PHẬT
GIÁO TẠI VIỆT NAM
Dẫn
Nhập: Việt
Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc
giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía
Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số
72 triệu người (1998); mật độ dân cư: 224 người/km2; dân
số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi;
tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo
chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão,
Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành.); thể chế chính trị: Cộng
Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền
thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình,
Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập
bình quân đầu người 113 đô la.
Việt Nam
là một quốc gia nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc
Đông Nam Châu Á, và là nơi dừng chân của các thương buôn
của vùng Địa Trung Hải. Từ một vị trí địa lý thuận
lợi như thế, do đó các quốc gia trong vùng này đã thiết
lập các mối quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa , tôn
giáo. qua hai con đường Hồ Tiêu, tức là đường biển qua
ngã Sri lanka, Indonesia, Trung Hoa, Việt và đường Đồng Cỏ,
là đường bộ, xuất phát từ vùng Đông Bắc Aán rồi băng
qua miền Trung Á, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam, Trung Hoa. Vì
vậy các tôn giáo lớn, trong đó có Phật giáo gặp nhiều
thuận lợi du nhập vào nước ta.
Ngay khi được
truyền vào, từ thế kỷ đầu, Đạo Phật đã nhanh chóng
thích nghi với lối sông của người dân Việt và trong quá
trình hình thành và phát triển trên đất nước này, Đạo
Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập
vào mọi giai tầng của xã hội Việt Nam. Đạo Phật đã thấm
vào nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước
thấm vào đất. Đạo Phật đã lan tỏa khắp hang cùng ngỏ
hẻm trên lãnh thổ Việt Nam và đã có một chỗ đứng nhất
định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam. Đạo lý của
Phật giáo Việt Nam cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ
của người dân Việt và đã trở thành những giá trị tinh
thần vô giá cho người dân trên xứ sở này. Trong suốt chiều
dài lịch sử mười tám thế kỷ qua, Đạo Phật đã chứng
minh sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lãnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. và có những đóng góp, những
ảnh hưởng tích cực vào các mặt nói trên.
Bài viết
này sẽ được trình bày qua hai phần:
-
Phần A: Tổng
quan về Phật Giáo Việt Nam: quá trình du nhập và phát triển
của Phật giáo Việt Nam.
-
Phần B: Sự
ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống người Việt,
qua gốc độ tư tưởng, triết lý, phong tục, tập quán, nhân
văn xã hội.
Hy vọng rằng
qua bài viết này sẽ giúp cho độc giả nắm bắt được những
nét đại cương về Phật giáo Việt Nam và tầm ảnh hưởng
của nó trong đời sống của người Việt. Dù hết sức cố
gắng ,nhưng chắc chắn sẽ không sao tránh khỏi những sơ
sót, cúi xin các bậc cao minh từ bi chỉ giáo cho. Nhân đây,
cũng xin trân trọng ghi ân các tác giả mà người viết đã
tham khảo tài liệu để hoàn thành bài nghiên cứu này.
Sàigòn,
mùa đông năm Bính Tý, 1996
Tác giả
cẩn chí
Thích
Nguyên Tạng
Phần A
TỒNG QUAN
VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
I. PHẬT
GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM: Ngày nay, căn cứ các tài liệu
(1) và các lập luận khoa học của nhiều học giả, giới
nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được
truyền vào Việt Nam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ
thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua hai con đường
Hồ Tiêu và Đồng Cỏ.
1. Phật
Giáo du nhập qua con đường Hồ Tiêu:
Con đường
Hồ Tiêu (Chemi des epices) tức là đường biển, xuất phát
từ các hải cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia,
Việt Nam...lợi dụng được luồng gió thổi định kỳ vào
hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực
Đông Nam Á, những thương nhân Ấn đã tới các vùng này để
buôn bán bằng những con thuyền buồm. Trong các chuyến đi
viễn dương này, các thương nhân thường cung thỉnh một hay
hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị
tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Đạo Phật vào các dân
tộc ở Đông Nam Á. Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung
tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân giao lưu của các
thương thuyền. Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 trước
Tây lịch, Mahoda-con vua A dục (Asoka) đã đưa Đạo Phật vào
Việt Nam (2). Tư liệu trong Lĩnh Nam Chính Quái cho biết một
dữ kiện chứng tỏ sự có mặt của Đạo Phật vào đời
Hùng Vương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ trước
công nguyên 2879-258). Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung,
con gái vua Hùng Vương thứ 3 lấy Đồng Tử. Chuyện kể rằng
Đồng Tử và Tiên Dung lập phố xá buôn bán giao thiệp với
người nước ngoài. Một hôm Đồng Tử theo một khách buôn
ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đây Đồng Tử đã gặp
một nhà sư Ấn Độ ở trong một túp lều. Nhờ đó mà Đồng
Tử và Tiên Dung đã biết đến Đạo Phật (3). Qua dữ kiện
này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các tăng sĩ
Ấn Độ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch.
Một bài
nghiên cứu của Ngô Đăng Lợi, viện nghiên cứu khoa học
Hải Phòng viết: "Vùng Đồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng
định chính là thành Nê Lê nơi có bảo tháp của vua Asoka.
Nếu quả vậy thì từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Đạo
Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta" (4). Và Thiền
Uyển Tập Anh cũng ghi nhận cuộc đàm luận giữa thiền sư
Thông Biện và Thái Hậu Phù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan) (khi bà
hỏi về nguồn gốc Đạo Phật Việt Nam vào dịp các cao tăng
trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn
Quốc - Hà Nội) vào ngày rằm tháng 2 năm 1096) Thông Biện
dẫn chứng lời pháp sư Đàm Thiên (542-607 TL) đối thoại
với Tùy Cao Đế (?-604 TL): "Một phương Giao Châu, đường
sang Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông (Trung
Hoa) chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tăng
hơn 40 người, dịch kinh được 15 quyển, vì nó có trước
vậy, vào lúc ấy thì đã có Khâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương
Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó" (5). Ma Ha Kỳ
vực, Khâu Đà La (188 TL) người Ấn Độ hay Trung Á; Mâu Bác
(165-170 TL) người Trung Hoa; Khương Tăng Hội (200-247 TL) người
Ấn Độ; Chi Cương Lương (?-264 TL) người xứ Nhục Chi, theo
sử chép đó là các vị sư có mặt sớm nhất ở Giao Châu
vào khoảng thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ ba. Có lẽ
đây chỉ là những vị được sử ghi lại tên tuổi, kỳ
thực đây không phải là phái đoàn truyền bá đầu tiên đến
Việt Nam, vì từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch đến thế
kỷ thứ hai sau Tây Lịch chắn chắc đã có nhiều tăng sĩ
đặt chân đến hoằng Pháp tại Việt Nam, cho nên Pháp sư
Đàm Thiên chỉ dẫn phần giới hạn và căn cứ vào sự có
mặt của tác phẩm Lý hoặc Luận của Mâu Bác.
Qua nhiều
tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, cư dân,
lịch sử có thể cho chúng ta một kết luận chắn chắc rằng
Đạo Phật đã được truyền trực tiếp vào Việt Nam chứ
không thông qua Trung Hoa bằng con đường Hồ Tiêu. Tuy nhiên,
cũng có nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh rằng Đạo Phật
đồng thời được truyền vào Việt Nam qua con đường Đồng
Cỏ.
2. Phật
Giáo du nhập qua con đường Đồng Cỏ
Con đường
Đồng Cỏ (Chemin des Steppes) tức là đường bộ còn gọi là
con đường tơ lụa (6) con đường này nối liền Đông Tây,
phát xuất từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Assam hoặc phía Trung
Á, một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các
vùng thảo nguyên và vùng sa mạc ở Trung Á tới Lạc Dương
bằng phương tiện lạc đà. Cũng có thể các thương nhân
và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông Mekong, sông
Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam. Cuốn Lịch sử Phật Giáo
Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: "Các thương nhân xuất
phát từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua
đèo Ba Chùa và theo sông Kanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng
tuyến đường hiện nay vẫn nối liền cảng Moulmein với thành
phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sông Mênam (.) chính
tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mekong,
địa bàn của vương quốc Kambijan. Vương quốc này có thể
là do những di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên.
Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độ vào đầu công nguyên đã
theo con đường này mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt
Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An".
Những dữ
kiện về con đường Hồ Tiêu và con đường Đồng Cỏ có
liên quan đến sự giao lưu của Việt Nam tuy chưa nhiều chứng
minh có những chứng tích mà lịch sử còn để lại, dù lịch
sử truyền miệng hay thành văn, theo lịch sử Phật Giáo Việt
Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, vua Ấn Độ
Asoka sau cuộc đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba,
vua và trưởng lão Tissa Moggaliputta đã gởi nhiều phái đoàn
Như Lai sứ giả lên đường truyền bá chánh pháp cho các nước
thuộc vùng viễn đông, trong đó có đoàn của hai vị cao tăng
là Uttara và Sona được phái đến Suvana -Bhumi, xứ Kim Địa.
Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về vùng Kim Địa nhưng ý kiến
trong quyển lịch sử Phật Giáo Thế Giới (7) thì cho rằng
vùng Kim Địa này là bán đảo Đông Dương từ Miến Điện
kéo dài đến Việt Nam. Vấn đề này được sách Lịch Sử
Phật Giáo Việt Nam (sđđ) viết: "sử liệu Phật Giáo Miến
Điện chép rằng hai vị cao tăng đó (Uttara và Sona) đã đến
Miến Điện truyền giáo nhưng sử liệu Phật Giáo tại Thái
Lan cũng ghi là hai cao tăng Uttara và Sona có đến Thái Lan truyền
giáo. Có học giả dựa vào một tài liệu Trung Hoa nói rằng
ở Giao Châu tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua Asoka, và
học giả đó xác định thành Nê Lê chính là Đồ Sơn hiện
nay (cách Hải Phòng khoảng 12km)".
Nói chung
căn cứ theo các tư liệu trên thì chúng ta có thể khẳng địng
rằng Phật Giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên
Tây lịch bằng những phương tiện hòa bình và vì thế không
một giọt máu nào đã chảy, không một giọt lệ nào rơi
vì sự truyền bá Đạo Phật vào Việt Nam.
