HÒA THƯỢNG DHAMMANANDA
NHÀ TRUYỀN GIÁO NỒI TIẾNG
CỦA MÃ LAI
Sau khi thiết lập ngôi Tam Bảo
tại vườn Lộc Uyển, cổ thành Ba La Nại, Đức Thế Tôn
đã gởi 60 vị Tỳ kheo A La Hán đến các tỉnh thành Ấn Độ
để giáo hóa chúng sinh, mang ánh sáng của Chánh Pháp để
làm an lạc cuộc đời. Trước đó, Đức Phật đã khuyên
nhủ các đệ tử nên cống hiến cuộc đời của mình cho
mục đích giáo hóa độ sanh: "Hãy ra đi này các Tỳ kheo, vì
sự an lạc và hạnh phúc cho số đông, vì sự tốt đẹp cho
đời, vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Không nên đi hai người cùng một chỗ...(Go forth, O monks, for
the benefit and happiness of the many, for the good of the world, for the
welfare and happiness of gods and men! Let not the two of you go the same
way...).
Hơn hai ngàn năm sau, bức thông
điệp cao quý ấy vẫn được duy trì và thực hiện tốt đẹp
bởi các đệ tử của Ngài. Trong các nhà truyền giáo Tích
Lan trong thế kỷ 20 này như Pháp sư Anagarika Dharmapala, Narada
Maha Thera, Sayadaw U Thitilla và Piyadassi Maha....Đặc biệt tại
Mã Lai, các nhà truyền giáo tiên phong có Hòa thượng A. Pemaratana
tổ khai sơn chùa Mahindarama tỉnh Penang, Hòa thượng tiến sĩ
Sumangala, Hòa thượng K Gunaratana Nayaka Thera, Hòa thượng Kim
Beng, Hòa thượng Chuk Mor và Hòa thượng Dhammananda. Cả ba vị
đầu đều đã viên tịch, nay chỉ còn lại HT. Dhammananda,
81 tuổi, một người vẫn hoạt đôïng tích cực để chấn
hưng PG tại Mã Lai và cũng được xem là người có công tạo
dựng nền tảng cho PG Nam Tông tại Mã Lai.
Thuở Thiếu Thời:
Hòa thượng Dhammananda, thế
danh Martin (vì sanh ra trong thời gian đô hộ của Thực dân
Anh quốc, nên phải dùng tên tiếng Anh), sinh ngày 18 tháng 3
năm 1919 trong một gia đình trung lưu, cha là cụ ông K. A. Garmage
tại làng Kirinde, tỉnh Matara, miền Nam nước Tích Lan (Ceylon),
Ngài là người con trưởng trong một gia đình có 6 anh chị
em.
Ngài bắt đầu học tiểu học
năm 7 tuổi tại trường làng Kirinde. Không giống như những
làng khác ở Tích Lan, Kirinde chưa bề bị tác động bởi chiến
dịch truyền đạo của Ky Tô giáo. Nhờ thế mà PG vẫn còn
ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt của người dân và ngôi
chùa của địa phương. Vì vậy PG vẫn còn ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sinh hoạt của người dân và ngôi chùa của địa
phương. Bên cạnh người mẹ mộ đạo, ngài được người
cậu ruột là một Tăng sĩ trụ trì ngôi chùa của địa phương
này giúp đỡ và hướng dẫn ngài học Phật chẳng bao lâu
ý tưởng xuất gia học đạo phát khởi trong tâm hồn của
ngài.
Năm 12 tuổi, Ngài xuất gia
làm chú tiểu (samanera) với Hòa thượng K Dhammaratana Maha Thera
ở chùa Kirinda với pháp danh là Dhammananda, (Pháp Hỷ, nghĩa
là "người chứng nghiệm hạnh phúc qua giáo Pháp" (one who experiences
happiness through the Dhamma). Tiếp đó Ngài được gởi vào trường
để học Phật Pháp trong vòng 10 năm trước khi đăng đàn
thọ Tỳ kheo giới (Bhikkhu) vào năm Ngài 22 tuổi (1940). Hòa
thượng đàn đầu trong giới đàn này là Trưởng Lão K. Ratanapala
Maha Thera tại chùa Kotawila.
