ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA,
VỊ
SỨ GIẢ CỦA HÒA BÌNH
Mới đây
theo công trình nghiên cứu cá nhân của giáo sư Eric Sharp
thuộc Đại học Sydney, Australia, trong số những thánh nhân
của thế kỷ thứ 20 này, có ba thánh nhân người châu Á,
đó là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Thánh
Mahatma Ghandi (1869 - 1948) và một vị hiện sống là Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 năm 10 tuổi
Đức Đạt
Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo
thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào
đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc Tây Tạng vào ngày
6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân. Ngài
được thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền
thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 13, cũng là hiện thân của Đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara),
một vị Bồ tát của lòng từ.
Theo truyền
thống của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện
thân lòng từ của chư Phật và Bồ tát, người chọn con đường
tái sinh trở lại kiếp người để cứu giúp chúng sanh. Dalai
Lama, nghĩa là "Người bảo vệ đức tin" (Defender of the Faith),
"Biển lớn của trí tuệ" (Ocean of Wisdom), "Vua của Chánh Pháp"
(King of Dharma), Viên bảo châu như ý (Wishfulfilling
Gem).....
Đức Đạt
Lai Lạt Ma được tấn phong tước vị Dalai Lama vào ngày 22
tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức
là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người
Tây Tạng.
1. Quá trình
tìm kiếm Đức Đạt Lai Lạt Ma:
Khi Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 viên tịch vào năm 1933, chính phủ
Tây Tạng gặp khủng hoảng trong việc tìm kiếm một người
thừa kế. Năm 1935, vị nhiếp chính đi đến hồ thiêng Lhamo
Lhatso ở Chokhorgyal, khoảng 90 dặm từ thủ đô Lhasa. Theo truyền
thống của Tây Tạng, người ta có thể nhìn thấy mọi việc
ở tương lai từ hồ thiêng (Holy lake) này. Lúc bấy giờ vị
nhiếp chính thấy ba chữ Tây Tạng Ah, Ka và Ma hiện lên giữa
mặt nước trong vắt của hồ thiêng, theo sau ba mẫu tự này
là bức tranh của một ngôi chùa ba tầng với mái ngói màu
xanh lục và một căn nhà có chiếc máng xối kỳ lạ.
Năm 1937,
chính phủ Tây Tạng đã gởi những hình ảnh thiêng liêng
ấy từ hồ thiêng đến các tỉnh thành của Tây Tạng để
tìm kiếm nơi tái sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một phái
đoàn tìm kiếm tái sanh được thành lập và đi về hướng
Đông Bắc Tây Tạng, vị trưởng phái đoàn là Lạt ma Kewtsang
Rinpoche, Tu viện trưởng Tu viện Sera. Khi phái đoàn đến làng
Amdo, họ thấy quang cảnh nơi này giống y như hình ảnh đã
thấy dưới hồ thiêng. Lobsang Tsewang cải trang thành người
trưởng đoàn, và Lạt ma Kewtsang cải trang thành người thị
giả và họ vào thăm một căn nhà với chiếc máng xối kỳ
lạ. Bấy giờ Lạt ma Kewtsang có mang một xâu chuỗi (rosary)
của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé trong căn nhà
ấy đã nhận ra nó và yêu cầu được cầm xem. Lạt Ma Kewtsang
hứa sẽ cho nếu chú đoán được ngài là ai. Và chú
bé liền trả lời ngay bằng một loại tiếng lóng của địa
phương là "Sera aga'', nghĩa là ''Lạt ma ở tu viện Sera". Tiếp
đó, Ngài hỏi chú bé vị trưởng đoàn là ai và chú bé đã
trả lời đúng; chú cũng cho biết tên chính xác tên của người
thị giả. Theo sau đó là một loạt trắc nghiệm khác để
chú bé chọn lựa những đồ dùng thường ngày của Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và chú bé cũng nhận ra tất cả và
nói: ''của tôi, của tôi". Chú bé ấy chính là Đức Đạt
Lai Lạt Ma hiện nay.
Từ những
kết quả của cuộc kiểm tra này giúp họ đoán chắc rằng
họ đã tìm ra hóa thân mới và niềm tin của họ càng được
vững mạnh thêm bởi những ý nghĩa từ ba mẫu tự Tây Tạng
đã từng thấy dưới hồ thiêng: Ah là hàm nghĩa cho tỉnh
lî Amdo, nơi chú bé chào đời, Ka là chỉ cho Tu viện
Kumbum, một ngôi Tu viện lớn nhất với ba tầng gần nhà của
chú bé và Ma là ám chỉ cho ngôi tu viện Karma Rolpai Dorje ở
trên ngọn núi của ngôi làng gần bên. Cuối cùng phái đoàn
quyết định chú bé ấy là hậu thân của Đức Đạt Lai Lạt
Ma thứ 13.
