PHẬT
GIÁO TẠI ÚC CHÂU
Úc (Australia)
là một quốc gia nằm ở Nam bán cầu trong vùng ranh giới của
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một bộ phận nằm
trong Khối Thịnh Vượng Chung thuộc Anh. Thủ đô: Canberra;
Diện tích 7,6 triệu km2; Dân số: 18 triệu người (thống kê
năm 1997); Mật độ dân cư: 2,2/km2; Dân số dưới 15 tuổi:
22.2%; tuổi thọ trung bình: 76,6 tuổi; tử xuất trẻ em: 7,5%
; trình độ văn hoá cấp II : 99%; Thể chế chính trị: dân
chủ đại nghị; thu nhập bình quân đầu người: 17.450 đô
la. Phật giáo là một trong bốn tôn giáo chính ở Úc bao gồm
Gia Tô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo.
Phật giáo
(PG) chính thức được truyền đến Úc vào năm 1848 của thế
kỷ thứ 19, khi người Trung Hoa đổ xô đi tìm vàng ở một
vùng phía Đông của nước Úc. Trong nhóm người này có một
số là tín đồ của đạo Phật nên họ đã dựng một ngôi
chùa nhỏ tại đó với những vật liệu tạm thời, nay ngôi
chùa này tuy không còn nhưng những pho tượng còn sót lại
giúp ta khẳng định được niên đại PG đã du nhập vào đất
Úc.
Đến tháng
11 năm 1882, số lượng Phật tử được gia tăng nhờ có nhóm
người Tích Lan đến Úc để làm việc trên những đồn điền
mía đường ở vùng Mackay, phía Bắc bang Queensland và các sở
công nghiệp ngọc trai ở trên đảo Thursday(bang Queensland).
Đầu những năm 1890, dân số Phật tử trên đảo Thursday,
lên đến 500 người Tích Lan. Hai cây Bồ đề được cộng
đồng này trồng lúc ấy đến nay vẫn còn. Một ngôi chùa
cũng đã được người Tích Lan xây dựng trên đảo Thursday
này.
Cuối thế
kỷ thứ 19, ở phương Tây đột nhiên nổi lên phong trào nghiên
cứu và học hỏi tôn giáo và văn hóa Á châu. Ở Úc cũng
đã ảnh hưởng không khí đó. Vào năm 1891, ông Henry Steel
Olcott, người có công xây dựng nền tảng cho PG tại Hoa Kỳ,
đã dành 5 tháng để đi diễn thuyết Phật pháp trên khắp
nước Úc. Những bài giảng và cuốn sách "Phật pháp vấn
đáp" (Buddhist Catechism) của ông đã gây ảnh hưởng rộng
lớn trong giới trí thức Úc. Một người trong số đó là
ông Alfred Deakin, người về sau ba lần được bầu làm Thủ
tướng của nước Úc. Ông có viết một cuốn sách về chuyến
viếng thăm Ấn Độ và Tích Lan của ông, trong đó ông dành
3 chương viết về Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Trong
thời gian đó tổ chức của ông Olcott đóng vai trò quan trọng
trong việc truyền bá PG tại Úc, Hội của ông đã cung cấp
kinh sách và giới thiệu nhiều Pháp sư đến giảng dạy tại
Úc. Một trong những người này là ông F. L. Woodward, đến
Úc vào năm 1919 sau 16 năm làm Hiệu trưởng Trường Đại học
Mahinda ở Galla, Tích Lan. Ông Woodward đã lưu trú tại tiểu
bang Tasmania trong 33 năm, ông dành thời gian này để đi giảng
dạy giáo lý và dịch kinh Phật từ Pali ra Anh ngữ cho Hội
Dịch Kinh Pali ở Luân Đôn. Một trong những quyển sách
của ông là tuyển tập "Những lời Phật dạy" ấn hành
lần đầu tiên vào năm 1925, là quyển sách được nhiều người
Úc biết đến. Cũng vào thời điểm ấy, Tiến sĩ Worthing
đã thành lập nhóm " Những nhà nghiên cứu Chân lý"
( Students of Truths), phần lớn thành viên của nhóm này là
tín đồ Gia Tô giáo. Nhóm này có chi nhánh ở Melbourne, Sydney
và Tasmania.
Đoàn Tăng
sĩ truyền Pháp đầu tiên đến Úc vào năm 1915 là năm vị
Tỳ Kheo người Đức, năm vị này được phái đến hoằng
Pháp từ Tích Lan (Sri Lanka). Một trong năm vị này là Đại
Đức Nyanatiloka (1878-1957), một học giả, dịch giả, tác giả
của nhiều tác phẩm Phật học quan trọng, và ngài cũng là
một người tiên phong trong phong trào lìa bỏ thế tục để
trở thành tu sĩ PG ở xã hội phương Tây.