Tu học tại Tích Lan :
Tiếp đó ngài đã ghi danh vào
học trường Dhammarama Pirivena và rồi Học viện Phật giáo
Vidyawardhana tại thủ đô Colombo, niên khóa 1935-1938. Giáo sư
chính thức của Ngài là HT. Kotawila Deepananda Nayaka Thera. Năm
1938, Ngài tốt nghiệp tại trường này và tiếp tục học
tại trường Vidyalankara Pirivena, ở Peliyagoda, là một đại
học Phật giáo rất nổi tiếng ở Tích Lan vào thời bấy
giờ. Trong bảy năm lưu học tại đây, ngài đã học Pali,
Sanskrit, Triết học, Tam Tạng Kinh Điển và nhiều môn học
xã hội khác để trang bị cho chương trình giáo dục phổ
cập và hoằng dương Phật Pháp của ngài về sau. Ở tuổi
26, Ngài đã hoàn tất chương trình học tại nơi đây.
Bảy năm được đào tạo trong
môi trường Phật học và lối sống nghiêm khắc của Tu viện
tại đây đã mang lại những hữu ích về sau trong sứ mạng
truyền giáo của Ngài. Vị Pháp sư tinh thần của Ngài tại
đại học này là Trưởng lão Lunupokune Sri Dhammananda Nayaka
Thera, một bậc học giả uyên bác của Phật giáo Tích Lan.
Tu học tại Ấn Độ:
Tiếp đó, vào năm 1945, HT.
Dhammananda được đại học Hindu, Ấn Độ cấp học bổng
và Ngài đã lên đường du học. Bạn cùng khóa với ngài lúc
ấy hiện nay còn Hòa thượng P. Pannananda Nayaka Maha Thera, (đang
ở Tích Lan); Hòa Thượng Tiến sĩ. H. Saddhatissa Maha Thera (ở
Luân đôn); Hòa thượng Tiến sĩ U. Dhammaratana (chủ tịch Hội
Đại Bồ Đề, Ấn) và Hòa thượng Tiến sĩ Amritananda Thera
(Chủ Tịch Hội Đồng Tăng Già Nepal). Sau bốn năm học tại
đây, HT. Dhammananda đã tốt nghiệp với bằng cấp Cao học
về Triết học Ấn Độ vào năm 1949. Một trong số những
giáo sư nổi tiếng của Ngài tại đại học này là cố Tiến
sĩ S. Radhakrishnan, cũng là vị tổng thống đầu
tiên của Cộng Hòa Ấn Độ.
Hòa Thượng Dharmananda với
chư Tăng Mã Lai
Hoằng Pháp tại quê nhà:
Sau khi tốt nghiệp, Ngài trở
về Tích Lan và mở một Trường Phật giáo Sudharma tại Kotawila
để giúp cho dân chúng học Phật. Ngài cũng cho phát hành một
tờ báo tiếng Tích Lan để phổ biến giáo lý. Những lớp
giáo lý, những bài thuyết pháp và nhiều hoạt động giáo
dục khác của ngài đều truyền cảm hứng đẹp đẽ cho dân
làng quy hướng về Chánh Pháp. Trong số những vị phụ giúp
Ngài lúc đó có Đại đức K.Pemaloka và đại đức K. Hemasiri,
những người về sau vẫn theo Ngài đến Mã Lai để tiếp
tục công tác truyền giáo tại Brickfields.
Sứ mạng truyền giáo tại
Mã Lai:
Năm 1952, Hòa thượng K. Sri
Pannasara Nayaka Thera, Viện Trưởng Tu viện Vidyalanakara Pirivena,
đã nhận một lá thư từ Hội PG Sasana Abhiwurdhi Wardhana, Mã
Lai. Hội này có một ngôi chùa ở Brickfields, được xem
là một Hội PG lâu đời nhất trong cộng đồng Tích Lan tại
Mã Lai. Hội muốn thỉnh cầu một vị Tăng mã Lai để hướng
dẫn đời sống tâm linh cho cộng đồng Tích Lan tại xứ sở
này.