2. Tu học
tại Tây Tạng :
Đức Đạt
Lai Lạt bắt đầu sự nghiệp học vấn của mình vào năm
6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất của PG Tây Tạng là
Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ triết học Phật
giáo (Doctorate of Buddhist Philosophy) ở tuổi 25 vào năm 1959.
Năm 24 tuổi, Ngài đã tham dự kỳ thi đầu tiên tại các đại
học Phật giáo Drepung, Sera và Ganden. Kỳ thi cuối cùng được
tổ chức tại Jokhang, thủ đô Lhasa trong thời gian lễ
hội Monlam, tháng giêng theo lịch Tây Tạng.
Trước
đó Ngài phải học tất cả các môn học chính như Luận
lý (Logic) văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng (Culture & Tibetan
Art), Phạn ngữ (Sanskrit), Y học (Medicine), Triết học Phật
giáo (Buddhist philosophy). Riêng môn Phật học này là khó nhất,
được chia ra làm năm phần là Bát nhã (Prajnaparamita), Trung
quán luận (Madhyamika), Giới luật (Vinaya), Luận A Tỳ Đạt
Ma (Abidharma) và Nhân minh luận (Pramana) . Và các môn học phụ
khác là: biện luận (dialetics), thơ ca (poetry), âm nhạc (music)
và kịch nghệ (drama), thiên văn (astrology), văn phạm (metre
and phraseing ).
3. Vai trò
và trách nhiệm lãnh đạo :
Vào ngày
17 tháng 11 năm 1950, Đức Đạt Lai Lạt đã khoác lên mình
một trọng trách là người lãnh đạo thế quyền của người
dân Tây Tạng (head of the State and Government) sau khi có khoảng
80.000 quân lính của Trung Quốc tấn công vào Tây Tạng.
Năm 1954,
Ngài đã đến Bắc kinh để thương thuyết hòa bình với chủ
tịch Mao Trạch Đông (Mao Tse-tung) và những nhà lãnh đạo
Trung Hoa khác, gồm Chu Ân Lai (Chou En-lai) và Đặng Tiểu Bình
(Deng Xiaoping). Tuy nhiên, các cuộc đàm phán trong chuyến đi
này không mang lại kết quả, cuối cùng Ngài đã quyết định
muốn cứu vãn cho Tây Tạng Ngài phải ra nước ngoài.
4. Đào thoát
khỏi Tây Tạng :
Với nỗ
lực mang lại một giải pháp hòa bình của Ngài cho người
dân Tây Tạng đã bị cản trở bởi một chính sách tàn bạo
của nhà cầm quyền Bắc Kinh, trong khi đó ở miền Đông
Tây Tạng dân chúng đã đứng lên kháng cự mạnh mẽ
đối với sự đàn áp của Trung Hoa. Sự kháng cự này đã
lan ra trên nhiều tỉnh thành của Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng
3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của
Tây Tạng tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính Trung Quốc
phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng
là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình ôn hòa này đã
bị bẻ gãy một cách tàn nhẫn của quân đội điên cuồng
của Hoa Lục. Kết quả của cuộc xâm lăng này đã giết chết
hàng triệu người Tây Tạng vô tội và phá hủy 6 triệu chùa
chiền tại đất nước này. Để tìm con đường giải phóng
nỗi khổ đau ấy, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đức
Đạt Lai Lạt Ma vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn để đến tị
nạn tại miền bắc Ấn Độ vào năm 1959.
5. Chính phủ
lưu vong tại Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ :
Ngày nay,
với hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại vùng đất Dharamsala,
Ấn Độ, được biết như là một ''Lhasa nhỏ", lập thành
một chính quyền lưu vong Tây Tạng với một Hội Đồng Dân
Cử Tây Tạng (Commission of Tibetan People's Deputies) vào năm 1960.
Trong những
năm đầu lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi
Hoa Kỳ lên tiếng về vấn đề của Tây Tạng, kết quả ba
quyết nghị đã được thông qua tại Hội Đồng lập Pháp
của Hoa Kỳ vào năm 1959, 1961 và năm 1965, kêu gọi nhà cầm
quyền Bắc Kinh phải tôn trọng nhân quyền của người Tây
Tạng và ước muốn tự trị của họ. Với việc thành lập
một chính phủ lưu vong Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy
rằng công việc khẩn cấp phải làm là cứu nguy dân tị nạn
và nền văn hóa của Tây Tạng. Các lĩnh vực nông nghiệp,
kinh tế, văn hóa, giáo dục đã dần được tái hoạt động
tại Ấn Độ. Trẻ em Tây Tạng được đi học và một Trường
đại học Tây Tạng được thành lập tại Ấn Độ. Có khoảng
200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại Ấn để Tăng chúng
tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo của Tây Tạng.
