuyên liên lạc với
PTS để nhận tài liệu và làm công tác dịch thuật. Tính
đến nay, Hòa thượng đã chuyển ngữ và ấn hành hoàn chỉnh
năm bộ kinh thuộc hệ Nikàya. TNT).
Trong ba thập niên 60, 70 và
80, Hội tiếp tục phát triển về mọi mặt, đặc biệt là
nhân sự, quy tụ nhiều học giả, dịch giả nổi tiếng về
Pàli ngữ để phiên dịch và biên tập Đại tạng Pàli. Đáng
kể trong số này là các vị như Ven. Narada, Ven. Nànamoli, Ven.
Walpola, RahulaJ.Jones, P.Masefield, B.C.Law, W.B.Bolleé, R.Handurukande,
F.I.Woodward, J.Kennedy, U Ba Kyaw, N.A.Jayawickrama... Các tác phẩm
đáng lưu ý trong giai đoạn này là "Sổ tay từ ngữ Pàli trong
Tam tạng" của ông E.M.Hare; "Trưởng lão Tăng và Ni kệ" gồm
2 quyển in từ năm 1969-1971; "Pàli ngữ", Xb năm 1963, một cẩm
nang cho những ai muốn học và đọc tiếng Pàli "Chuyện tiền
thân của 10 vị Bồ Tát" của H. Saddhàtissa, Xb năm 1975...
Năm 1981, PTS đã tổ chức lễ
kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Hội (1881-1981). Trong dịp
này, bà Chủ tịch Horner có đưa ra 4 điểm cần làm để phát
triển Hiệp Hội. Thứ nhất, giảm giá thành tất cả các
loại kinh sách, từ điển do PTS phát hành. Thứ hai, Hội phải
cố gắng tái bản lại những kinh sách đã phát hành hết
để kịp thời cung ứng tài liệu cho học giả. Bộ sách "Tự
học Pàli ngữ" phải phát hành kèm với băng cassette. Các quyển
kinh nhật tụng Pàli cũng phải kèm theo băng tụng để giúp
cho người sơ cơ dễ dàng tụng niệm. Thứ ba, Hội phải xúc
tiến duyệt lại và thêm thắt từ mới vào bộ Từ điển
Pàli-Anh (Xb lần đầu tiên năm 1921), để cập nhật hóa với
những thông tin của thời đại (bộ sách này đã được sửa
chữa cẩn thận và tái bản vào năm 1992 và 1995). Thứ tư,
tiếp tục giữ mối liên hệ với khoa Ngôn ngữ học và Đông
phương học thuộc Đại học Cambridge để khuyến khích ngày
càng nhiều người quan tâm đến cổ ngữ này và kết hợp
với Đại học Cambridge cấp phát bằng thạc sĩ và tiến sĩ
ngôn ngữ học cho những nghiên cứu sinh hoàn thành luận án
Pàli ngữ.
Bà Horner đã từ giã cõi đời
vào tháng 4 năm 1981 và ông K. R. Norman được cử vào ghế
Chủ tịch để thay thế bà. Công việc phiên dịch và ấn
hành kinh tạng Pàli vẫn được tiếp tục không gián đoạn.
Ông Norman cho tái bản lại dịch phẩm của chính ông là "Trưởng
lão Tăng kệ và Trưởng lão Ni kệ" (Thera and Therìgàthà, 2
quyển) và bản dịch mới của ông về Đại kinh Nipàta. Trong
nhiệm kỳ 14 năm của mình (năm 1981-1994) ông đã hoàn thành
nhiệm vụ khi phối hợp với Hội Truyền bá Chánh pháp ở
Thái Lan để thực hiện công việc chuyển toàn bộ hệ thống
Tam tạng Pàli vào CD-ROM, hầu bảo trì giáo điển trong một
phương tiện cất giữ thông tin của thời hiện đại.
Đầu năm 1994, ông Norman không
thể tiếp tục đảm nhận trọng trách của Hội nữa vì già
yếu, và Giáo sư tiến sĩ Richard Gombrich được chọn vào vị
trí này. Những thông tin mới nhất về Hội là trụ sở trung
ương ở Luân Đôn vẫn tiếp tục công việc cùng kết hợp
với các văn phòng đại diện trên thế giới đang phiên dịch
các bộ "Abhidhammàvatàra", "Itivuttaka-atthakathà" và "Bhesajjamanjùsà"...
Hội cũng đang biên tập và dịch lại bản dịch "Tương Ưng
Bộ kinh" và một cuốn sổ tay về thuật ngữ Pàli trong Tạng
Luật. Nhìn lại thành quả của Hội với 195 bộ kinh sách
Pàli các loại và hơn 100 bản dịch ra tiếng Anh từ Tam tạng
Pàli. Tất cả gồm 300 quyển trên đều được tái bản lại
từ đầu thập niên 90 của cuối thế kỷ này. Với kết quả
đáng khích lệ như thế nên mọi thành viên của Hiệp hội
Thánh điển Pàli tại Anh quốc luôn nhìn về tương lai với
một niềm tin lớn lao trên lộ trình góp phần truyền bá lời
Phật dạy cho nhân loại.
Tổng hợp từ các tài
liệu :
- Pàli Text Society, List of
Issuer 1996-1997- Stephen Batchelor, The Awakening of the West, USA, 1994
- C. Humphreys, Encyclopedia of
Buddhism, Ceylon, 1972.