II. PHẬT
GIÁO VIỆT NAM PHÁT TRIỂN QUA CÁC THỜI ĐẠI:
1. Phật Giáo
Việt Nam từ thế kỷ thứ II đến hết thế kỷ thứ V, thời
kỳ du nhập và hình thành Phật Giáo Việt Nam:
Không bao
lâu khi Phật Giáo được truyền vào đất Việt, nhờ sự
nổ lực hoạt động truyền giáo của các tăng sĩ Ấn Độ,
tại Luy Lâu, thủ phủ của Giao Chỉ lúc bấy giờ đã trở
thành một trung tâm Phật Giáo lớn nhất trong vùng. Tại đây,
với những sinh hoạt hoằng pháp của ngài Khâu Đà La (người
Ấn Độ đến Luy Lâu khoảng năm 168-169) đã xuất hiện một
mô hình Phật Giáo Việt Nam hóa đầu tiên qua hình tượng
Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu (hình tượng Phật
Nữ). Một chứng liệu lịch sử quan trọng khẳng định Phật
Giáo Việt Nam đã bắt rễ sớm ở Giao Châu là sự việc ngài
Mâu Bác (sinh cuối thế kỷ thứ II) theo mẹ từ Trung Quốc
sang Giao Châu khi ngài còn rất trẻ, rồi lớn lên, tại đây
ngài đã viết bài "Lý hoặc Luận" và dịch một số kinh sách,
chứng tỏ ngài đã học Phật giáo tại Giao Châu và như thế
Phật Giáo Giao Châu đã phát triển khá mạnh, ít nhất là
vào nữa đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch.
Sang thế
kỷ thứ III, có ba nhà truyền giáo nước ngoài đến hoằng
Pháp tại Giao Châu là các ngài Khương Tăng Hội (gốc người
Sogdiane, Khương Cư); ngài Chi Cương Lương Tiếp (người xứ
Nhục Chi) và ngài Ma Ha Kỳ Vực (người Ấn Độ).
Đến thế
kỷ thứ V, có hai thiền sư xuất hiện, là Đạt Ma Đề Bà
(Oharmadeva,) và Huệ Thắng (người Việt). Thiền sư Đạt Ma
Đề Bà là người Ấn Độ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ
thứ V để giảng dạy về phương pháp thiền học. Thiền
sư Huệ Thắng là người địa phương là một trong những
học trò của ông.
Cũng do được
truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu
kỷ nguyên Tây lịch, nên danh xưng Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng
Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt là Bụt
(Trung Hoa dịch là Phật). Điều này trùng hợp với danh từ
Bụt được xuất hiện trong nhiều truyện cổ tích Việt Nam.
Theo từ điển Phật học Việt Nam, (Minh Châu và Minh Chi, Hà
Nội 1991) có ghi: "Tiếng Bụt phổ biến hơn trong văn học
dân gian và là dấu hiệu chứng tỏ Đạo Phật truyền vào
nước ta sớm lắm". Phật Giáo ở Giao Châu lúc ấy mang màu
sắc Nam phương, nhưng trong con mắt của nền văn minh nông
nghiệp, người Việt Nam lại hình dung Đức Phật như là một
vị thần toàn năng có mặt ở khắp nơi, saün sàng xuất hiện
để cứu độ mọi người.
2. Phật giáo
Việt Nam từ thế kỷ thứ VI đến hết thế kỷ thứ IX, thời
kỳ phát triển:
Bước sang
thời kỳ này, Phật tử Việt Nam lại tiếp nhận thêm những
đoàn truyền giáo của Trung Quốc. Không bao lâu sau đó, Phật
Giáo Bắc phương (Trung Quốc) đã chiếm ưu thế và đã thay
đổi chỗ đứng của Phật Giáo Nam Truyền vốn có từ trước.
Từ Buddha được dịch thành chữ Phật, và từ đây Phật
dần dần thay thế cho chữ Bụt và chữ Bụt chỉ còn giới
hạn trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích mà thôi.
Trong thời
gian này, từ Trung Hoa có ba tông phái được truyền vào Việt
Nam, đó là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông.
a.Thiền
Tông :
Là tông phái
hay đúng hơn là một pháp môn tu tập có từ thời Đức Phật
Thích Ca tại Ấn Độ (trong hội Linh Sơn) rồi truyền xuống
cho Tôn giả Ca Diếp, lần lượt cho đến Tổ thứ 28 Ấn Độ
là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma). Đến năm 520 Tổ Bồ Đề
Đạt Ma, vốn là thái tử thứ ba của vua Kancipura, Nam Ấn,
vâng theo lời thầy là Bát Nhã Đa La (Prajnatara), Bồ Đề Đạt
Ma đến Trung Hoa để hoằng dương Phật pháp. Tại nơi ây,
Thiền Tông đã được hình thành và nhanh chóng hưng thịnh.
Thiền hay
còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để
tìm ra chân lý. Tu theo pháp môn này đòi hỏi hành giả phải
có nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ
biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu, và
cũng chính nhờ họ ghi chép lại mà chúng ta ngày nay mới biết
được lịch sử Thiền Tông ở Việt Nam.
-
Dòng thiền
thứ nhất: được Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sáng
lập. Ngài là người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa học đạo
và được tổ thứ ba thiền tông Trung Hoa là Tổ Tăng Xán
khuyên nên "mau đi về phương nam mà tiếp xúc với thiên hạ,
không nên ở lâu tại đây". Ngài từ biệt và đến Việt
Nam vào năm 580, ở tại chùa Pháp Vân (nay là Thuận Thành Hà
Bắc) để hoằng pháp và truyền cho tổ thứ hai là ngài Pháp
Hiền (người Việt Nam). Đây là dòng thiền có tích cách dân
tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu
việt của Phật Giáo vừa biểu lộ được đời sống thực
tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ Việt Nam. Dòng
thiền này truyền được 19 thế hệ.
-
Dòng thiền
thứ hai: là thiền phái Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô Ngôn
Thông người Trung Hoa sáng lập tại chùa Kiến Sơ (Phù Đổng,
Hà Bắc) vào năm 280. Người kế nghiệp ngài là thiền sư
Cảm Thành. Đây là thiền phái chịu ảnh hưởng Phật Giáo
Trung Hoa sâu đậm, tuy nhiên vẫn rất gần gũi với đời sống
xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vẫn
duy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình. Thiền
phái này truyền được 17 thế hệ.
-
Dòng thiền
thứ ba: là thiền phái Thảo Đường, do thiền sư Thảo
Đường (người Trung Hoa) sáng lập, ngài vốn là tù binh bị
bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông (1054-1072) giải
phóng khỏi kiếp sống tù đày và vua cho lập đạo tràng tại
chùa Khai Quốc ở ngay kinh thành Thăng Long (1069) đệ tử theo
học rất đông, trong đó có cả chính vua Lý Thánh Tông. Thiền
phái này có khuynh hướng thiền tông trí thức và văn chương,
do đó không cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh
hưởng được tới một số trí thức và vua quan có khuynh
hướng văn học. Dòng thiền này truyền được 6 đời.
-
Dòng thiền
thứ tư: đó là thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông
(1258-1368) khai sáng. Vua Trần Nhân Tông học Phật qua sự hướng
dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền sư cư sĩ nổi
tiếng đời Trần, sau khi xuất gia vào năm 1299 với đạo hiệu
là Trúc Lâm Đầu Đà, ngài đã lên tu ở núi Yên Tử (tỉnh
Quảng Ninh) và tại đây, ngài đã lập ra thiền phái Trúc
Lâm, một dòng thiền Việt Nam đầu tiên, mang tính chất độc
lập Việt Nam với sự kết hợp hài hòa của Phật Giáo Aán-Hoa.
Lập ra thiền phái Trúc Lâm này, vua Trần Nhân Tông đã thống
nhất được các thiền phái tồn tại trước đó và toàn
bộ Giáo Hội Phật Giáo đời Trần về một mối.
Nhìn chung
thiền phái Trúc Lâm là một dòng thiền tổng hợp được
ba yếu tố đặc thù của xã hội. Trúc Lâm đại diện cho
quý tộc, Pháp Loa đại diện cho nông dân và Huyền Quang đại
diện cho nho sĩ, tính cách quý tộc, nông dân và nho sĩ là
thể hiện toàn diện trong con người Trúc Lâm. Sự tổng hợp
đó, đã tạo nên nét đặc thù của thiền phái Trúc Lâm mà
các thiền phái trước đó không có được, kể từ đó đưa
Đạo Phật đi vào xã hội với tinh thần nhập thế cụ thể,
giáo hội được tổ chức chặt chẽ, cũng cố tinh thần đạo
pháp và dân tộc xây dựng phồn vinh cho đất nuớc. Sau thời
đại Lý Trần các dòng thiền Việt Nam dường như lu mờ và
tàn lụi hẳn, đến cuối thế kỷ thứ XX, tiếp nối đạo
mạch Việt Nam, thiền sư Thích thanh Từ đã phục hưng nền
thiền tông Việt Nam đó là thời điểm đầu những năm 70
tại tu viện Chơn Không (1970-1986) rồi đến Thường Viện
Thường Chiếu (1974-1994) và hiện nay là thiền viện Trúc Lâm
ở Đà Lạt. Đây có thể nói là một dòng thiền khác mang
tính cách độc lập của người Việt Nam. Thiền sư Thanh Từ
đã không theo các dòng thiền nào truyền thống mà chỉ tổng
hợp chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng của ba thiền
sư nổi tiếng là thiền sư Huệ Khả (tổ thứ 2, Trung Hoa)
thiền sư Huệ Năng (tổ thứ 6, Trung Hoa) và thiền sư Trần
Nhân Tông (sơ tổ Trúc Lâm, Việt Nam) mà lập thành phương
pháp tu tập cho thiền sinh Việt Nam trong thời hiện đại.
b.Tịnh Độ
Tông:
Khác với
Thiền Tông, Tịnh Độ Tông chủ trương phải dựa vào tha
lực tức sự giúp đỡ từ bên ngoài. Thật ra, Thiền hay Tịnh
Độ cũng chỉ là những pháp môn tu tập thích hợp cho nhiều
đối tượng khác nhau do Đức Phật truyền giáo ra. Chính Đức
Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực của mình để đến giác
ngộ thì cần phải giúp đỡ họ, sự trợ lực hay tha lực
này rất quan trọng. Điều này gợi cho tín đồ liên tưởng
đến một cõi Niết Bàn cụ thể đó là cõi Tịnh Độ hay
thế giới Cực Lạc do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ. Sự
giúp đỡ đó còn cho thấy bản thân của người tín đồ
cần thường xuyên đi chùa dâng hương, cúng dường, bố thí,
làm những điều thiện, tránh các điều ác và thường xuyên
niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà để đạt đến nhất tâm
bất loạn và muốn đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn này,
hành giả trong lúc niệm Phật phải hình dung, quán tưởng
về thế giới cực lạc để tâm mình hướng tới.