Năm 1963,
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban hành một hiến pháp dân chủ
(democratic constitution) hoàn toàn dựa trên giới luật của nhà
Phật và bản hiến chương nhân quyền của LHQ để biên soạn
và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do
ở tương lai.
Năm 1965,
Ngài đến tham dự đại lễ Phật Đản Phật lịch 2500 tại
Ấn Độ, đã gặp được Thủ tướng Ấn ông Nehru và
ông Chu Ân Lai, đàm phán về vấn đề của Tây Tạng.
Ngày nay,
thành viên của quốc hội Tây Tạng sẽ được bầu cử bởi
dân chúng. Hội đồng nội các được bầu cử bởi quốc
hội. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng nhiệm vụ chính
của chính quyền Tây Tạng là chăm lo cho đời sống người
dân và Ngài cũng nói thêm, khi Tây Tạng giành lại nền độc
lập, Ngài sẽ không còn ngồi ở văn phòng chính phủ
nữa.
Năm 1987,
Đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự một hội nghị nhân quyền tại
thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Ngài đề xuất một Chương Trình
Hòa Bình Năm Điểm (A Five-Point Peace Plan) bao gồm, 1) Biến
Tây Tạng thành một khu vực hòa bình; 2) Chấm dứt việc di
dân Trung Hoa đang de dọa sự tồn tại của dân tộc Tây Tạng;
3) Tôn trọng các quyền dân chủ, tự do và quyền làm người
của dân Tây Tạng; 4) Phục hồi và bảo vệ môi sinh của
Tây Tạng và chấm dứt việc sử dụng đất Tây Tạng để
sản xuất vũ khí nguyên tử và bỏ đồ phế thải nguyên
tử; và 5) Khởi sự thương thảo ngay về quy chế tương lai
của Tây Tạng và bang giao giữa Tây Tạng với Trung Hoa.
Ngày 15 tháng
6 năm 1988, tại Strasbourg, Pháp quốc, Ngài nhắc lại Chương
Trình Hòa Bình Năm Điểm và yêu cầu nhà cầm quyền Bắc
kinh trao trả lại nền độc lập cho Tây Tạng. Ngày 9 tháng
10 năm 1991, trong khi phát biểu tại đại học Yale, Hoa Kỳ,
Ngài bày tỏ ý định muốn trở về thăm Tây Tạng để đích
thân đánh giá tình hình chính trị nơi ấy. Ngài nói: ''Tôi
thật sự lo lắng vì tình cảnh bạo động có lẽ sẽ bùng
nỗ. Tôi muốn làm cái gì đó để chận đứng lại... chuyến
viếng thăm của tôi sẽ là một cơ hội mới để làm tăng
thêm sự cảm thông và tạo ra một nền tảng để giải quyết''.
6. Các giải
thưởng :
Từ chuyến
viếng thăm phương Tây đầu tiên của Ngài vào năm1973, một
số trường đại học và viện nghiên cứu đã trao tặng Ngài
những Giải thưởng về Hòa bình (Peace Award) và Bằng Tiến
sĩ danh dự (honorary Doctorate Degree) để tuyên dương những
tác phẩm xuất sắc của Ngài viết về triết học Phật giáo,
giải pháp cho những xung đột của quốc tế, vấn đề nhân
quyền và môi sinh toàn cầu. Trong lần trao giải thưởng cho
Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ủy Hội Nhân quyền Raoul Wallenberg,
dân biểu Mỹ ông Tom Lantos đã nói: "sự đấu tranh dũng cảm
của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tạo ra một sự chú ý đặc
biệt về nhân quyền và hòa bình thế giới. Sự kiên trì
đấu tranh của Ngài để chấm dứt khổ đau cho dân tộc Tây
Tạng qua những cuộc đàm phán hòa bình và hòa giải".
7. Giải thưởng
Nobel Hòa Bình năm 1989 :
Ủy ban Hòa
Bình Na Uy quyết định trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa Bình
(Peace Prize) cho Ngài vào năm 1989 sau khi được cả thế
giới tán dương và tán thành, ngoại
Đức
Đạt Lai Lạt Ma lãnh giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1989
trừ Trung
Hoa. Trong quyết định ấy có đoạn viết: "Ủy ban muốn nhấn
mạnh rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma với sự đấu tranh cho tự
do cho Tây Tạng vẫn kiên quyết không sử dụng bạo lực.
Ngài đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa trên tinh thần khoan
dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài
sản văn hóa của con người''.