Hội Phật
giáo đầu tiên tại Úc là "Little Circle of Dharma" (Tiểu
Pháp Luân) do đạo hữu David Maurice khởi xướng cùng với
Max Tyler và Max Dunn vào năm 1925 tại bang Melbourne. David Maurice
sinh năm 1899 tại New South Wales (NSW), ông biết đến với đạo
Phật năm 12 tuổi nhờ đọc được Kinh Trường Bộ
( Digha-nikàya) từ bản dịch tiếng Anh của giáo sư Rhys Davids.
Sau 2 năm học ngành y ở Đại học Sydney ông bỏ ngang và trở
thành nhà văn. Trong giới văn nghệ sĩ Úc, ông phát hiện nhiều
người thích nghiên cứu PG và thế là họ cùng nhau thành lập
hội trên. Hội của ông chịu ảnh hưởng của truyền thống
PG Nam truyền. Đến năm 1950, ông cho xuất bản tờ "The Light
of The Dharma" (Ánh sáng của Chánh Pháp), đây là tờ báo
PG tiếng Anh tại Úc được phát hành đi khắp thế giới,
và đến năm 1962, ông cho in tuyển tập các bài viết của
ông, quyển "The Lion 's Roar" (Tiếng rống của Sư tử).
Có thể nói Davids Maurice và các thành viên của ông là những
người có công lớn trong việc phát triển PG tại Úc và cũng
chính họ đã làm cho thế giới biết PG tại xứ sở này trong
thời gian nhóm này còn hoạt động.
Đạo hữu
David Maurice (giữa) người thành lập Hội PG đầu tiên ở
Úc
Năm 1938,
một số Phật tử khác cũng thành lập Nhóm Nghiên cứu
Phật học (The Buddhist Study Group) do một kiến trúc sư người
Melbourne, ông Len Bullen làm nhóm trưởng. Tham vọng của nhóm
này là làm cho mọi người hiểu rằng Đạo Phật như là một
ngành tâm lý học ứng dụng, có thể giúp cho con người giải
quyết được mọi bế tắc của thời đại. Tiếc thay, nhóm
này hoạt động được một năm thì tan rã, vì Thế chiến
thứ hai đã bùng nổ vào năm 1939.
Người phụ
nữ cũng đóng một vai trò phát triển PG tại Úc. Một trong
những người phải được kể đến là bà Marie Byles, một
nữ luật sư đầu tiên ở quốc gia này và bà được nhiều
người biết đến lúc đó như là một người hòa giải, đối
thoại và là người tranh đấu quyền bình đẳng cho phụ nữ.
Bà đã viết nhiều sách và báo về PG trong những năm bốn
mươi và năm mươi. Quyển sách nổi tiếng nhất của bà là
"Những dấu chân của Đức Phật Cồ Đàm" (Footprints
of Gautama Buddha), xuất bản năm 1951, đến nay sách vẫn
còn tái bản. Bà đã đi diễn thuyết Phật pháp nhiều nơi
ở Úc cũng như thường nói chuyện trên đài phát thanh ở
Sydney. Điểm đặc biệt, trong khuôn viên nhà bà ở Sydney,
một thời từng là địa điểm tu học cho các khóa tu ngắn
ngày. Bà đã lập một thư viện PG với hàng ngàn Kinh sách
cho Phật tử Úc đọc.
Năm 1952,
một nữ tu PG đầu tiên viếng thăm Úc, đó là Ni sư Dhammadinna(
1881-1967), người Mỹ. Sau ba mươi năm tu học tại Tích Lan,
bà được Tiến sĩ Malasekera (vị Chủ tịch đầu tiên của
Hội Liên Hữu PG thế giới) mời đến Úc để hoằng pháp.
Mặc dù đã 70 tuổi, Ni sư đã đi thuyết giảng nhiều nơi
trên khắp nước Úc. Mười một tháng hoằng pháp của Ni sư
tại Úc đã làm niềm tin Chánh pháp của tín đồ tại xứ
sở này gia tăng không kể xiết
Ni sư Dhammadinna(
1881-1967) với các đệ tử người Uùc
Đến năm
1953, Hội Phật Giáo NSW ( Buddhist Society of New South Wales)
ra đời do ông Leo Berkeley, một thương gia người Sydney lãnh
đạo. Hội đặt trụ sở tại Sydney, nhưng có chi nhánh ở
Melbourne, Queensland và Tasmania. Kết hợp với với Hội này,
bà Natasha Jackson, một người Úc gốc Nga, là đệ tử của
Ni sư Dhammadinna, đã cho xuất bản Nguyệt san Metta (Từ Bi),
là tiếng nói của PG Úc từ năm 1955 đến năm 1971. Sau đó
tờ báo này được đổi tên là "Buddhism Today" (Đạo
Phật ngày nay), đây là tờ báo có tuổi đời lâu nhất của
PG Úc. Hiện nay Hội này hoạt động đều đặn, do ông Graeme
Lyall ( là một trong những đệ tử trẻ tuổi của ni sư Dhammadinna)
làm Hội trưởng. Hội đã tổ chức thời khóa tu học hàng
tuần và có mở một Webpage ( địa chỉ:http://www.zip.com.au/~lyallg/
để phổ biến giáo lý Phật Đà.