Trong số 400 Tăng sĩ ở tu viện
Vidyalankara Pirivena, Tỳ kheo Dhammananda đã được tuyển chọn
để gởi đi hoằng Pháp tại Mã Lai. Ngài đã saün lòng tiếp
nhận lời thỉnh cầu này dù Ngài rất muốn ở lại quê nhà
để hoằng Pháp. Tuy nhiên, Ngài ý thức được rằng tại
quê nhà còn nhiều vị tăng khác có thể làm công tác hoằng
pháp, trong khi ấy tại Mã Lai, nhu cầu chấn hưng Phật Pháp
là việc khẩn thiết, vì vào thời điểm ấy tình hình PG
tại Mã Lai, dù có nhiều chùa người Trung Hoa, nhưng phần
lớn không có giảng dạy giáo lý và tổ chức tu học mà chỉ
nặng phần lễ nghi và cúng kiến. Do đó HT. Dhammananda quyết
định lên đường trong một thời gian ngắn. Ngài đã xuống
tàu thủy vào sáng ngày 2 tháng giêng năm 1952. Ba ngày sau Ngài
đã đến được cảng Penang, miền Bắc của Mã Lai.
Sự nghiệp hoằng Pháp tại
Mã Lai:
Khi đến Penang, Ngài lưu trú
tại chùa Mahindarama trước khi đón máy bay đến chùa Brickfields
ở Kuala Lumpur. Tháng 3 năm 1952, Ngài nhận được một lá thư
của Tổng Toàn quyền Anh tại Mã Lai, ông Gerald Templer, yêu
cầu được gặp Ngài để tìm hiểu xem Phật Pháp có mối
liên hệ nào với ý thức hệ Cộng sản (Communist ideology)
chăng. Vì lúc bấy giờ có nhiều nguồn tin cho rằng sẽ có
những cuộc nổi dậy chống chính quyền từ các cộng đồng
PG người Hoa. Những ý tưởng sai lầm về PG của ông Toàn
quyền Gerald đã được HT. Dhammananda đả thông và hướng
dẫn ông ta trở về nghiên cứu Đạo Phật. Ngài nói với
ông ta rằng "Đạo Phật là một tôn giáo từ bi và không bạo
động vì Đức Phật hướng dẫn con người sống trong hòa
hợp và hòa bình với chính mình và người khác" (Buddhism is
a non-violent and compassionate religion taught by the Buddha to show Man
to live in peace and harmony with oneself and others). Hòa thượng Dhammananda
nhấn mạnh thêm rằng Đạo Phật dạy cho con người tu tập
tâm linh và sống có đạo đức, trong khi Cộng sản là một
phong trào chính trị. Đoán chắc HT. Dhammananda không phải là
"đơn vị thứ năm" của Cộng sản, toàn quyền Gerald đã mời
Hòa thượng giúp đỡ chính quyền về mặt tâm lý để trấn
an quần chúng, nhất là cộng đồng di dân người Hoa tại
Mã Lai, vì chính quyền hồ nghi rằng cộng đồng này có khuynh
hướng theo chủ nghĩa Cộng sản.
Hòa thượng Dhammananda đã nắm
lấy cơ hội ấy để mở rộng chương trình hoằng Pháp của
Ngài trên khắp Mã Lai. Ngài đã giúp cho Hội PG Sasana Abhiwurdhi
Wardhana và Trung Tâm PG Selangor cũng như Hội Liên Hữu PG Thế
giới tại Mã Lai đẩy mạnh công tác truyền giáo. Kết quả
cho thấy cộng đồng người Hoa đã quy hướng về với đạo
Phật rất nhiều.
Trong hai thập niên 1950 và 1960,
PG Mã Lai rất nghèo nàn ở trong hầu hết các cộng đồng.
PG trong thời kỳ này chỉ là một vỏ bọc đầy những sinh
hoạt mê tín dị đoan, tràn lan trên khắp Mã Lai. Phần lớn
người Hoa trí thức đều chán ngán và bỏ theo đạo Ky Tô,
vì họ nhìn thấy Ky Tô giáo có nhiều sinh hoạt tôn giáo tích
cực, rõ ràng, hợp lý hơn do các nhà truyền giáo nước ngoài
mang vào.
HT. Dhammananda cố gắng loại
bỏ những quan điểm sai lầm về PG trong tâm trí của quần
chúng ở Mã Lai. Ngài đã phát động một phong trào diễn thuyết
PG rầm rộ trên toàn Mã Lai, phụ tá của Ngài bây giờ có
các vị Tỳ kheo như K Gunaratana, Chuk Mor and Tỳ kheo Tiến sĩ
người Mỹ Sumangalo đã làm cho phong trào ngày càng thêm thu
hút và nhiều kết quả khả quan.