Vào ngày
10 tháng 12 năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tiếp nhận giải
thưởng hòa bình trên tinh thần nhân danh những người bị
đàn áp ở khắp mọi nơi, tất cả những ai đấu tranh cho
tự do và hòa bình thế giới và đặc biệt là nhân dân Tây
Tạng. Trong lời phát biểu tại buổi lễ nhận giải, Ngài
đã nói: ''Giải thưởng đã tái xác nhận một lần nữa lòng
quyết tâm của chúng tôi rằng chân lý, lòng dũng cảm và
quyết tâm của chúng tôi như là những vũ khí, Tây Tạng sẽ
được tự do. Cuộc đấu tranh của chúng tôi vẫn phải theo
đuổi đường hướng bất bạo động và loại bỏ hận thù''
("The prize reaffirms our conviction that with truth, courage and determination
as our weapons, Tibet will be liberated. Our struggle must remain nonviolent
and free of hatred").
8. Tiếp xúc
với Đông & Tây :
Từ năm 1967,
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khởi hàng loạt chuyến viếng thăm,
đến nay đã được 46 quốc gia. Vào mùa thu năm 1991, Ngài
đến thăm vùng Baltic khi nhận được lời mời của Tổng
thống Lithuania, ông Vytautas Landsbergis, và Ngài đã trở thành
vị khách ngoại quốc đầu tiên đọc diễn văn tại quốc
hội của Lithuania. Ngài đã gặp đức Giáo Hoàng Paul đệ
lục tại Vatican vào năm 1973 và đức Giáo Hoàng John Paul
đệ nhị vào năm 1980 tại Rome và các năm khác là 1980, 1982,
1986, 1988 và 1990.
Sau đây là
bản liệt kê danh sách các quốc gia mà Đức Đạt Lai Lạt
đã viếng thăm: Argentina 1992, 1999; Úc Đại Lợi: 1982, 1992,
1996; Áo quốc: 1973, 1983, 1986, 1989, 1991,1992, 1993, 1995,
1998; Bỉ: 1973, 1990, 1991, 1994, 1999; Bulgaria 1991; Buryat
Autonomous 1991, 1993; Brazil, 1992, 1999; Canada 1980, 1990, 1993 ;
Chile 1992, 1999; Costa Rica 1989; Czechkoslvakia 1990; Đan Mạch: 1973,
1991, 1996; Estonia 1991; Phần Lan: 1988, 1996, 1998; Pháp: 1982,
1986, 1988, 1989, 1990, 1991, 1992, 1993, 1994, 1998; Đức: 1973, 1982,
1983, 1984, 1986, 1987, 1988, 1989, 1990, 1991,1992,1994, 1995, 1996, 1998,
1999; Greece 1979; Hungary 1982, 1989, 1992, 1993. 1996; Indonesia
1982; Israel 1994, 1999; Italy 1982, 1986, 1988, 1989, 1991, 1994, 1996,
1999; Nhật Bản: 1967, 1978, 1980, 1984,1994, 1995, 1998;
Latvia 1991; Liechtenstein 1991; Lithunia 1991; Mã Lai: 1982; Mexico 1989
; Mông Cổ: 1979, 1982, 1991, 1994; Nepal 1981; Tân Tây Lan: 1992,
1996; Na Uy: 1973, 1989, 1991, 1996; Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa:
1954; Hòa Lan: 1993; Cộng Hòa Ấn Độ: 1956, 1959 (cũng là nơi
Ngài trú ngụ hiện nay); Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan: 1973, 1991; Singapore:
1982 ; Tây Ban Nha: 1982, 1994 ; Nam Phi: 1996; Thụy Điển: 1973,
1988, 1990, 1991, 1996; Thụy Sĩ: 1973, 1974, 1974, 1983, 1985,
1987, 1988, 1990, 1991,1994, 1995, 1996, 1998; Thái Lan: 1967, 1972, 1993;
Hà Lan 1973, 1986, 1990,1994; Tòa thánh Vatican: 1973, 1981, 1984, 1988,
1990, 1991, 1996; Thổ Nhĩ Kỳ: 1983; Anh quốc: 1973, 1981, 1984,
1988, 1991,1993, 1994, 1996, 1999; Liên Xô cũ: 1991,1994; Hiệp chủng
quốc Hoa Kỳ: 1979, 1980, 1981, 1984, 1987, 1990, 1991, 1992,
1993, 1994, 1995, 1996, 1998, 1999.