Nhờ cách
thức tu tập đơn giản như vậy nên Tịnh Độ Tông là tông
phái phổ biến khắp đất nước Việt Nam. Đâu đâu ta cũng
gặp người dân tụng Kinh A Di Đà và niệm danh hiệu của
Đức Phật A Di Đà. Tượng Phật A Di Đà cũng thuộc loại
tượng Phật lâu đời và phổ biến ở Việt Nam. Điển hình
là pho tượng Phật A Di Đà bằng đá, cao gần 2m,thờ tại
chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh, được tạo
tác dưới triều Lý Thánh Tông năm 1057. Đây là một bằng
chứng đánh dấu sự ảnh hưởng Tịnh Độ Tông đầu tiên
ở Việt Nam.
c.Mật
tông:
Là một tông
phái chủ trương sử dụng hình ảnh cụ thể và những mật
ngữ, mật chú để khai mở trí tuệ giác ngộ. Tương truyền
Mật Tông do Phật Đại Nhật chủ xướng và có hai bộ kinh
chính là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương. Mật tông truyền
vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng
mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các
truyền thống như chẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật,
yếm bùa trị tà ma và trị bệnh. Mật tông không có dấu
hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào
sự thọ trì của từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên
đến với tông phái này.
3.Phật
Giáo Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ thứ
XIII, thời kỳ cực thịnh
Đến thế
kỷ thứ X thì Việt Nam đã trải qua 1000 năm Bắc thuộc. Như
ta đã thấy, Phật Giáo Việt Nam của thế kỷ thứ V chỉ
còn ghi lại hai thiền sư là Đạt Ma Đề Bà và Huệ Thắng.
Thế kỷ thứ VI ghi lại hai thiền sư Việt Nam: Quán Duyên
và Pháp Thiền. Chính trong thế kỷ này mà thiền sư Tỳ Ni
Đa Lưu Chi đến Việt Nam. Ba thế kỷ tiếp theo, thế kỷ VII,
VIII và IX là ba thế kỷ thuộc nhà Đường cai trị, đến
thế kỷ thứ X thì Việt Nam mới bắt đầu giành được quyền
tự chủ. Chính trong thế kỷ này Đạo Phật mới thực sự
hưng thịnh và có những đóng góp tích cực cho đất nước.
Năm 971 vua Đinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban
chức tăng thống cho Thiền sư Ngô Chân Lưu thuộc thiền phái
Vô Ngôn Thông, và ngài Khuông Việt Thái Sư, chính thức tiếp
nhận Phật Giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính
sự. Cũng chính trong thế kỷ này vua Lê Đại Hành đã mời
thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái
Tỳ Ni Đa Lưu Chi làm cố vấn chính sự. Các thiền sư Khuông
Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục trợ giúp
vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp.
Phật Giáo
Việt Nam trong thời kỳ này phát triển tới mức toàn vẹn
và cực thịnh. Do ảnh hưởng tư tuởng của vua Trần Nhân
Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đầu thế kỷ thứ VIII, ba thiền
phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường sát
nhập tạo thành một và đưa tới sự phát triển của thiền
phái Trúc Lâm là thiền phái duy nhất dưới đời Trần. Vì
vậy đời Trần có thể gọi là thời đại thống nhất của
Phật Giáo các hệ phái trước đó. Tăng sĩ đời Trần không
trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị như các thiền
sư đời Lý, nhưng Phật Giáo là một yếu tố quan trọng để
liên kết nhân tâm. Tinh thần Phật Giáo đã kiến cho các nhà
chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dân,
thân dân và dân chủ. Phật Giáo trong đời Trần là quốc
giáo, mọi người dân trong xã hội điều hướng về Phật
Giáo. Nhà nho Lê Quát, học trò Chu Văn An, đã lấy làm tức
giận vì thấy toàn dân theo Phật : "Phật chỉ lấy điều
họa phúc mà động lòng người, sao mà sâu sa và bền chắc
đến như vậy? Trên từ Vương Công, dưới đến thứ dân,
hễ làm việc gì thuộc về việc Phật, thì hết cả gia tài
cũng không tiếc. Nếu hôm nay đem tiền để làm chùa xây tháp
thì hớn hở, vui vẻ, như trong tay đã cầm được biên lai
để ngày sau đi nhận số tiền trả báo lại. Cho nên trong
kinh thành ngoài đến Châu Phủ, đường cùng ngõ hẻm, chẳng
khiến đã theo, chẳng thề mà tin, hễ chỗ nào có nhà thì
có chùa Phật; bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại" (8).
Có rất nhiều
chùa tháp qui mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo đã được
xây dựng trong thời Lý Trần như chùa Phật Tích, chùa Đại
Lãm, chùa Linh Xứng, chùa Một Cột, chùa Phổ Minh. Khâm phục
trước những thành tựu văn hóa của Phật Giáo Việt Nam thời
Lý Trần mà sách vở Trung Hoa truyền tụng nhiều về 4 công
trình nghệ thuật lớn mà họ gọi là An Nam Tứ Đại Khí
(9). Đó là:
-
Tượng Phật
Chùa Quỳnh Lâm: chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều (Quảng
Ninh) được xây dựng vào khoảng thế kỷ XI, có pho tượng
Di Lặc bằng đồng mà theo văn bia mà nay vẫn còn giữ được
trong chùa thì tượng cao 6 trượng (1 trượng bằng khoảng
4m) đặt trong một tòa Phật điện cao 7 trượng. Đứng từ
bến đò Đông Triều, cách xa 10 dặm vẫn còn trong thấy nóc
chánh điện.
-
Tháp Bảo
Thiên: gồm 12 tầng, cao 20 trượng do vua Lý Thánh Tông cho
xây dựng vào năm 1057 trên khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phía
Tây Hồ Lục Thủy (tức Hồ Gươm Hà Nội ngày nay) bằng đá
và gạch, riêng tầng thứ 12 đúc bằng đồng. Đây là đệ
nhất danh thắng đế đô một thời. Đến năm 1414 tháp bị
quân Vương Thông tàn phá, nền tháp còn lại to như quả đồi,
có thời dùng làm nơi họp chợ; đến năm 1791 dỡ ra lấy
gạch xây thành còn thấy 4 pho tượng Kim Cương trấn giữ
4 cửa và nhiều tượng chim thú khác. Thời Pháp bị phá huỷ
hoàn toàn để xây dựng nhà thờ lớn trên mảnh đất ấy.
-
Chuông Quy
Điền: Năm 1101, vua Lý Nhân Tông cho xuất hàng vạn cân
đồng để đúc quả chuông này và dự định treo nó tại
khuôn viên chùa Diên Hựu (10) trong lầu chuông bằng đá xanh
cao 8 trượng. Nhưng chuông đúc xong to quá (đường kính 1,5
trượng (khoảng 6m) cao 3 trượng (khoảng 12 m), nặng đến
vài vạn cân) không treo nổi lên đành để ở ngoài ruộng.
-
Vạc Phổ
Minh: đúc bằng đồng vào thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293)
đặt tại chùa Phổ Minh (làng Tức Mặc, Nam Hà). Vạc sâu
6 thước, rộng 10 thước nặng trên 7 tấn (11). Vạc to tới
mức có thể nấu được cả một con bò mộng, trẻ con có
thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc. Đến nay vẫn còn
3 trụ đá kê chân vạc trước sân chùa Phổ Minh.
4.Phật Giáo
Việt Nam trong thế kỷ XX, thời kỳ phục hưng:
Phật Giáo
Việt Nam đã trải qua thời cực thịnh nhất dưới hai triều
đại Lý Trần, sang đến đời Hậu Lê rồi Nguyễn Triều
thì Phật Giáo phải nhường bước cho Nho giáo, lúc ấy đang
chiếm vai trò độc tôn.
Triều đại
nhà Nguyễn truyền đến đời vua Tự Đức thì mất chủ quyền,
nước ta rơi vào vòng đô hộ của Pháp. Phật Giáo Việt Nam
vốn đã suy vi nay lại điêu tàn hơn. Trong bối cảnh đó,
Ky Tô giáo đã du nhập vào Việt Nam và dân tộc Việt Nam lại
tiếp nhận thêm một tôn giáo mới của phương Tây. Tuy tinh
thần khai phóng dung hợp của Phật Giáo suốt mấy thế kỷ
qua không còn được thể hiện trong chính sách quốc gia, văn
hóa và xã hội vào thế kỷ XX nhưng Phật Giáo vẫn là tôn
giáo chính của dân tộc, đóng vai trò hòa giải giữa các
thế lực tranh chấp, góp phần xây dựng tinh thần dân tộc,
bảo vệ nền độc lập của quốc gia.