Sự phát triển của tổ
chức hoằng Pháp:
Năm1961, HT. Dhammananda đã thảo
luận với các nhà lãnh đạo cư sĩ PG Mã Lai để thành lập
một tổ chức truyền bá lời Phật dạy để đáp ứng lại
nhu cầu bức thiết của Mã Lai. Năm 1962, Hội Truyền Bá Chánh
Pháp (Buddhist Missionary Society/BMS) đã được thành lập tại
chùa PG Brickfields với các mục tiêu: Học hỏi, quảng bá PG
và văn hóa PG; khuyến khích và cổ võ mọi người học hỏi
và hành trì Phật Pháp; in ấn và phát hành Kinh sách PG; cung
cấp những pháp môn phù hợp để mọi người thực hành;
an ủi, hướng dẫn, giúp đỡ cho mọi Phật tử trong các trường
hợp đau bệnh hay chết chóc v.v...
HT. Dhammananda nghĩ rằng một
trong những phương cách để truyền bá PG là viết sách về
nhiều lĩnh vực khác nhau để người tín đồ có thể nương
theo đó mà hành trì trong đời sống hằng ngày. Vì thế Ngài
bắt đầu viết những bài báo, rồi những cuốn sách nhỏ
bỏ túi, nội dung của sách phản ảnh những thắc mắc của
người Mã Lai. Một trong những tập sách đầu tiên là hướng
dẫn cách trì tụng Kinh tiếng Pali của Đạo Phật sao cho tương
hợp với thời khoa học và tâm lý học. Từ đó Ngài tiếp
tục viết nhiều tác phẩm khác để cung ứng cho nhu cầu học
Phật của tín đồ tại Mã Lai. Tính đến nay Ngài đã viết
trên dưới 50 tác phẩm, trong số này có nhiều tác phẩm đặc
sắc như "Người Phật Tử phải tin gì ?" (What Buddhists believe);
"Làm thế nào để sống khỏi sợ hãi và lo lâu" (How to live
without fear and worry); "Bạn có tin tái sinh không?'' (Do you believe
in Rebirth); "Hạnh Phúc lứa đôi" (A happy married life); "Thiền
Định, con đường duy nhất" (Meditation, the Only way); "Kho báu
của Chánh Pháp" (Treasures of the Dhamma)..v.v... các tác phẩm
đã nhanh chóng thu hút mọi giới Phật tử Mã Lai và đến
nay những tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới như Ấn Độ, Nam Dương, Triều Tiên, Mỹ
Nam Phi, Bangladesh, Hòa Lan, Việt Nam..v.v....
Đây là lần đầu tiên nền
giáo dục PG bằng tiếng Anh được phổ biến trong giới Phật
tử ở Mã Lai, trước đó chỉ có những Kinh sách được viết
chữ Tàu. Sự tác động mạnh này nhanh chóng ảnh hưởng đến
giới thanh thiếu niên Mã Lai. Kết quả, HT. Dhammananda đã nhận
hàng núi thư từ mọi giới, đặc biệt là học sinh và sinh
viên để tìm hiểu về Phật học.
Mặc dù không phải là một
nhà Pháp sư hùng biện, nhưng HT. Dhammananda đã làm say đắm
giới trẻ với những bài giảng mang tính khoa học, trong sáng
và rõ ràng của Ngài. Điều này đã giúp cho nhiều hội đoàn
thanh niên Phật tử ra đời trong thập niên sáu mươi. Rất
nhiều giới trẻ hoặc đã nghe giảng hoặc đã đọc sách
của Ngài mà quy hướng về với Chánh Pháp.
Ngoài những ảnh hưởng bên
ngoài xã hội, HT. Dhammananda cũng có công đưa PG vào trong học
đường Mã Lai. HT. Dhammananda đã kết hợp với Thượng tọa
tiến sĩ Sumangalo, một Tăng sĩ người Mỹ, thành lập một
Học viện PG để làm việc với đại học Malaya, đại học
Sains Malaysia, đại học Pertanian, Cao đẳng Kỹ thuật Malaysia,
Viện Ngôn ngữ Mã Lai, Trường Đại Học Sư Phạm Mã Lai,
Trường Cao đẳng Tunku Abdul Rahman, Trường Cao đẳng Quân sự
Hoàng gia (Royal Military college) và gần đây nhất là đại học
Utara Malaysia ở Kedah. Tất cả những sinh viên của các trường
trên đều có học những giờ căn bản về giáo lý Phật giáo
do HT. Dhammananda và nhiều Pháp sư khác giảng dạy.