9. Những
nhà lãnh đạo mà Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp xúc:
Năm 1999 :
Ngày 16 tháng
6: ông Josckha Fischer, Bộ trưởng ngoại giao Đức
Ngày 12 tháng
5: ông Robin Cook, Bộ trưởng ngoại giao Anh
Ngày 13tháng
5: ông Tony Blair, Thủ tướng Anh
Ngày 4 tháng
5: ông Jean Luc DEHAENE, Thủ tướng Bỉ
Ngày 14 tháng
4: ông Edwardo Frei, Tổng thống cộng hòa Chile
Ngày 7 tháng
4: ông Fernando Henrique Cardoso, Tổng thống Brazil
Năm
1998:
Ngày
8 tháng 12: ông Jacques Chirac, Tổng Thống Pháp
Ngày
8 tháng 12: ông Lionel Jospin, Thủ tướng Pháp
Ngày
8 tháng 12: ông Kofi Annan, Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc
Ngày 10 tháng
12: ông William J. Clinton, Tổng thống Mỹ
Ngày 10 tháng
12: ông Albert Gore, Phó Tổng thống Mỹ
Ngày 10 tháng
12: bà Madeleine Alright, Ngoại trưởng Mỹ
Ngày 20 tháng
12: ông Claes Anderson, Bộ Trưởng Văn Hóa, Phần Lan
Ngày 16 tháng
12: bà Elisabeth Guigou, Bộ Trưởng Tư Pháp, Pháp quốc
Ngày 9 tháng
12: ông Wolfgang Schuessel, Bộ Trưởng Ngoại giao, Áo
Năm
1997
Ngày 23 tháng
4: bà Madeleine Albright, Ngoại trưởng Mỹ
Ngày 23 tháng
4: ông William J. Clinton, Tổng thống Mỹ
Ngày 23 tháng
4: ông Albert Gore, Phó Tổng thống Mỹ
Ngày 24 tháng
3: ông Lin Feng-cheng, Bộ Trưởng Nội Vu, Đài Loan
Ngày 26 tháng
3: ông Lien Chan, Phó Tổng Thống Đài Loan
Ngày 27 tháng
3: ông Lee Teng-hui, Tổng Thống Đài Loan
Ngày 26 tháng
9: ông John Howard, Thủ tướng Úc
Năm
1996
Ngày 23 tháng
10: ông Van Mierlo, Ngoại Trưởng Phần Lan
Ngày 23 tháng
10: Tiến sĩ Klaus Hansch, Chủ tịch Nghị Viện Châu Âu
Ngày 23 tháng
10: ông Jacques Santer, Chủ tịch Liên Minh Châu Âu
Ngày 29 tháng
10: ông Jacues Toubon, Bộ Trưởng Tư Pháp, Pháp quốc
Ngày 26 tháng
9: ông John Howard, Thủ tướng Úc
Ngày 14 tháng
9: ông Alexander Downer, Ngọai trưởng Úc
Ngày 11 tháng
9: ông Jim Bolger, Thủ tướng Tân Tây Lan
Ngày 11 tháng
9: ông Don McKinnon, Phó Thủ tướng Tân Tây Lan
Ngày 22 tháng
6: ông Nelson Mandela, Tổng thống Nam Phi
Ngày 17 tháng
7: ông Malcom Rifkind, Ngoại trưởng Anh
Ngày
28 tháng 5: ông Bjørn Tore Godal, Ngoại trưởng Na Uy
Ngày 27 tháng
5: ông Pekka Haavisto, Bộ Trưởng Môi Sinh, Phần Lan
Ngày 23 tháng
5: bà Lena Hjelm-Walln, Ngoại Trưởng Thụy Điển
Ngày 20 tháng
5: Giáo hoàng Pope John Paul II
Ngày 15 tháng
5: ông Niels Petersen, Ngoại Trưởng Đan Mạch
Ngày
30 tháng 4: Hoàng tử Albert, xứ Monaco
Ngày
26 tháng 9: ông John Howard, Thủ tướng Úc
Năm 1995
Ngày 13 tháng
9: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ
Ngày 13 tháng
9: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ
Ngày 4 tháng
5: Tiến sĩ Klaus Kinkel, Ngoại trưởng Đức
Ngày 23 tháng
6: ông Flavio Cotti, Ngoại Trưởng Thụy Sĩ
Năm 1994
Ngày 8 tháng
10: bà Gro Harlem Brundtland, Thủ Tướng Na Uy
Ngày 3 tháng
7: bàVioleta Chamorro, Tổng Thống Nicaragua