Vào khoảng
những năm 1920-1930, trong không khí tưng bừng của phong trào
chấn hưng Phật Giáo trên thế giới, đặc biệt ở Nhật
Bản, Trung Hoa, Ấn Độ và Miến Điện, một số tăng sĩ và
cư sĩ đã phát động phong trào chấn hưng Phật Giáo tại
Việt Nam, từ đó đưa đến sự thành lập Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam tại miền Bắc vào năm 1934 đặt trụ sở tại
chùa Quán Sứ, và xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ. Ở miền
Trung, Hội An Nam Phật Học cũng ra mắt tại chùa Từ Đàm
và cho xuất bản tạp chí Viên Âm vào 1934, đặc biệt hội
đã mở các Phật Học Viện cho tăng chúng tu học như phật
học đường Báo Quốc và Kim Sơn, Trúc Lâm và Tây Thiên. Ở
Bình Định có hội Phật Học Bình Định, ở Đà Naüng có
hội Phật Học Đà Thanh, ra tạp chí Tam Bảo. Tại miền Nam,
năm 1920, Hội Lục Hòa được thành lập để đoàn kết và
vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo. Hội nghiên cứu
Phật Học Nam Kỳ ra đời, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn;
xuất bản tạp chí Từ Bi Âm (1932). Năm 1933 Liên Đoàn Học
Xã ra đời. Năm 1034, hội Phật Học Lưỡng Xuyên ra đời,
xuất bản tạp chí Du Tân Phật học và mở Phật Học đường
Lưỡng Xuyên.
Nhờ phong
trào chấn hưng Phật Giáo này mà đội ngũ tăng ni được
đào tạo qua nhiều trường lớp và phát triển nhiều ở các
tỉnh. Chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhất là hệ
thống chùa phật học ở các thành thị. Nhiều ngôi chùa ở
làng xã được trùng tu và có chư tăng ni trụ trì. Bên cạnh
đó, trong thời kỳ này, có nhiều hệ phái, tôn phái phật
giáo ra đời, như giáo phái Khất Sĩ Việt Nam, Thiên Thai Giáo
Quán Tông, Phật Giáo Hoa Tông ..Một yêu cầu thống nhất Phật
Giáo được đặt ta tại Huế, đưa đến việc thành lập
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đặt trụ sở tại chùa Từ
Đàm Huế, hội chủ là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đây
là một tổ chức thống nhất Phật Giáo ba miền Nam, Trung,
Bắc, đồng thời vạch ra một con đường dân tộc nhân bản,
hướng dẫn bước đi Phật Giáo vào môi trường tư tưởng
và văn hóa, tiếp tục xây dựng con người và xã hội Việt
Nam. Điểm đặc sắc của Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ
XX là sự kết hợp của hai giáo phái Nam Tông và Bắc Tông
vào năm 1964 để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất. Giáo Hội này hoạt động cho đến năm 1981 thì ngưng
hoạt động trong nước, nhưng có văn phòng hai Viện Hóa Đạo
đặt tại tiểu bang California, Hoa Kỳ, hoạt động rất mạnh.
Đến tháng
mười một năm một nghìn chín trăm tám mốt, sau sáu năm đất
nước thay đổi thể chế, một hội nghị với 165 đại biểu
của chín tổ chức giáo hội hệ phái cả nước đã họp
tại chùa Quán Sứ Hà Nội đưa đến việc thành lập Giáo
Hội Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm
pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương, Hòa Thượng Thích
Trí Thủ làm chủ tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương. Giáo
hội đặt văn phòng I tại chùa Quán Sứ Hà Nội, văn phỏng
II tại chùa Xá Lợi (12) thành phố Hồ Chí Minh.
III. THỐNG
KÊ MỘT SỐ THÀNH QUẢ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM:
Từ khi du
nhập cho đến nay, Phật Giáo Việt Nam đã trải qua bao thăng
trầm, lúc thịnh lúc suy, có lúc thống nhất, có lúc phân
tán, do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ đây Phật Giáo Việt
Nam đã được thống nhất từ Bắc chí Nam. Các hệ phái phật
giáo vẫn được bảo lưu, nét đặc trưng trong pháp môn tu
hành vẫn được tôn trọng, hệ thống chùa chiền, tăng ni
đã được thống kê, quản lý thống nhất. Theo số thống
kê được công bố trong hội nghị thường niên của Giáo
Hội Phật giáo Việt Nam (13) thì số tự viện Phật Giáo và
số tăng ni mà giáo hội đã thống kê được (14) là 14.303
ngôi tự viện, trong đó gồm 13.312 tự viện Bắc tông, 469
tự viện Nam tông nguyên thủy và Khmer, 142 tịnh xá khất sĩ,
95 tịnh thất và 185 niệm Phật đường. Về tăng ni thì có
26.268 vị, có ba Học Viện Phật Giáo, một Trường cao đẳng
chuyên khoa phật học, 30 trường cơ bản phật học, một Trường
đào tạo đội ngũ giảng viên hoằng pháp. Ngoài ra giáo hội
Phật giáo Việt Nam đã thành lập được Viện Nghiên Cứu
Phật Học tại thành phố Hồ Chí Minh và phân viện nghiên
cứu tại thủ đô Hà Nội. Và đặc biệt là hội đồng phiên
dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam cũng đã được
thành lập, tính đến nay hội đồng đã phiên dịch ấn hành
30 tập kinh được dịch từ chữ Hán và chữ Pali, đây là
một thành quả đáng kể của Phật giáo Việt Nam. Vì đây
là lần đầu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam người Phật
tử trong xứ sở này có được một bộ đại tạng kinh bằng
tiếng Việt.
PHẦN B
ẢNH HƯỞNG
PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT
I.Ảnh
hưởng Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo
lý:
Như đã trình
bày ở phần A, ta thấy rằng Đạo Phật đã du nhập vào Việt
Nam từ những kỷ nguyên Tây lịch, rồi tồn tại, phát triển
và chan hòa với dân tộc này cho đến tận hôm nay. Nếu thời
gian là thước đo của chân lý thì với bề dày lịch sử
đó, Đạo Phật đã khẳng định chân giá trị của nó trên
mảnh đất này. Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chính
trị đặt biệt là xét trên khía cạnh hệ thống tư tưởng,
thì Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình
thành một quan niệm sống và sinh hoạt cho con người Việt
Nam. Trong phần này sẽ tìm hiểu về tư tưởng, đạo lý của
Phật Giáo đã tác động đến con người Việt Nam như thế
nào và người Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng, đạo
lý của Phật Giáo ra sao.
1.Về tư
tưởng:
Tư tưởng
hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi,
Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền
tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyên thủy cũng
như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Đạo lý
Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế
giới hiện tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn
nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc
thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả
những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây,
hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành,
tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần được phân
biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều kiện
gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ
hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư
liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng
duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những
điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng
Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần
thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân
quả cần được quán sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên
sinh mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật,
theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không bao giờ
có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai
trò quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp
nhân quả báo của Đạo Phật đã được truyền vào nước
ta rất sớm. Giáo lý này đương nhiên đã trở thành nếp
sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với người Việt
Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn
ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự
nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp
với giới bình dân mà còn ảnh huởng đến giới trí thức.
Có thể nói mọi người dân Việt điều ảnh hưởng ít nhiều
qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu
đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ Nôm,
chữ Hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ
con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp
báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui
cho con người. Thậm chí trẻ con mười tuổi cũng tự nhiên
biết câu: "ác giả ác báo". Chúng phát biểu câu rất đúng
hoàn cảnh sự việc xảy ra cho đối phương, hay "chạy trời
không khỏi nắng". Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không
phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ
tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện. Sống ở
đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra cho họ,
thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới
gặp khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và
tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp kia.
Nguyễn Du đã thể hiện ý này trong truyện Kiều rằng:
Cho hay muôn
sự tại trời
Trời kia
đã bắt làm người có thân
Bắt phong
trần phải phong trần
Cho thanh cao
mới được phần thanh cao
Hoặc:
Có trời
mà cũng có ta
Tu là cội
phúc, tình là dây oan
Nếu
ta nắm vững nguyên tắc nhân quả nghiệp báo như trên, thì
chúng ta có thể chuyển nghiệp ngay trong hiện kiếp. Cái đích
của việc chuyển nghiệp, tái tạo cá nhân là đến được
trí tuệ tối hậu. Khởi đầu của việc chuyển nghiệp là
bắt đầu thay đổi hành nghiệp thiện và ác từ ba nghiệp
Thân, Khẩu và Ý của chính mỗi cá nhân. Chứ không ngồi
một chỗ tưởng tượng đến những kết quả tốt đẹp sẽ
đến với mình. Từ những hành nghiệp thiện, giảm bớt điều
ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta có một cuộc
sống yên vui cho hiện tại và mai sau.
2.Về đạo
lý:
Đạo lý
ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu
sinh của phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc
trong tâm hồn của người Việt. Điều này ta thấy rõ qua
con người và tư tưởng của Nguyễn Trãi (1380-1442), một nhà
văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng việt Nam kiệt xuất, ông
đã khéo vận dụng đạo lý Từ Bi và biến nó thành đường
lối chính trị nhân bản đem lại thành công và rất nổi
tiếng trong lịch sử nước Việt. Ông nói điều đó trong
Bình Ngô Đại Cáo rằng:
Việc nhân
nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu
phạt trước lo trừ bạo
Bằng cách:
Lấy đại
nghĩa để thắng hung tàn
Đem chí nhân
để thay cường bạo
Cho nên khi
đại thắng quân xâm lược, đối với tù binh nhà Minh, chúng
ta không những không giết hại mà còn cấp cho thuyền bè,
lương thực để họ về nước.
Thần vũ
chẳng giết hại
Thuận lòng
trời ta mở đất hiếu sinh
Tinh thần
thương người như thể thương thân này đã biến thành ca
dao tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như
"lá lành đùm lá rách", hay
Nhiễu điều
phủ lấy giá gương
Người trong
một nước phải thương nhau cùng
Đó là những
câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng
điều thấm nhuần và thuộc nằm lòng, nói lên lòng nhân ái
vị tha của dân tộc Việt Nam.
Ngoài đạo
lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một
đạo lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân
cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo
lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước
phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt.
Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ
tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong
các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương
đất nước và mở rộng đến quê hương cao cả đối với
cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này. Đặc biệt trong
đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng
rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt.
Vì đạo phật rất chú trọng đến hiếu hạnh, và được
Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh
khác nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu
Tử, kinh Đại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đến
công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở
thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha
mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: "cùng tốt điều
thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn
bất hiếu". Bởi Phật Giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu
như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống
của dân tộc Việt.
