THƯ VIỆN HOA SEN  

[SEARCH]   [ENGLISH]   [VISCII FONT]
c
HOME KINH ÐIỂN GIỚI LUẬT LUẬN GIẢI  PHẬT HỌC   THIỀN NGUYÊN THỦY   THIỀN TỔ SƯ  NIỆM PHẬT  SỬ PHẬT GIÁO   PHÁP LUẬN  TỰ ÐIỂN PHẬT HỌC  DINH DƯỠNG CHAY  TRUYỆN NGẮN  DIỄN ÐÀN PHẬT PHÁP INDEX TÁC GIẢ 
c
c
Mục Lục Tổng Quát
Lời giới thiệu 1. Hòa Thuợng Thích Ðức Nhuận
Lời giới thiệu 2. Thuợng Tọa Thích Bảo Lạc
Lời thưa của soạn giả (Thích Nguyên Tạng)
I. XỨ SỞ PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
II. NHÂN VẬT PHẬT GIÁO THẾ GIỚI 
201-Pháp Su Hui Shen và phái doàn truyền giáo dến châu Mỹ.
202-Pháp Su Tuyên Hóa, một Thiền Su Trung Hoa thời hiện dại
203-Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14, vị sứ giả của hòa bình
204-Hòa Thuợng Dhamananda, nhà truyền giáo nổi tiếng của Mã Lai
205-Một Nhà Su Campuchia, nhà hoạt dộng hòa bình cho Campuchia 
206-Hòa Thuợng Tinh Vân và Phật Quang Son quốc tế
207-Nhà Su Nhật Bản làm từ thiện ở nuớc ngoài
208-Các Nhà Su Châu Á trên dất Mỹ
209-Pháp Su Nikkyo Niwano, nhà lãnh dạo tôn giáo Thế Giới
210-Philip Kapleau, một Thiền Su nguời Mỹ
211-Nhà khoa học Albert Einstein và Ðạo Phật
212-Nhà van Leo Tolstoy và Ðạo Phật 
213-Nhà Ngôn ngữ Rhys Davids và Hiệp Hội Thánh Ðiển Pàli
214-Richard Gere, một diễn viên Phật tử nguời Mỹ
215-Diễn viên diện ảnh Richard Gere và Ðạo Phật
216-Nhà thơ Edwind Arnold và "Ánh sáng Á Châu" 
217-Ðại tá Henry Steel Olcott với phong trào chấn hung Phật Giáo tại Tích Lan
218-Haavard Lorentzen, một nhà giáo Na Uy dã dua Phật Giáo vào học duờng
219-Harald Rosenloew Eeg, với luận van Cao học về Phật Giáo Việt Nam
220-Robert Topmiller với luận án Tiến si về Phật Giáo Việt Nam
221-Tenzin Osel Rinpoche, hậu thân của Lạt ma Yesge
222-Houn Jiyu Kennett, một nữ tu nguời Anh
223-Peter Kedge, một thuong gia Phật tử nguời Anh 
224-Allan Molly, một Bác sĩ nguời Úc
225 Một Ông Vua Phật Tử
III. SỰ KIỆN PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
IV. PHỤ LỤC
c

 

c
PHẬT GIÁO THẾ GIỚI
Soạn Giả: Thích Nguyên Tạng
Tu Viện Quảng Ðức, Australia
Hòa Thượng Tăng Thống Campuchia 
Maha Ghosananda với những họat động 
vì hòa bình

Bất cứ ai có dịp gặp và tiếp xúc với Hòa Thượng Tăng Thống Campuchia Maha Ghosananda thì có thể tìm thấy được an lạc nơi nụ cười hiền hậu và từ ái toát ra từ ánh mắt của ngài. "Tôi đã tha thứ cho họ", ngài nói về những du kích quân Khmer Đỏ, những kẻ đã từng giết hại cả gia đình ngài, đem đến những khổ đau khôn tả cho nhân dân Campuchia và ngài đã đọc lại lời Phật dạy : "Hận thù không bao giờ dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới có thể loại bỏ được hận thù. Đó là định luật từ ngàn xưa". 

Hòa Thượng  Maha Ghosananda

Và đó cũng là luật tắc mà HT Ghosananda đã dùng để thương thuyết với các nhà lãnh tụ Khme Đỏ và binh lính của họ. "Chúng ta phải có lòng từ bi và trí tuệ", ngài nói "chúng ta chỉ lên án hành động của họ chứ chúng ta không ghét họ. Với tình thương, chúng ta sẽ thiết lập được nền hòa bình, ngoài tình thương và sự tha thứ ra, không có con đường nào khác để chọn". 

Trong lúc tiếp chuyện với chúng tôi (PV tờ Bangkok Post), ngài kể chuyện về Angulimala, một người đã từng sát hại hàng ngàn người, rồi chặt ngón tay của nạn nhân xâu thành vòng hoa. Sau đó ông được Đức Phật cảm hóa và trở thành một tu sĩ. Tuy nhiên, mọi người đều biết được quá khứ tội lỗi của ông nên đã ném đá trả thù khi ông đi khất thực vào mỗi buổi sáng. Cuối cùng ông đã chết nhưng ông đã đắc quả A-La-Hán. 

"Angulimala có thể làm được điều đó, vì vậy du kích quân Khmer Đỏ cũng có thể làm được" HT. Ghosananda nói. Gần đây các phương tiện truyền thông phát đi các lời dạy của Ngài để mở đường cho các lãnh tụ Khmer Đỏ và binh lính của họ sớm ra đầu thú. 