Ngày 17 tháng
6: ông Silvio Berlusconi, Thủ Tướng Italy
Ngày 16 tháng
6: ông Oscar Luigi Scalfaro, Tổng Thống Italy
Ngày 9 ttháng
6: ông Marin Gonzalez, Phó Chủ Tịch Liên Minh Châu Âu
Ngày 7 tháng
6: ông Jean Luc Dehene, Thủ Tướng Bỉ
Ngày 6 tháng
6: ông Pleter Kooilmans, Ngoại Trưởng Hà Lan
Ngày 5 tháng
6: ông Wim Kok, Tổng Trưởng Tài chính Hà Lan
Ngày 29 tháng
4: Giáo sư Karl-Hans Laermann, Tổng Trưởng Giáo Dục Đức
Ngày 28 tháng
4: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ
Ngày 28 tháng
4: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ
Ngày 21 tháng
3: ông Yossi Sarid, Bộ Trưởng Môi Sinh Israel
Năm 1993
Ngày 16 tháng
11: ông Francois Mitterrand, Tổng Thống Pháp
Ngày 16 tháng
11: ông Alain Juppe, Bộ Trưởng Ngoại giao Pháp
Ngày 14 tháng
11: ông Philippe Douste Blazy, Bộ Trưởng Y Tế Pháp
Ngày 30 tháng
10: ông Alain Carignon, Tổng Trưởng Thông Tin Pháp
Ngày 28 tháng
10: ông Michel Barnier, Bộ Trưởng Môi Sinh Pháp
Ngày 14 tháng
6: Tiến sĩ Thomas Klestil, Tổng Thống Áo
Ngày 14 tháng
6: Tiến sĩ Alois Mock, Bộ Trưởng Ngoại giao Áo
Ngày 14 tháng
6: Tiến sĩ Nikolaus Michalek, Bộ Trưởng Tư Pháp Áo
Ngày 15 tháng
6: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo
Ngày 15 tháng
6: Tiến sĩ Erhard Buiek, Phó Thủ Tướng Áo
Ngày 29 tháng
6: bà Barbara McDougal, Bộ Trưởng Nội Vụ Canada
Ngày 12 tháng
5: ông Douglas Hurd, Bộ Trưởng Ngoại giao Anh
Ngày 27 tháng
4: ông William J. Clinton, Tổng Thống Mỹ
Ngày 27 tháng
4: ông Albert Gore, Phó Tổng Thống Mỹ
Ngày 26 tháng
4: ông Warren Christopher, Bộ Trưởng Ngoại giao Mỹ
Năm 1992
Ngày 6 tháng
4: ông Gareth Evan, Bộ Trưởng Ngoại giao Úc
Ngày 8 tháng
4: ông Paul Keating, Thủ Tướng Úc
Ngày 14 tháng
4: ông Don McKinnon, Bộ Trưởng Ngoại giao Tân Tây Lan
Ngày 11 tháng
4: ông Carlos Menem, Tổng Thống Argentina
Ngày 17 tháng
5: ông Patiricio Aylwin, Tổng Thống Chile
Ngày 16 tháng
7: Tiến sĩ Thomas Klestil, Tổng Thống Áo
Ngày 26 tháng
7: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo
Năm 1991
Ngày 22 tháng
3: bà Mary Rohinson, Tổng Thống Ái Nhĩ Lan
Ngày 16 tháng
4: ông George Bush, Tổng Thống Mỹ
Ngày 16 tháng
8: His Highness Hans Adam, Prince of Lichtenstein
Ngày 19 tháng
8: ông Rene Felber, Bộ Trưởng Ngoại giao Thụy Sĩ
Ngày 16 tháng
8: ông Ronald Dumas, Bộ Trưởng Ngoại giao Pháp
Ngày 2 tháng
9: ông Kurt Waldheim, Tổng Thống Áo
Ngày 2 tháng
9: ông Alois Mock, Bộ Trưởng Ngoại giao Áo
Ngày 3 tháng
9: ông Franz Vranitzky, Thủ Tướng Áo
Ngày 29 tháng
9: ông Vytautas Landsbergis, Tổng Thống Lithaunia
Ngày 30 tháng
9: ông Gediminas Vagnorius, Thủ Tướng Lithaunia
Ngày 1 tháng
10: ông Kazimieras Motieka, Phó Tổng Thống Lithaunia
Ngày 2 tháng
10: ông Anatolijs Gorbunvos, Tổng Thống Lavtia
Ngày 3 tháng
10: ông Andregs Krastins, Phó Tổng Thống Lavtia
Ngày 4tháng