Nhìn chung,
đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối
tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất
nước, nhân dân , chúng sanh, vũ trụ, đó là môi trường sống
của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý Tứ Ân
còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xả khiến
cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến
đến hạnh phúc chân thực và miên trường. Từ cơ sở tư
tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Phật Giáo
Việt Nam hình thành được một bản sắc đặc thù rất riêng
biệt của nó tại Việt Nam, góp phần làm phong phú và đa
dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt.
II. Ảnh
hưởng Phật Giáo qua quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam
Phật
Pháp là bất định pháp, luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh
và căn cơ của chúng sanh để hoàn thành sứ mạng cứu khổ
của mình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến mà
Đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống vô biên, vượt
qua những ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo, ý thức
hệ, thời gian ,không gian.. Tinh thần tuỳ duyên là tự thay
đổi với hoàn cảnh để có thể tiếp độ chúng sanh, tính
bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, sinh tử luân
hồi. Tuy nhiên Phật Giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất
cả các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước
trên thế giới. Khi du nhập vào một quốc gia có một sắc
thái sống riêng biệt, đặc thù, như Trung Hoa, một quốc gia
có nền tư tưởng đông phương khổng lồ, khi Phật Giáo truyền
vào thì nền văn minh này đã phát triển tới đỉnh cao của
nó, mà trong lịch sử triết học gọi là Bách Gia Chu Tử (15),
hàng trăm nhà tư tưởng đề xướng học thuyết của mình.
Nếu lúc đó Trung Hoa có 10 nhà tư tưởng tiêu biểu như Âm
Dương gia, Nhạc gia, Nho gia, Pháp gia, Danh gia, Đạo Đức gia,
Nông gia, Tiểu Thuyết gia ..thì Phật Giáo không dừng lại
cái bình bát đi khất thực, một tấm y vàng mà Phật Giáo
đã đi vào cuộc đời bằng mười tông phái như Thiền Tông,
Tịnh Độ Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thành Thật Tông, Câu Xá Tông..
Phật Giáo với mười tông phái này sánh vai với mười dòng
tư tưởng của bản địa để đi vào cuộc đời, không chỉ
đến với những giới bình dân mà Phật Giáo còn đã đi thẳng
vào cung đình, vào với những vị nguyên thủ quốc gia (16).
Ở Nhật Bản thì sao? Nhật Bản là một quốc gia được xem
là có nhều món ăn tinh thần nhất trên thế giới. Không phải
chỉ là khoái cảm cho vị giác, cho thính giác mà nhất là
cho cảm giác của tâm linh. Ở trong bối cảnh đó, Phật Giáo
đã nhanh chóng đi vào hoa, vào trà để rối cuối cùng nâng
nó lên thành một tôn giáo. trà đạo hay hoa đạo. Còn ở
Việt Nam của chúng ta thì như thế nào? Trong quá trình hội
nhập văn hóa sự ảnh hưởng của Phật Giáo đã tác động
và đã tạo cho Phật Giáo Việt Nam có những nét đặc thù
sau đây:
1.Ảnh
hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tín ngưỡng truyền
thống:
Khi được
truyền vào Việt Nam, Phật Giáo đã tiếp xúc ngay với các
tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp chặt chẽ với
các tín ngưỡng này. Biểu tượng chùa Tứ Pháp (17) thực
ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần
tự nhiên Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá. Lối kiến trúc
của chùa chiền Việt Nam là tiền Phật hậu Thần cùng với
việc thờ trong chùa các vị thần, các vị thánh, các vị
thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc.. Chính vì tinh
thần khai phóng này mà về sau phát sinh những hậu quả mê
tín dị đoan bên trong Phật Giáo như xin xăm, bói quẻ, cầu
đồng.. các nhà nghiên cứu nước ngoài rất ngạc nhiên khi
thấy Phật Giáo Việt Nam dung nạp dễ dàng các tín ngưỡng
đa thần của bản địa trong khi các quốc gia trong vùng thì
không có (19). Có nên gạt bỏ loại hình tín ngưỡng truyền
thống này ra khỏi Phật Giáo không? Vẫn là một vấn đề
rất tế nhị, tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng tinh thần
dung hòa và khai phóng của Phật Giáo Việt Nam là một trong
những nét đặc trưng đáng chú ý.
2.
Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các tôn giáo khác:
Đó là kết
quả của sự phối hợp và kết tinh của Đạo Phật với
đạo Nho và đạo Lão, được các nhà vua thời Lý công khai
hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đặc tính dung hòa và điều
hợp này mà Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưỡng
truyền thống của dân tộc Việt. Nó chẳng phải Phật giáo
Ấn Độ hay Trung Hoa, Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mà nó là
tất cả những khuynh hướng tâm linh của người dân Việt.
Nó thực ra là cái "Đồng Qui Nhi Thù Đồ", cùng về một đích
mà đường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của Phật
Giáo Việt Nam đã kết tinh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm cứu
cánh để thực hiện. Nho giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng
con đường Thiện, tức là hành vi đạo đức để tới chỗ
nhất quán với Mỹ và Chân. Đạo giáo thực hiện cứu cánh
ấy bằng con đường Mỹ, tức là tâm lý nghệ thuật để
tới chỗ nhất quán với Thiện và Chân. Phật giáo thực hiện
cứu cánh ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt
tới chỗ nhất quán Chân, Thiện, Mỹ. Đó là thực tại Tam
Vi Nhất của tinh thần tam Giáo Việt Nam. Trong nhiều thế kỷ
hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa, Lão
Tử bên trái và Khổng Tử bên phái đã in sâu vào tâm thức
của người dân Việt.
3.
Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa giữa các tông phái
Phật Giáo:
Đây là một
nét đặc trưng rất riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so
với các quốc gia Phật Giáo láng giềng. Chẳng hạn như Thái
Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật Giáo Nam Tông, ở Tây
Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ thuần tuý chỉ có Phật
Giáo Bắc Tông. Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa và điều
hợp cả Nam Tông và Bắc Tông. Chính vì tinh thần khế lý
khế cơ của Phật Giáo cộng với tinh thần khai phóng của
Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy. Tuy
thiền tông chủ trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam
chính các vị thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều
trước tác có giá trị, đặc biệt các thiền viện ở Việt
nam điều tụng kinh gõ mõ như các tự viện Tông Tịnh Độ.
Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật Giáo,
có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo
Hạnh, Nguyễn Minh Không đều nổi tiếng là giỏi phép thuật
trong việc trừ tà, chữa bệnh.
Điều đặc
sắc ở đây là trong khi khai triển Phật Giáo Việt Nam, các
thiền sư Việt Nam đã không theo thiền kiểu mẫu của các
thiền sư Ấn Độ và Trung Hoa mà mở lấy một con đường
riêng, phù hợp với dân tộc. Và trong khi tiếp nhận với
hai luồng ảnh hưởng ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo
léo điều chỉnh tính hai cực, Ấn Độ-Trung Hoa: một bên
thì quá ham chuộng sự bay bổng, thần bí, một bên quá thực
tiễn duy lý. Khi Phật Giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà
Phật học những cuộc tranh luận sôi nổi về giáo pháp. Rồi
suốt cả quá trình lịch sử của nó là sự phát sinh ra những
tôn giáo, là những cuộc đấu tranh tư tưởng dữ dội, điển
hình là cuộc đấu tranh giữa phái Thiền Nam Phương của Huệ
Năng với Thiền Phái Miền Bắc của Thần Tú vào thời kỳ
sơ đường. Còn ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởng
thời Lý cũng như thời Trần, thời kỳ vàng son của Phật
Giáo Việt Nam và các thời kỳ sau này không có những mâu
thuẫn đối lập mà tất cả điều quy về một mục đích
chính là tu hành giải thoát. Phải chăng sự thống nhất về
ý thức tư tưởng, dung hòa giữa các tông phái và đoàn kết
dân tộc đã uốn nắn Phật Giáo Việt Nam theo con đường
dung hòa thống nhất đó?
4. Ảnh
hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị
xã hội:
Phật giáo
tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có
chủ trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này
nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong các
thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều
được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những
việc quan trọng của quốc gia. Ta thấy có nhiều lý do khiến
các thiền sư Việt Nam tham gia vào chính sự, thứ nhất: họ
là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần
gũi nên thấu hiểu được nỗi đau khổ của một dân tộc
bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang. Thứ hai: các thiền
sư không có ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua
tin tưởng và thứ ba: các thiền sư không cố chấp vào thuyết
trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nho gia nên họ
có thể cộng tác với bất cứ vị vua nào đem lại hạnh
phúc cho dân chúng. Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền
sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có ngài Vạn
Hạnh, ngài Đỗ Pháp Thuận, ngài Khuông Việt cũng tham gia
triều chính. Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã
có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý Công Uẩn
lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh,
ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu
sư. Thời nhà Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên
Thông.. điều được các vua tin dùng trong bàn bạc quốc sự
như những cố vấn triều đình.
Đến thế
kỷ 20, Phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động
xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu.
Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và
cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi
hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc
đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính
quyền. Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế
này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt của các
thiền sư Việt Nam (20) trong quốc hội của nước nhà.
5.
Ảnh hưởng Phật Giáo trong đời sống người bình dân và
giới trí thức Việt Nam:
Cũng như
tất cả dân tộc khác trên thế giới từ Đông sang Tây, từ
Nam đến Bắc, lúc sơ khởi người Việt Nam tín ngưỡng và
tôn thờ tất cả những sức mạnh hữu hình hay vô hình mà
họ cho là có thể giúp đỡ họ hoặc làm hại đến họ như
mây, mưa, sấm, sét, lửa, gió.. Trong bối cảnh tín ngưỡng
đa thần này, Phật Giáo đã xuất hiện và nhanh chóng quá
thân qua hình ảnh của bộ tượng Tứ Pháp ở chùa Dâu, ngôi
chùa Phật Giáo đầu tiên của Việt Nam ở Luy Lâu (Hà Bắc
ngày nay), đó là bộ tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và
Pháp Điễn, một hình ảnh sống động và gần gũi với người
dân nông thôn trong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu
siêu, cầu xin tất cảø những gì mà cuộc sống con người
đòi hỏi. Người Phật tử trong thời kỳ sơ khai này quan
niệm rằng Phật là đấng cứu thế, có thể ban cho con người
mọi điều tốt lành.