Để khuyến khích và cổ động
tầng lớp trẻ học và làm việc Phật, tổ chức của Ngài
đã thu nhận giới trẻ vào làm việc cho các cơ sở hoằng
Pháp, Học viện, in ấn và phát hành kinh... đã có rất nhiều
cư sĩ tham gia và đã trở thành những người lãnh đạo các
hội đoàn cư sĩ Phật tử, nổi bật trong số hiện nay có
các đạo hữu như Mess Tan Gin Soon, Leong Kok Hing, Ang Choo Hong,
Charlie Chia và Victor Wee, tất cả đều được ảnh hưởng
đến đạo đức và tác phong làm việc của HT. Dhammananda.
Sự thừa nhận và tán dương
về công hạnh hoằng Pháp:
Để thừa nhận và tuyên dương
các công đức hoằng pháp của HT. Dhammananda tại Mã Lai, Tăng
thống PG Thái Lan, Đại lão Hòa thượng Amunugama Rajaguru Sri
Vipassi Maha Nayaka Thera ở Chùa Răng Phật (Buddha Tooth Relic),
đã phong ban cho Ngài danh hiệu "Đại đạo sư" (Chief Sangha
Nayaka Thera) của PG Mã Lai vào năm 1965.
Ngài cũng được cung thỉnh
vào Ban chứng minh cho đại hội lần thứ 9 của Hội Liên
Hữu PG Thế giới (World Buddhist Followship) nhóm tại Kuala Lumpur
từ ngày 13 đến 20 tháng 4 năm 1969. Trong kỳ đại hội, Ngài
cũng được tuyên dương là một danh tăng của PG Mã Lai.
Vào năm 1970, HT. Dhammananda khởi
xướng và làm cố vấn tinh thần cho Hội Thanh Niên Phật Tử
Mã Lai (The Young Buddhist Association of Malaysia (YBAM) đây là một
tổ chức đại diện cho tất cả các hội đoàn Phật tử
trẻ tuổi tại Mã Lai, hiện nay vẫn còn hoạt động rất
mạnh.
Từ năm 1970 đến 1975, HT. Dhammananda
khởi đầu những chuyến đi hoằng Pháp thế giới. Trước
hết ngài đến Anh quốc giảng tại Lancaster University, Hull
University, Manchester University và Oxford University. Sau đó Ngài
đến Hoa Kỳ và được thỉnh giảng tại Dhamma Realm University
và Trường University of Oriental Studies, trong dịp này Trường
đại học Pháp giới (Dhamma Realm University) đã phong tặng bằng
Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctor of Philosophy degree) để ghi nhận
và tán thán công hạnh hoằng Pháp và những công trình sáng
tác của ngài. Bằng cấp này cũng được các đại học khác
phong tăng cho ngài đại học Đông Phương (University of Oriental
Studies) năm 1975, đại học Nalanda ở Pháp vào năm 1976 và đại
học Benares Hindu, Ấn Độ năm 1980, và đại học ở Sri Lanka
vào năm 1991, ban tặng cấp bằng Tiến sĩ văn chương (D. Litt.)
để thừa nhận những tác phẩm Phật học giá trị của Ngài
đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực nền giáo dục tôn
giáo tại Tích Lan.
Thiết lập chương trình
đào tạo tăng tài ở Mã Lai:
Vào tháng 12 năm 1976, HT. Dhammananda
đã khởi xướng và làm giám đốc chương trình đào tạo
tăng tài cho PG Mã Lai, chương trình đã được khắp nơi ở
Mã Lai áp dụng và thành công đáng kể, ngay cả ở Singapore
cũng làm theo mô hình này. Đến nay chương trình vẫn được
duy trì và số thanh niên Mã Lai phát tâm xuất gia ngắn hạn
ngày càng đông.
Hòa Thượng Dharmananda đang
giảng Pháp học Tăng Mã lai
Vào ngày 25 tháng 3 năm 1977,
HT. Dhammananda đã thành lập Viện Phật Học Paramadhamma ở
Tích Lan để tăng sĩ khắp nơi trên thế giới về tu
học. Chương trình đào tạo từ ba đến năm năm, hoặc những
khóa ngắn hạn cho những tăng sĩ hoặc cư sĩ lớn tuổi để
đưa đi hoằng pháp ngay sau khóa học.