10: ông Bronius Kuzmickas, Phó Tổng Thống Estonia
Ngày 5tháng
10: ông Zhelyn Zhelev, Tổng Thống Bulgaria
Ngày 2 tháng
12: ông John Major, Thủ Tướng Anh
Ngày 4 tháng
12: bà Margaretha af Ugglas, Tổng Thống Thụy Điển
Ngày 5 tháng
12: ông Uffe Ellemann-Jensen, Bộ Trưởng Ngoại giao Đan Mạch
Ngày 8 tháng
12: ông Torvald Stoltenberg, Bộ Trưởng Ngoại giao Na Uy
Năm 1990
Ngày 2 tháng
2: ông Vaclav Havel, Tổng Thống Czechoslovakia
Ngày 24 tháng
24: Hon Lizin, Bộ Trưởng thương Mại và Hợp Tác Pháp
Ngày 1 tháng
6: Đức Giáo hoàng John Paul II
Ngày 2 tháng
9: ông Gerry Weiner, Ngoại Trưởng Canada
Ngày 10 tháng
9: ông H. van den Broek, Bộ Trưởng Ngoại giao Hà Lan
Ngày 7 tháng
10: ông Richard von Weizsacher, Tổng Thống Đức
Năm 1989
Ngày 27 tháng
6: Tiến sĩ Oscar Arias, Tổng Thống Costa Rica
Ngày 3 than1g
7: ông Carlos Salinas de Gortari, Tổng Thống Mexico
Ngày 6 tháng
12: ông Jurgen Wohlrabe, Tổng Thống Tây Đức
Ngày 9 tháng
12: ông Kjell Magne Bondevik, Bộ Trưởng Ngoại giao Na Uy
Ngày 10 tháng
12: Vua Olav, Na Uy
Ngày 11 tháng
12: ông Jan P. Syse, Thủ Tướng Na Uy
Năm 1986
Ngày 13 tháng
5: Tiến sĩ Rudolf Kirchschlaeger, Tổng Thống Áo
Ngày 27 tháng
5: ông Jacques Chirac, Thủ Tướng Pháp
Năm 1982
Ngày 27 tháng
7: ông Tunku Abdul Rahman, Bộ Trưởng Ngoại giao Mã Lai
Ngày 26 tháng
7: ông A. Ratu Perwiranegasa, Tổng Trưởng Tôn giáo Mã Lai
Ngày 2 tháng
8: Ông Adam Malik, Phó Tổng Thống Nam Dương
Năm 1980
Ông Suzuki
Zenko, Thủ Tướng Nhật Bản
Năm 1978
Bà J.R. Jayewardene,
Phu nhân Tổng Thống Sri Lanka
Năm 1973
Ngày 1 tháng
9: Đức Giáo Hòang Pual V
Ngày 10 tháng
10: ông Erskine Chidlers, Tổng Thống Ái Nhĩ Lan
Ngày 10 tháng
10 ông Lien Cosgrade, Thủ Tướng Ái Nhĩ Lan
Ngày 10 tháng
10: ông Frank Aiken, Bộ Trưởng Ngoại giao Ái Nhĩ Lan
Năm 1967
Ngày 13 tháng
11: ông Field Marshal T. Kittikachorn, Thủ Tướng Thái Lan
Ngày 14 tháng
11: Vua Bhumibol Adulyadej, Thái Lan
Năm 1956
Tất cả
các vị Thủ Tướng, Tổng Thống, Phó Tổng Thống Ấn Độ
Năm 1954
Mao Trạch
Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình
10. Một Tu
sĩ Phật Giáo bình thường
Đức Đạt
Lai Lạt Ma thường nói rằng: ''Tôi chỉ là một tu sĩ Phật
giáo bình thường, không hơn, không kém'' (I am just a simple Buddhist
monk - no more, no less). Sống trong một tịnh thất nhỏ ở Dharamsala,
Ngài thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp
tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ,
tiếp khách và diễn giảng giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng
minh các đại lễ.
11. Tác phẩm
của Ngài :
Mặc dù bận
rộn với nhiều công tác của chính phủ và hoằng Pháp, nhưng
Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng dành những thời gian nhất định
để viết những tác phẩm Phật học, lịch sử, tự truyện...
để phổ biến những tinh túy trong giáo lý của Phật Đà.