Trong buổi
đầu của Phật Giáo ở Việt Nam mang dáng dấp của Phật
Giáo Tiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã dễ dàng gắn với
phù chú, cầu xin phước lộc hơn là tôi luyện trí tuệ và
thiền định. Vả lại, tính đời trội hơn tính đạo, trong
quần chúng đa số là phụ nữ đến với Phật Giáo, đó là
hạng người đau khổ nhất trong xã hội cũ.
Đến thời
nhà Lý, có nhiều thiền sư từ Trung Quốc sang và thiết lập
nhiều thiền phái, phong trào học và tu phật phát triển mạnh
ở trong giới trí thức, cung đình, đô thị, nhưng trong giới
bình dân vẫn tồn tại nhất định một Phật Giáo dân gian
với những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước. Được
vua triều Lý, Trần ủng hộ, hoạt động của Phật Giáo có
mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm, làng nào cũng có chùa có
tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu diễn rối
nước, họp chợ ngay ở trước chùa
Chùa làng
đã từng một thời đóng vai trò trung tâm văn hóa tinh thần
của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa không những là nơi
giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội họp,.
di dưỡng tinh thần, tham quan vãng cảnh. Bởi vì, kiến trúc
của chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên,
tạo thành một kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh. Khung cảnh
ấy phù hợp với những giờ phút nghỉ ngơi sau giờ lao động
nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của tuổi già.
Đến thế
kỷ mười lăm, Nho Giáo thay chân Phật Giáo trong lãnh vực
thượng tầng xã hội, Phật Giáo từ giã cung đình nhưng vẫn
vững vàng trong làng xã. Ngôi đình xuất hiện tiếp thu một
số kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo, đồng thời trở
thành trung tâm hành chính của làng xãâ. Cửa chùa chỉ còn
mở cửa cho đàn bà, con gái kêu van, nguyện cầu khi chồng
bị bắt phu, con bị bắt nợ, ốm đau bệnh tật, mất mùa
đói rét.. xin Phật gia hộ. Bồ Tát Quan Âm hay Phật Bà được
ưa chuộng hơn xưa. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng
được pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt trong chùa Bút
Tháp (tỉnh Hà Bắc) tạc vào năm 1656. Tượng rất đẹp nhưng
được tạo vào thời điểm Phật Giáo không còn tôn sùng
như quốc giáo nữa, chứng tỏ Phật Giáo đã ăn sâu vào tâm
tư và văn hóa nghệ thuật dân gian.
Nhìn chung
không khó khăn gì khi ta phăng tìm dấu ấn Phật Giáo trong
quan niệm dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không
có sự hiện diện của Phật Giáo ở Việt Nam thì ta sẽ mất
đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay
ta tự hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp
sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, không có chùa Tây
Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử mây mù, không có chùa
Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông
Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân
bản như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm
Thị Kính.. Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như hội
Lim, hội Chùa Hương.. và trong tâm tư truyền thống cũng vắng
tư tưởng bố thí vị tha, lòng hướng thiện và niềm tin
vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần lạc
quan hồn nhiên của người dân Việt.
Quả thật
vậy, Đạo Phật đã có mặt ảnh hưởng khắp mọi giai tầng
trong ở xã hội Việt Nam, không những trong giới bình dân
mà còn ở trong giới trí thức nữa.
Phật Giáo
thiền tông ở Việt Nam phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu
rộng trong giới trí thức, cung đình từ Đinh (968-980), tiền
Lê (980-1009) đến thời Lý (1010-1225) đã mang được trong mình
một tinh thần Việt Nam, đó là sự ra đời của một thiền
phái mới, phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông một vị vua
anh kiệt đứng đầu. Nhưng thiền tông Việt Nam phát triển
rực sáng nhất là ở giai đoạn nhà Trần (1226-1400) với những
tư tưởng vừa thăng trầm vừa phóng khoáng của các thiền
sư thời Trần đã được đúc kết trong các tác phẩm Khóa
Hư Lục của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã làm
cho bình diện học thuật Việt Nam lúc bấy giờ bỗng bừng
sáng hẳn lên. Đặc biệt sự xuất hiện thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử, do người Việt Nam sáng lập ra, thể hiện được
đầy đủ mọi đặc trưng, độc đáo của người Việt và
nó đã để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử văn hóa
Việt Nam cho tới ngày nay.
Phật Giáo
không những ảnh hưởng trong đới sống của người bình
dân và giới trí thức mà còn ảnh hưởng qua góc độ nhân
văn và xã hội
IV.
Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
Trong
đời sống thường nhật cũng như trong văn học Việt Nam ta
thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật
Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người
ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ
này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta
thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ, để tỏ lòng thương xót,
người ta bảo "tội nghiệp quá". Hai chữ tội nghiệp là từ
ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp
là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới
tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không
có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu
nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều
nguyên nhân tạo ra từ trước. Những nguyên nhân đó (theo
đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại
kết quả. Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng không phải
nhiều người biết được đó là một từ ngữ nói lên một
chủ thuyết rất căn bản của Phật: "thuyết nhân quả báo
ứng" thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian với
những cách như "ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão" hay là
câu thơ bình dân:
Người
trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng
cây đức để đời mai sau
Hoặc khi
muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng
danh từ "hằng hà sa số". Nếu hỏi hằng hà sa số là cái
gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là
nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp
gần lưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần
mô tả một con số rất nhiều, ngài thí dụ như số cát sông
Hằng. Hoặc khi có những tiếng ồn náo, người ta bảo "om
sòm bát nhã", do khi đến chùa vào những ngày sám hối, chùa
thường chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát
sanh ra cụm từ trên. Lại có những người rày đây mai đó,
ít khi dừng chân ở một chỗ, khi người ta hỏi anh đi đâu
mãi, họ trả lời tôi đi "ta bà thế giới". Ta bà thế giới
là thế giới của Đức Phật Thích Ca giáo hóa, theo thế giới
quan của Phật giáo thì thế giới ta bà to gấp mấy lần quả
địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng các con
hay quậy phá, các bà nói: "chúng bay là đồ lục tặc", tuy
nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất từ đâu?
Đó là từ nhà phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh,
hương, vị, xúc và pháp của ngoại cảnh luôn luôn quấy nhiễu
ta. Một từ ngữ có sâu xa như vậy, nhưng khi Phật Giáo truyền
bá vào Việt Nam đã bị Việt hóa trở thành lời mắng của
các bà mẹ Việt Nam. Thiền sư Toàn Nhật đời Tây Sơn trong
cuốn Tam Giáo Nguyên Lưu Ký, có phát biểu rằng:
Và như sáu
giặc trong mình,
Chẳng nên
để nó tung hoành khuấy ta (21)
Còn nghiều
từ ngữ khác như từ bi, hỷ xả, giác ngộ, sám hối đã
được người dân Việt Nam quen dùng như tiếng mẹ đẻ mà
không chút ngượng ngập lạ lùng. Sự ảnh hưởng Phật giáo
không ngừng ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu
vào những ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam
nữa.
2. Ảnh
hưởng phật giáo qua ca dao và thơ ca
Ca dao dân
ca là một thể loại văn vần truyền khẩu, dễ hiểu trong
dân gian, được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Không
ai biết rõ xuất xứ cũa những lời ca hát đó ở đâu, chỉ
biết rằng nó thường được thể hiện dưới hình thức
câu hát ru em, những câu hò đối đáp giữa các chàng trai
cô gái tuổi đôi mươi hay để kết thúc mỗi câu chuyện
cổ tích mà các cụ già kể cho con cháu nghe mang tính chất
khuyên răn dạy bảo. Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng thơ
lục bát bao gồm nhiều đề tài khác nhau, tư tưởng đạo
lý của Phật giáo cũng thường được ông cha ta đề cập
đến trong ca dao dân ca dưới đề tài này hay khía cạnh khác
để nhắc nhở, khuyên răn dạy bảo, với mục đích xây dựng
một cuộc sống an vui phù hợp với truyền thống đạo đức
của dân tộc Việt Nam.
Sự
ảnh hưởng của ngôi chùa:
Có thể nói
trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam đều có chứa
đựng ít nhiều triết lý nhà Phật và những hình ảnh về
ngôi chùa, về Phật, trải qua hàng ngàn năm gắn bó mật thiết
với làng xã Việt Nam:
Đất vua,
chùa làng, phong cảnh Bụt
Đất vua, chùa
làng là một hình ảnh gần gũi với dân, với làng, vơí nước
như vậy, nếu ai xúc phạm đến chùa, Phật thì cũng có thể
hiểu là xúc phạm đến đạo lý, đến quốc gia. Trên tinh
thần đó người dân Việt Nam quyết một lòng bảo vệ ngôi
chùa quê hương của mình:
Bao giờ
cạn nước Đồng Nai
Nát chùa
Thiên Mụ mới sai lời nguyền
Ở đâu có
chùa, có Phật, ở đó là thắng cảnh, là niềm tự hào của
quê hương:
Tây Ninh
có núi Bà Đen
Có sông
Vàm Cỏ, có toà Cao Sơn
Ở cố đô
Huế:
Đông Ba,
Gia Hội hai cầu
Có chùa
Diệu Đế bốn lầu hai chuông
Ở thành cổ
Thăng Long:
Rủ nhau
xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu
Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn (22)
Cũng như nhiều
dân tộc khác, người Việt có nhiều lễ hội, mà lễ hội
chùa là chiếm tỷ lệ cao hơn hết:
Nhớ
ngày mùng bảy tháng ba
Trở về
hội Láng, trở ra hội Thầy
Ấy ngày
mùng sáu tháng ba
Ăn cơm với
cà đi hội của Chùa Tây (Chùa Tây phương).
Dù ai đi
đâu về đâu
Hễ trông
thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn
bán trăm nghề
Nhớ ngày
mồng tám thì về hội Dâu
Dù cho cha
mẹ đánh treo
Em không
bỏ hội chùa Keo hôm rằm
Về sự ảnh
hưởng của tiếng chuông chùa:
Dân gian
Việt Nam vốn có cách định thời gian bằng đêm năm canh,
ngày sáu khắc hoặc bằng tiếng gà, tiếng chim nhưng thường
khi lại là tiếng chuông, tiếng trống của chùa:
Gió đưa
càng trúc la đà
Tiếng chuông
Linh Mụ canh gà Thọ Xương
Trên chùa
đã động tiếng chuông
Gà Thọ
Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu
Hoặc:
Chiều
chiều bìm bịp giao canh
Trống chùa
đã đánh sao anh chưa về.