Ngày nay, Ngài tin chắc rằng Phật Giáo Campuchia sẽ mang lại sức sống, hòa bình và thịnh vượng cho quê hương của Ngài. "Hòa bình chỉ hiện hữu khi nào chúng ta chấm dứt được xung đột với kẻ thù". Ngài nói. Hiện nay, có khoảng 40.000 tu sĩ và 3000 ngôi chùa ở trên khắp cả nước Campuchia. Đây là một hình ảnh được hồi sinh kể từ cuộc tàn sát của Khmer Đỏ (1975-1978), lúc ấy chùa tháp gần như bị phá hủy hay sử dụng để làm nhà giam hoặc nơi để tra tấn và chỉ còn 3000 tu sĩ sống sót trong số 50.000 vị. 

HT. Ghosananda sinh năm 1929 tại tỉnh Takeo, 14 tuổi xuất gia và theo học các trường Đại học Phật Giáo ở tỉnh Battambang và Phnom Penh. Sau đó đi du học và đậu bằng tiến sĩ tại Đại học Nalanda, bang Bihar, Ấn Độ. Ngài tự xem mình là đồ đệ của Hòa thượng người Nhật Nichidatsu Fujii, vị tổ sáng lập Hội Nipponzan Myohoji, hoạt động vì hòa bình theo đường lối bất bạo động của Mahatma Ghandi. Năm 1965, Ngài phát nguyện ẩn tu 13 năm tại một ngôi chùa trong rừng thuộc miền nam nước Thái Lan. 

Đến năm 1978, khi người tî nạn Campuchia đổ xô sang Thái Lan, ngài quyết định xuống núi và bắt đầu hoạt động vì hòa bình. Ngài phát truyền đơn kêu gọi người tî nạn phát khởi lòng từ bi và tha thứ cho kẻ đàn áp. Ngài tiến hành xây dựng chùa ở khắp các trại tî nạn ở dọc biên giới Thái - Miên, kể cả các trại dưới quyền kiểm soát của Khmer Đỏ. Ngài cũng tổ chức những khóa giảng dạy giáo lý cho các cộng đồng này để giúp họ giảm bớt sự sợ hãi và suy sụp tinh thần do chiến tranh gây ra. Ngài an ủi hòa bình sẽ sớm được thiết lập bởi sự giúp đỡ của quân đội Việt Nam vào năm 1979. 

Năm 1980, ngài thành lập Hội Liên Tôn Giáo tại Campuchia với sự giúp đỡ của một Hội đoàn ở phương Tây. Hội này đã xây dựng hàng trăm ngôi chùa trên khắp thế giới cho người tî nạn Campuchia ở nước ngoài. Hiện nay, ít nhất có khoảng 30 ngôi tự viện ở Mỹ và Canada. Cũng trong năm 1980, Ngài đã làm cố vấn cho một tổ chức kinh tế và xã hội của Liên Hợp Quốc tại Campuchia, Ngài đã đưa ra nhiều sáng kiến về các chương trình phát triển kinh tế và xã hội giúp cho người dân Campuchia thoát khỏi cảnh đói nghèo và khổ đau. 

Năm 1992, ngài tổ chức cuộc đi bộ vì hòa bình (Dhammayatra) lần thứ I, từ biên giới Thái Lan về tới Phnom Penh. Đi theo Ngài là người dân Campuchia trở về quê hương sau 12 năm tî nạn. Cũng trong năm này, Ngài được vua N. Sihanouk ban tặng danh hiệu Tăng Thống Phật Giáo Campuchia. Sau đó Ngài cũng nhận được một giải thưởng nhân quyền do Hội Rafto Na Uy trao tặng. 

Năm 1993, Ngài lại dẫn đầu hàng trăm người đi bộ lần thứ II băng qua các tỉnh bị chiến tranh tàn phá ở Campuchia. Năm 1995, Ngài cũng dẫn đầu một phái đoàn đi bộ hòa bình qua các nước ở châu Á để vận động cho hòa bình thế giới, (phái đoàn này đến Việt Nam vào đầu tháng 6-1995). 

Ngày nay, Ngài rất nổi tiếng về các cuộc Dhammayatra hàng năm. "Cuộc đi bộ hòa bình của chúng tôi bắt đầu từ hôm nay và mỗi ngày", Ngài nói, "mỗi bước đi là một lời cầu nguyện, một sự mặc niệm và bắc thêm một chiếc cầu". Năm nay, Ngài sẽ hướng dẫn một đoàn đi bộ qua các tỉnh Takeo, Kampot và Kompong Som, đoàn sẽ bắt đầu vào ngày mùng 10 tháng 5. 

HT. Ghosananda rất lạc quan về tương lai của Campuchia : "Campuchia đã quá mệt mỏi với chiến tranh, có khổ đau chúng ta mới thấy được ánh sáng của Chánh pháp ". Năm nay (1996) Ngài được đề cử trao giải Nobel Hòa bình lần thứ hai (lần thứ I năm 1994 do Thượng Nghị Sĩ Mỹ C. Pell đề xuất). 

"Lần đầu Yasser Arafat đã thắng" Ngài nói với một nụ cười hiền hậu. Khi hỏi "Ngài cảm thấy thế nào khi nghe tin mình được đề cử nhận giải lần thứ hai này?". Ngài cười và nói : "Không có gì". 

Theo BANGKOK POST, 27/ 2/ 1996 
 

 

[LINKS] [PHẬT GIÁO THẾ GIỚI] [NHẠC PHẬT GIÁO] [PHÁP THOẠI] [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL: banbientap@thuvienhoasen.org