Khởi viết cuốn ''Đất nước và Con người của Tôi'' (My
Land and My People) vào năm 1964 sau khi Ngài đến tị nạn tại
Ấn Độ, tính đến nay đã có trên dưới 50 tác phẩm các
loại, do chính ngài tự tay viết hoặc do đệ tử ghi chép
những bài giảng của Ngài hoặc họ viết về ngài. Đáng
chú ý trong số tác phẩm này là: "Khai mở con mắt trí tuệ"
(The opening of the Wisdom eye, xuất bản năm 1972; "Phật giáo của
Tây Tạng'' (The Buddhism of Tibet, xb năm 1975); "Dalai Lama: chính
sách của Lòng Từ" (The Dalai Lama: A Policy of Kindness, xb năm
1990); "Tự do nơi lưu đầy'' (Free in Exile, xb năm 1991); "Ý nghĩa
của cuộc sống'' (The meaning of Life, xb năm 1992) "Tia sáng trong
bóng đêm" (Flash of Lightning in the Dark of Night, xb năm 1994); ''Cuộc
đối thoại về trách nhiệm chung và giáo dục ''(Dialogues on
Universal Responsibility and Education, xb năm 1995); "Sức mạnh của
lòng từ'' (The power of compassion, xb năm 1995); "Con đường giải
thoát'' (The path of Enlightenment, xb năm 1995); "Bạo lực và Lòng
từ bi/ sức mạnh của Phật giáo" (Violence and Compassion/ Power
of Buddhism, xb năm 1995); "Bốn Chân Lý Mầu Nhiệm" (The Four Noble
Truths, xb năm 1998); "Nghệ thuật hạnh phúc" (The art of Happiness,
xb năm 1998).,"Mật Tông Kalachkra (KALACHAKRA TANTRA, Xb 1999); "ý
Nghĩa cuộc cuộc sống"( THE MEANING OF LIFE, Xb 1999); " Khoa học
Tâm Linh, cuộc đối thoại của đông &Tây" (MIND SCIENCE,An
East-West Dialogue, xb 1999); "Ngủ, nằm mơ và Chết, một cuộc
khám phá của Tâm thức" (SLEEPING, DREAMING, AND DYING, An Exploration
of Consciousness, Xb 1999) "Thế giới của PG Tây Tang, khái
quát về triết lý và thực hành" (THE WORLD OF TIBETAN BUDDHISM,
An Overview of Its Philosophy and Practice, Xb 1999 ) .v.v... (địa chỉ
liên lạc để thỉnh sách của Ngài là: Snow Lion, PO Box 6483.
Thaca, NY 14851, USA. Tel: 001-607-273-8519. Fax: 001-607-273-8508.
e-mail: Snow Lion. http://www.snowlionpub.com. Wisdom Publication, 361
Newbury Street, Boston, Ma. 02115, USA. Tel: 001-617-536-3358, Fax: 001-617-536-1897.
http://www.snowlionpub.com; Dharma Publishing, 2910 San Pablo Ave, Berkeley,
CA 94702, USA. Tel: 001-510-548-5407. Fax: 001-510-548-2230. Wisdom
Books, 402 Hoe Street, London E17 9AA, UK. Tel: 0044-181-520-5588.
Fax: 0044-181-520-0932. http://www.demon.co.uk/wisdom. Địa chỉ liên
lạc với tác giả: His Holiness the Dalai-Lama's Religious and Cultural
Society. Gangchen Kyishong, Dharamsala 176215, District Kangra, Himachal
Pradesh INDIA.
Đức Đạt
Lai Lạt Ma đang thuyết pháp tại sân vận động Sydney, Úc
châu
12. Kết luận:
Như sự mô
tả của giáo sư Eric Sharpe thánh nhân là người suốt đời
chú trọng đến việc mang lại an lạc cho con người và cuộc
đời. Trong khi theo đuổi lý tưởng ấy, họ thường phải
hứng chịu những trở ngại, đau đớn hoặc nguy hiểm đến
sinh mạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã hiện thân cho
những gì đã được mô tả ấy. Tuy nhiên, theo các nhà phân
tích, sự xuất hiện của ngài như là một định mệnh,
đã thừa kế tước vị Dalai Lama ở trong một giai đoạn bấp
bênh nhất trong toàn bộ lịch sử cao quý này. Hiện nay, vẫn
trong thân phận người tị nạn lưu vong, tuy nhiên, Ngài rất
lạc quan và hy vọng cho
Chân
dung Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
tương lai
độc lập và tự do cho thế giới và xứ sở của Ngài như
lời Ngài đã nhắc tới trong bức Thông Điệp 2000: "Thế kỷ
20 đầy xung đột và chiến tranh. Từng bước, chúng ta bảo
đảm thế kỷ tới sẽ có đặc tính bất bạo động và đối
thoại, là điều kiện tiên quyết để cùng hiện hữu bên
nhau trong hòa bình". "Xã hội nào cũng có những khác biệt
và xung đột. Tuy vậy, chúng ta cần phát triển niềm tin tưởng
rằng: đối thoại và tình bạn là một đường lối chính
chắn để tránh bạo động. Trước thiên kỷ mới, điều
mọi người cần thực hiện là tăng cường tinh thần trách
nhiệm đối với quốc tế".
Tổng hợp
theo các tài liệu:
- Mary craig
(1997) Kundun, A biography of the Family of the Dalai Lama, Harper Collins
Publishers, London
- Roger
Hicks & Ngakpa Chogyam (1984) Great Ocean, An Authories Biography of
the Buddhist Monk Tenzin Gyatso His Holiness The 14th Dalai Lama, Element
Books, Great Britain.
- Tenzin
Gyatso Dalai Lama (1998), Freedom in Exile, Snow Lion Publications, New
York.