Về sự ảnh
hưởng quan niệm hiếu hạnh:
Là người
Việt Nam không thể không hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và
báo ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên, ăn sâu vào
tâm khảm của người dân Việt. Tinh hoa và tinh thần cao đẹp
này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng
của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn
xưa để lại, tương xứng với tư tưởng và phong tục của
dân tộc Việt. Trong tất cả những ảnh hưởng, lớn nhất
và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của đạo
Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với
dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo Phật là
đạo hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo
ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng của
người Việt, và đã thể hiện linh động và triền miên ngang
qua ca dao dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập khắp dân gian
Việt Nam:
Công cha
như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ
như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng
thờ mẹ kính cha
Cho tròn
chữ hiếu mới là đạo con
Hay Núi cao biển
rộng mênh mông
Cù lao chín
chữ ghi lòng con ơi
Mến cảnh
chùa chiền, Phật tượng, nhưng hiếu hạnh của người con
vẫn đặt lên trên vì công ơn trời biển của cha mẹ trong
suốt quá trình dưỡng dục sinh thành, biết bao nhọc nhằn,
gian khổ đối với con. Do đó:
Vô chùa thấy
Phật muốn tu
Về nhà
thấy mẹ công phu chưa đành.
Cũng vì thương
kính cha mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật trời
gia hộ cho hai đấng từ thân:
Đêm đêm
khấn nguyện Phật trời
Cầu cho
cha mẹ sống đời với con
Thực ra,
hiếu tâm tức thị Phật tâm, hiếu hạnh vô phi Phật hạnh,
làm tròn bổn phận của người con đối với cha mẹ chính
là một trong những pháp tu của nhà phật:
Tu đâu mà
bằng tu nhà
Thờ cha
kính mẹ mới là chân tu
Hoặc Đi
về lập miếu thờ vua
Lập trang
thờ mẹ, lập chùa thờ cha
Về sự ảnh
hưởng quan niệm nhân quả:
Người Việt
Nam thường nhắn nhủ nhau chớ có vì danh lợi phù hoa, làm
ác hại người để rồi chuốc lấy đau khổ. Hãy ăn ở cho
lương thiện rồi thế nào cũng gặp điều tốt lành, may mắn
và hạnh phúc:
Ai ơi hãy
ở cho lành
Kiếp này
chẳng gặp đề dành kiếp sau.
Các bậc cha
mẹ lại càng tu nhân tích đức cho con cháu về sau được
nhờ:
Cây
xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền
lành để đức cho con.
Ngang qua
các câu ca dao của Việt Nam về hình ảnh của ngôi chùa, về
quan niệm hiếu hạnh, quan niệm nhân quả, ta thấy sự ảnh
hưởng của Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống của dân
tộc Việt Nam. Sự ảnh hưởng sâu sắc đó không thể hiện
qua ca dao bình dân mà còn chiếm nhiều trong loại hình thơ
ca, văn vần, văn xuôi, nói chung là văn chương bác học trong
nền văn học Việt Nam.
3.
Ảnh hưởng phật giáo qua các tác phẩm văn học:
Bên cạnh
ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ,
nhà văn chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu
ảnh hưởng nhiều hay ít của Phật giáo. Ở đây chúng ta
không đề cập đến dòng văn học chính thống của Phật
giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá
trình tu tập của mình, mà chỉ nói đến các thơ văn Việt
Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý Phật giáo mà thôi.
Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi Phật giáo du nhập vào
nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để
thấy rõ ràng hơn, ta chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng
của Phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết
chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa là bắt đầu thừ thế
kỷ thứ 18 trở về sau.
Tác phẩm
chữ
Nôm nổi tiếng trong thế kỷ thứ mười tám là Cung Oán Ngâm
Khúc của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Gia thiều (1741-1798), tác
phẩm viết bằng thơ nôm. Thể song thất lục bát, dài 356
câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán
than về thân phận mình. Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh
hưởng của Phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô Thường,
Khổ, Vô Ngã. Khi diễn tả thân phận con người vốn khổ
đau và mang tính vô thường, ông viết:
Gót danh lợi
bùn pha sắc xám
Mặt phong
trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân
phù thế mà đau
Bọt trong
bể khổ, bèo đầu bến mê.
Theo cái nhìn
của Phật giáo, khi mô tả nỗi khổ chúng sanh thường được
dùng ẩn dụ như khổ ải (bể khổ). Cái khổ ấy từ đâu
mà có, vốn từ chỗ lầm chấp, vô minh của con người mà
có, từ chỗ mê lầm ấy mà được hình dung bằng mê tân
(bến mê), Như thế danh từ bể khổ của phật giáo đã giúp
ông Nguyễn Gia Thiều diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của
kiếp người, cái khổ đau ấy, cái vô thường ấy không những
chi phối ở con người mà còn ở cả cây cỏ, hoa, lá, thế
giới vô tình, tất cả chịu chung qui luật khắc nghiệt ấy:
Tiêu điều
nhân sự đã xong
Sơn hà cũng
ảo, côn trùng cũng hư
Cầu thệ
thủy ngồi trơ cổ độ
Quán tu phong
đứng rũ tà huy
Phong trần
đến cả sơn khê
Tang thương
đến cả hoa kia cỏ này
Tuồng ải
hóa đã bày ra đấy
Kiếp phù
sinh trông thấy mà đau
Trăm năm
còn có gì đây
Chẳng qua
một nấm cỏ khâu xanh rì
Con người
và vạn vật đã vô thường và đau khổ như thế, còn gì
nữa để đắm chấp, chạy theo nó mà không tìm một con đường
giải thoát khỏi vòng lẩn quẩn ấy? Ta hãy nghe Ôn Như Hầu
đưa ra giải pháp cuối cùng và quyết định:
Thà mượn
thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất
tình quyết dứt cho xong,
Đa mang chi
nữa đèo bồng,
Vui vì thế
sự mà mong nhân tình.
Lấy gió
mát trăng thanh mà kết nghĩa,
Mượn hoa
đàm, đuốc tuệ làm duyên
Thoát trần
một gót thiên nhiên
Cái thân
ngoại vật là tiên trong đời
Điểm qua
một vài đoạn trong Cung Oán Ngâm Khúc, ta thấy Ôn Như Hầu
đã dùng triết lý Tam Pháp Ấn để nhắc nhở người đời.
Tuy lời văn đượm màu tang thương và bi đát của con người
và cuộc đời, nhưng tất cả chúng ta phải thừa nhận rằng
Cung Oán Ngâm Khúc là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử văn
học dân tộc việt đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm
giác (23) mà trong đó tư tưởng triết lý đạo Phật đóng
vai trò chủ đạo.
Qua thế kỷ
thứ mười chín, với thi hào Nguyễn Du (2765-1820) ta có được
một áng văn bất hủ là Truyện Kiều, là một truyện thơ
nôm viết bằng thể lục bát dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều
của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), gồm 3254 câu thơ. Đây
là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo,
trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế,
một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó
là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về nhân quả và nghiệp
báo. Điều đó có lý, vì lẽ chính Nguyễn Du đã tự nhận
mình là một Phật tử và từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã đến
cả ngàn lần.
Thật vậy,
Đoạn Trường Tân Thanh dường như chỉ là để chứng minh
cho triết lý nhân quả của Phật Giáo. Theo thuyết này, những
điều họa phúc mà con người phải gánh chịu ở kiếp này
điều có nghiệp nhân ở kiếp trước, khi mới sinh ra ở đời
ta phải mang lấy cái nghiệp tức là cái kết quả của những
vô minh ái dục mà ta đã gây tạo từ trước, và cuộc đời
của chúng ta sẽ hạnh phúc hay đau khổ, tai họa hay may mắn
đều tùy thuộc vào cái nghiệp thiện hay ác, tốt hay xấu,
nặng hay nhẹ mà chính mình đã gây tạo:
Đã mang lấy
nghiệp vào thân
Thì đừng
trách lẫn trời gần trời xa
Nhưng theo
Phật Giáo thì nghiệp không phải là định nghiệp, là bất
khả chuyển, cho nên ông mới tự tin:
Sư rằng
phúc họa đạo trời
Cội nguồn
cũng bởi lòng người mà ra
Có trời
mà cũng có ta
Tu là cội
phúc, tình là dây oan
Trong Đoạn
Trường Tân Thanh nàng Kiều phải mang một cái nghiệp rất
nặng. Vì cái nghiệp ấy mà người con gái đầu xanh chưa
tội tình gì mới bước chân vào cuộc đời đã gặp biết
bao khổ lụy: cha và em trai bị tù tội, mối tình đầu tan
vỡ, và bắt đầu từ đó nàng lăn lóc từ nơi này qua nơi
khác, có khi tưởng ra khỏi vòng nhưng rồi lại bị lôi cuốn
đày đọa, mãi cho đến khi tự vẫn ở sông Tiền Đường,
Đạm Tiên mới cho biết rằng nàng đã qua khỏi bước đoạn
trường và sắp được sống một cuộc đời vui tươi xán
lạn:
Chị sao phận
mỏng đức dầy,
Kiếp xưa
đã vậy lòng này dễ ai?
Tâm thần
đã thấu đến trời
Bán thân
là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm
vì nước vì dân
Âm công
cất một đồng cân đã già.
Đoạn trường
sổ rút tên ra
Đoạn trường
thơ đã đem về trả nhau
Còn duyên
hưởng thụ về sau
Duyên xưa
đầy đặn, phúc sau dồi dào.