Những đóng góp cho xã hội:
Ngoài những hoạt động Phật
sự, HT. Dhammananda còn có nhiều đóng góp để phát triển
cộng đồng. Năm 1960, Ngài là một trong những vị lãnh đạo
PG Mã Lai đứng lên đòi hỏi chính phủ Mã Lai tuyên bố ngày
lễ Phật Đản là ngày nghỉ của toàn dân, lời yêu cầu
đã được chấp thuận và vẫn duy trì cho đến ngày nay. Giữa
những năm 1960, Ngài hoạt động tích cực với Tổ chức liên
tôn giáo Mã Lai (Malaysian Inter-Religious Organisation MIRO) để
kêu gọi các tôn giáo có mặt ở Mã Lai nên sinh hoạt trong
sự hài hòa và tương kính lẫn nhau.
Năm 1984, Ngài là một trong
những thành viên sáng lập của Hội đồng Tư Vấn Tôn giáo
(Religious Consultative Council), bao gồm PG, Hồi giáo, Ky Tô giáo
để giúp cho chính quyền có những chính sách đúng đắn đối
với các tôn giáo. Do những hoạt động tích cực đóng góp
cho xã hội này mà ngày 7 tháng 6 năm 1991, Hoàng đế của Mã
Lai đã phong tặng cho Ngài tước vị cao quý "Johan Setia Mahkota".
Sự nghiệp trước tác:
Ngoài những thời thuyết giảng
giáo lý sâu sắc, rõ ràng và dễ hiểu, Hòa thượng Dhammananda
còn cống hiến cho hàng vạn độc giả trên khắp thế giới
qua những tác phẩm Phật học của ngài. Từ những tập sách
nhỏ bỏ túi cho đến những tập sách dày mấy trăm trang với
nội dung phổ cập cho mọi tầng lớp, từ học giả uyên bác
cho đến học sinh tiểu học đều có thể đọc và tiếp nhận
lời dạy của ngài. Qua ngòi bút của ngài, giáo lý thâm diệu
của Đạo Phật trở nên dễ hiểu, gần gũi và giải quyết
thỏa đáng từng vần đề của đời sống hiện tại. Tác
phẩm của ngài đã được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới, không những nó được Phật tử tìm đọc
mà những người không Phật tử cũng say mê không kém. Sau
đây là một số tác phẩm của ngài:
Tại sao phải lo âu (Why worry?)
Hạnh phúc lứa đôi (A Happy
Married life).
Tại sao phải có Đạo Phật
(Why Buddhism?)
Tại sao phải có Tôn giáo ?
(Why Religion ?)
Những gì người Phật tử
tin (What Buddhists believe).
Nhân loại hướng về đâu
(Whither Mankind).
Tôn giáo nầy là gì (What is
this Religion)
Kho báu của Chánh pháp (Treasure
of the Dhamma)
Phật giáo như một Tôn giáo
(Buddhism as a Religion)
Kinh Nhật Tụng của Phật Tử
(Daily Buddhist Devotions)
Bạn có tin tái sinh không ?
(Do you believe in Rebirth ?)
Thiền định, con đường duy
nhất (Meditation, the only way)
Cẩm nang của Phật tử (Handbook
of Buddhists)
Tôn giáo trong thời đại khoa
học (Religion in a Scientific Age)
Những viên ngọc của trí tuệ
PG (Gems of Buddhist Wisdom)
Tại sao phải có bao dung về
Tôn giáo (Why Religion tolerance ?)
Địa vị của Nữ giới trong
Phật giáo (Status of Women in Buddhism)
Cuộc sống con người và những
vấn nạn (Human life and Problems)
Phật giáo và những nhà Tư
Tưởng Tự do (Buddhism and the Free Thinkers)
Những nhân vật vĩ đại trong
Phật giáo (Great personalities on Buddhism)
Làm sao sống mà không sợ hãi
và lo âu (How to live without fear and worry)
Phật giáo dưới con mắt của
các nhà trí thức (Buddhism in the Eyes of Intellectuals)
Nguyên tắc đạo đức của
PG đối với phẩm cách của con người (Buddhist Principles for
Human Dignity).