Qua ý tưởng
phước đức, duyên nghiệp trên của Đoạn Trường Tân Thanh
ta thấy cụ Nguyễn Du rõ ràng đã chịu ảnh hưởng sâu xa
của Phật Giáo. Nàng Kiều bao nhiêu năm chìm nổi điêu đứng
vì một chữ nghiệp, cứ mỗi lần thất bại là một lần
ý nghĩa của chữ ấy càng rõ rệt thấm thía đối với thân
phận của nàng. Sự tin tưởng của nàng cũng là sự tin tưởng
của Nguyễn Du, người đã từng chịu đau khổ và bao phen
thất bại nên thức tỉnh và tìm đường trở về vớí Chánh
pháp. Ngoài Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du còn viết văn
tế Thập Loại chúng sanh còn gọi là Kinh Chiêu Hồn, là một
tác phẩm cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm với triết lý Phật
Giáo:
Kiếp phù
sinh như bào như ảnh
Có chữ
rằng: vạn cảnh giai không
Ai hay lấy
Phật làm lòng
Tự nhiên
siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Nếu ở đầu
thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Nguyễn Du thì cuối thế
kỷ thứ mười chín chúng ta có Chu Mạnh Trinh (1862-1905) một
nhà thơ VN người làng Phú Thị, huyện Khoái Châu, tỉnh Hải
Hưng, ông đậu tiến sĩ năm 1902. Là một người tài hoa về
thơ, giỏi và thích kiến trúc, ông đã từng vẽ kiểu và
trùng tu chùa Thiên Trù ở Hương Tích. Cũng trong thời gian
(giữa những năm 1891-1892) xây dựng chùa này mà ông đã sáng
tác nhiều bài thơ độc đáo về phong cảnh Hương Tích và
tất nhiên thơ của ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh
thần của Phật Giáo, chẳng hạn như bài:"Hương Sơn Phong
Cảnh":
Bầu trời
cảnh Bụt thú Hương Sơn
Ao ước
bấy lâu nay
Kìa non non,
nước nước, mây mây.
Đệ nhất
động hỏi rằng đây có phải?
Thỏ thẻ
rừng mai chim cúng trái,
Lững lờ
khe yến, cá nghe kinh.
Thoảng bên
tai một tiếng chầy kình,
Khách tang
hải giật mình trong giấc mộng.
Thật vậy
qua những bài thơ này, ta thấy thơ của Chu Mạnh Trinh đã
phản chiếu được lòng tin của ông đối với giáo lý nhà
Phật và qua cái nhìn ông một cảnh vật ở đó thật giải
thoát, an lạc, thanh vắng, và có thể nói cảnh vật Hương
Sơn với ông trở thành một cõi riêng của Phật trong đó
không những người tín đồ mà cho đến cả chim, cá, khe,
động đều thấm nhuần được ánh sáng của Chánh Pháp.
Qua đầu
thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta có một nhà thơ đáng yêu,
tuy không phải là tín đồ Phật Giáo, nhưng thỉnh thoảng
văn thơ của ông cũng đã ảnh hưởng ít nhiều từ ngôn ngữ,
tư tưởng nhà Phật, đó là thi sĩ Hàn Mạc Tử (1912-1940),
xin đơn cử một bài thơ của ông:
Thơ tôi thơm
huyền dịu
Mọc lên
Đạo Từ Bi
Khi xưa ta
là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh
bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Đao
Lợi, đến trời Đâu Suất
Họp tinh
khí muôn năm thành Chánh quả
Lời nguyện
gẫm xanh như màu huyền diệu
Não nề
lòng viễn khách giữa lúc mơ
Trời từ
bi cảm động ứa sương mờ
Sao gió lại
bay hồn trong kẽ lá
Những chữ
trời từ bi, chín từng trời, Đao Lợi, Đâu Suất, thành chánh
quả..đều là danh từ của nhà Phật. Hay với J. Leiba (24)
một nhà thơ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 cũng có những
bài ảnh hưởng sâu đậm triết lý nhà Phật:
Phật giáo
vô biên độ chúng sanh
Bè từ thả
với kiếp lênh đênh
Trần ai
đã đẫm muôn hồ lệ,
Xin độ
trì đôi lứa tuổi xanh.
* * *
Con dẫu trần
tâm đã sạch rồi
Lòng từ
vương một chút không thôi
Đoái trông
lục hợp sinh tà lụy
Bao sợi
dây oan buộc kiếp người.
Có thể nói
J. Leiba là nhà thơ trẻ nhất thời đó đã quay về với Đạo
Phật để tìm lấy sự an lạc cho tâm hồn cho những ngày
cuối đời mình:
Phù thế
đã nhiều duyên nghiệp quá
Lệ lòng
mong cạn chốn am không
Cửa thiền
một đóng duyên trần dứt
Quên hết
người quen chốn bụi hồng
Và với Vũ
Hoàng Chương (1916-1976) nhà thơ nổi danh khác của Việt nam
lại đi xa hơn, mượn ngay những giáo lý của Phật như Nhân
Quả, Luân Thường, khổ đau..để diễn tả nỗi niềm khao
khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác:
Ta còn để
lại gì không?
Kìa non đá
lở, nay sông cát bồi
Lang thang
từ độ luân hồi
U minh nẻo
trước, xa xôi dặm về
Trông ra
bến hoặc bờ mê
Nghìn thu
cửa chớp, bốn bề một phương.
Điểm qua
một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật
Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã
để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng
của Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng trên mặt văn chương
xuất bản mà Phật Giáo còn có mặt trong nhiều phong tục
tập quán ở Việt Nam.
4. Ảnh hưởng
Phật Giáo qua phong tục, tập quán :
Phong tục
tập quán thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về văn hóa
của mỗi dân tộc. Thông qua việc tìm hiểu phong tục tập
quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa mang
bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người
Việt Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng Phật
giáo khá nhiều. Song ở đây người viết chỉ đề cập đến
những tập tục phổ biến trong đời sống hằng ngày của
người Việt.
* ẢÛnh
hưởng phật giáo qua tập tục ăn chay, thờ Phật, phóng sanh
và bố thí:
Về ăn chay,
hầu như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng
nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan
niệm từ bi của Phật giáo. Vì khi đã trở về với Phật
pháp, mỗi người Phật tử phải thọ giới và trì giới,
trong đó giới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái
lại phải thương yêu mọi loài. Trong hành động lời nói
và ý nghĩa, người Phật tử phải thể hiện lòng từ bi.
Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, còn
uống máu chúng sanh. Để đạt được mục đích đó, người
Phật tử phải dùng đến phương pháp ăn chay. Cố nhiên người
xuất gia ăn chay trường, còn Phật tử tại gia còn nhiều
trở ngại nên chỉ ăn chay kỳ. Thông thường người
Việt Nam, cả Phật tử lẫn người không phải Phật tử cũng
theo tục lệ đặc biệt này, họ ăn chay mỗi tháng hai ngày,
là ngày mùng một và ngày rằm mỗi tháng, có người ăn mỗi
tháng bốn ngày là ngày 01, 14, 15 và 30, nếu tháng thiếu thì
ăn chay ngày 29, có người ăn mỗi tháng sáu ngày là những
ngày mùng 8,14, 15, 23, 29 và 30 (nếu tháng thiếu thì ăn chay
ngày 28, 29), có người phát tâm ăn chay mỗi tháng mười ngày
là ngày 1,8,14,15,18,23,24, 28 và 30 và mùng 1 (nếu tháng thiếu
thì ăn vào ngày 27,28,29) cũng có nhiều người phát nguyện
ăn chay suốt cả tháng (thường là tháng bảy âm lịch) hoặc
ba tháng (tháng giêng, tháng bảy và tháng mười) hay cả năm,
đôi khi có một số người đi phát nguyện ăn trường trai
giống như những người xuất gia.
Về mặt
ăn uống, ăn chay rất phù hợp với phong cách ăn uống Á Đông,
chú trọng ăn ngũ cốc nhiều hơn thực phẩm động vật, vả
lại ăn chay giúp cho cơ thể được nhẹ nhàng, trí óc được
minh mẫn sáng suốt. Gần đây các bác sĩ Soteylo, và bác sĩ
Varia Kiplami cho biết trong các thứ thịt có nhiều chất độc,
rất nguy hiểm cho sức khoẻ con người. Và các nhà khoa học
đều cho rằng ăn chay rất hợp vệ sinh và không kém phần
bổ dưỡng. Trên tinh thần đó, nên người Việt Nam dù không
phải là Phật tử cũng thích ăn chay, và tập tục này đã
ảnh hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam
từ xưa đến nay.
Ăn chay và
thờ Phật là việc đi đôi với nhau của người Việt Nam.
Việc thờ Phật trong dân gian cũng có nhiều điều thú vị.
Người Phật tử, người mộ đạo thờ Phật đã đành, nhiều
người không phải là Phật tử cũng dùng tượng Phật hay
tranh ảnh có yếu tố Phật giáo để chiêm ngưỡng và trang
trí cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm. Theo quan niệm của
nhóm người này, Phật giáo là một thành tựu về tư tưởng
văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Cũng xuất
phát từ tinh thần từ bi của đạo Phật tục lệ bố thí
và phóng sanh đã ăn sâu vào đời sống sinh hoạt của quần
chúng. Đến ngày rằm và mùng một, người Việt thường hay
mua chim, cá, rùa..để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng
sanh. Người Việt cũng thích làm phước bố thí và saün sàng
giúp đỡ kẻ nghèo khó, hoạn nạn, vào các ngày lễ hội
lớn họ tập trung về chùa. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại
những biểu hiện mang tính chất hình thức trên này càng bị
thu hẹp. Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu
trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn,
hoàn cảng sống gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo
lý của dân tộc lá lành đùm lá rách.
b/ Ảnh
hưởng Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và lễ
chùa.
Theo đúng
truyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng
sóc vọng, tức là ngày mặt trời mặt trăng thông suốt nhau,
cho nên thần thánh, tổ tiên có thể liên lạc, thông thương
với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng
với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết
lập là ngày trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành
vi của mình, gọi là ngày Bố tát và ngày sám hối, người
tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối, cầu nguyện bỏ
ác làm lành và sửa đổi thân tâm. Quan niệm ngày sóc vọng
là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát
từ ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa. Ngoài việc đi
chùa sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắm
đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông
Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá
cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ.
Bên cạnh
việc đi chùa sám hối vào ngày rằm, mùng một, người Việt
Nam còn có tập tục khác là đi viếng chùa, lễ Phật vào
những