Kinh Pháp Cú với tranh minh hoạ
và truyện tích (The Dhammapada with illustrations and stories)
Tất cả những tác phẩm trên
đều được in và phát không cho người đọc, xin quý độc
giả liên hệ đến địa chỉ sau đây để nhận sách miễn
phí: The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation 11th Floor,
55, Hang Chow S.Rd. Sec 1, Taipei, Taiwan R.O.C . Tel: (02) 3951198 . Fax:
(02) 3913415
Kết luận:
Không còn nghi ngờ gì nữa,
Hòa thượng Dhammananda đã có những đóng góp to lớn trong
phong trào phục hưng lại PG Mã Lai trong bốn thập niên qua.
Nhiều tăng sĩ Therevada gốc Mã Lai đã xuất gia tu học và
trở thành những vị tăng tài giỏi cho PG Mã Lai như đại
đức Mahinda, đại đức K. L. Dhammajothi và đại đức Sujivo,
đều do công đào tạo của Ngài.
Bên cạnh đó ngài còn mời
gọi những nhà truyền giáo khác như các vị Hòa Thượng Pandit
P Pemaratana Nayaka Thera, Hòa Thượng tiến sĩ H Gunaratana Thera,
Hòa Thượng Wimalajothi Thera, Hòa Thượng Dhammaratana Thera, và
nhiều tăng sĩ khác đến Mã Lai để giúp Ngài trong công tác
truyền giáo. Ngài cũng đã hợp tác và gần gũi với những
nhà truyền giáo Đại thừa khác như cố Đại lão Hòa Thượng
Tuyên Hóa, đến từ Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ quốc; HT. Tinh
Vân, đến từ Phật Quang Sơn, Đài Loan; Đức Dalai Lama thứ
14 đến từ Ấn Độ... để đem lại lợi ích cho quần chúng
Mã Lai.
Ngài được xem là một tăng
sĩ Nam Tông phóng khoáng, cởi mở và hợp tác với những tông
phái khác của PG. Khi tham dự diễn đàn ''Hai bậc Thầy một
lời dạy" (Two Masters One Message) tổ chức ở Penang, với sự
tham dự của các nhà lãnh đạo PG đến từ nhiều tông phái.
Ngài đã tuyên bố rằng: do nhu cầu của con người mà PG có
Tiểu Thừa và Đại Thừa. Đức Phật chỉ nói Pháp, chứ
không dạy giáo lý cho Tiểu Thừa và Đại Thừa hoặc Kim Cương
Thừa.
Hòa Thượng Dharmananda với
chư Tăng Ni Mã Lai
Dù sinh ra và lớn lên ở Tích
Lan, nhưng Ngài đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp
giáo hóa tại Mã Lai trong tinh thần vị tha và vô phân biệt
đối với Phật tử thuộc nhiều sắc tộc, màu da và truyền
thống khác nhau tại xứ sở này. Đó là lý do tại sao Ngài
nhận được nhiều sự ủng hộ, tán ngưỡng và kính phục
của quần chúng Phật tử và nhiều cộng đồng khác ở Mã
Lai và trên thế giới. Rõ ràng là Ngài có đầy đủ bảy
phẩm hạnh của một bậc đại nhân (Seven Noble Qualities of
a Great Man) mà Đức Phật đã nói trong Kinh Sakha Sutta (A.N. 4:31)
rằng: "Ngài là người đáng yêu, đáng kính trọng, học thức,
là một cố vấn, một người chịu khó lắng nghe, sâu sắc
trong đàm luận và không bao giờ chủ trương một cách vô
căn cứ" (He is lovable, respectable, cultured,
a counsellor, a patient listener,
profound in discourse and never exhorting groundlessly).
HT. Dhammanda cùng chư Tăng Ni
và Phật tử Mã Lai.
Hiện nay HT. Dhammanda tuy đã
trên tám mươi tuổi, nhưng ngài vẫn không mệt mỏi trong sứ
mệnh giáo hóa ở Mã Lai. Có rất nhiều người đã đạt được
an lạc và hạnh phúc qua công lao hoằng Pháp của ngài. Cách
tốt nhất để mọi người đền đáp công ơn ấy là nghiêm
trì Phật hạnh và chia xẻ những lợi ích ấy cho người khác.
Nguyện cầu mười phương chư Phật gia hộ cho Ngài được
pháp thể khinh an, trụ thế lâu dài để cho tứ chúng tựa
nương tu học./.
_________________
Theo tài liệu: A Brief
Introduction on His Life and Contributions to Malaysian Buddhism by Benny
Liow Woon Khin, 9-2000, và nhiều tài liệu khác.
_____________________________