Tác giả
và ông Graeme Lyall, Hội trưởng Hội PG NSW, hình chụp tại
trụ sở của Hội ở Sydney
Năm 1953,
Hội Phật giáo Queensland và Hội Phật giáo Victoria ra đời.
Đến đầu thập niên 60, PG Nam truyền phát triển mạnh và
tập trung ở Sydney. trong khi ở Melbourne, Phật giáo Bắc Truyền
bắt đầu cắm rễ nhờ công của Thiền sư Tuyên Hóa, người
Hoa ( năm 1962, ngài đến hoằng Pháp ở Hoa Kỳ). Đặc biệt
là PG Thiền của Nhật Bản, do nỗ lực hoằng Pháp của Hội
Phật Giáo Thiền Tào Động ( The Soto Zen Buddhist Society) . Dòng
thiền này đã phát triển mạnh và gây ảnh hưởng lớn ở
những tiểu bang khác tại Úc. Năm 1972, Hội PG Hoa Tông ở
Úc ra đời tại Sydney do thương gia Eric Liao lãnh đạo, người
đến Úc từ năm 1961.
Hai Tu sĩ
người Úc
Năm 1974,
giáo sư Jayasuriya cùng một số đạo hữu thành lập Hội Phật
Giáo Tây Úc ( Buddhist Society of Western Australia) tại tiểu bang
Perth. Ông Jayasuriya là người Tích Lan và là giáo sư Tâm Lý
học tại đại học Tây Uùc. Thành viên đầu tiên của Hội
này gồm một số người Úc, người Hoa và người Thái Lan
theo truyền thống Theravada. Năm 1981, Hội đã cung thỉnh hai
vị sư người Uùc là đại đức Jagaro và đại đức Purisso,
về hoằng Pháp từ Thái Lan. Nhờ sự xuất hiện của hai vị
tăng sĩ này mà nhiều người Úc đã phát tâm hướng về đạo.
Sự lớn mạnh đã đưa Hội đến quyết định mua một thửa
đất rộng khoảng 40 hécta trong huyện Serpentine, 70 km về phía
nam thành phố Perth, để xây dựng thiền viện Bodhinyana (Giác
Minh) vào năm 1983. Do nhu cầu tu học ngày càng đông của người
bản xứ, đến năm 1987, Hội lại xây dựng tiếp một Trung
tâm Phật Giáo tại thành phố Perth, lấy tên là Trung Tâm
Dhammaloka (Pháp Giới), rộng khoảng 5000 mét vuông, bao gồm
trụ sở văn phòng, thư viện, nhà khách, hội trường, và
một điện Phật rộng lớn để tụng kinh, thuyết Pháp và
ngồi thiền. Hiện tại, Hội PGTU, được xem là một trong
những Hội Phật giáo tại Úc phát triển và hoạt động hoằng
Pháp đều đặn. Tăng đoàn tại thiền viện Bhodhinyana hiện
gồm có 20 vị tỳ kheo. Thêm vào đó, vào năm 1998, hội cũng
có mua một thửa đất rừng khác, rộng khoảng 240 hecta, để
xúc tiến thành lập Ni viện Dhammasara do ni cô Vayama, người
Úc, trụ trì. Hội do Thượng tọa Ajahn Brahmavamso, người Anh,
lãnh đạo tinh thần, và hội trưởng hiện nay (1998-1999) là
một người Việt, đó là tiến sĩ Bình Anson, một người
đã định cư tại Úc hơn hai mươi năm qua. Ông đã tham gia
sinh hoạt với Hội này từ khi mới đặt chân đến Ô. Ông
cũng là người chủ trương hai trang Webpage Phật Giáo (tiếng
Việt và tiếng Anh) để phổ biến giáo lý Phật Đà. Địa
chỉ truy cập là: http://www.saigon.com/~anson và http://www.iinet.net.au/~ansonb/bswa
.
Tượng Phật
Thích Ca trước trụ sở Trung Tâm Pháp Giới, Tây Úc
Thập niên
bảy mươi là giai đoạn chuyển mình và phát triển của PG
Úc, đặc biệt là giới trẻ tìm về với PG. Trong khoảng
thời gian này, ước lượng có trên 300 người Úc tham gia các
khóa tu ở Ấn Độ và Népal do Thượng tọa Thubten Yeshe và
Thượng tọa Zopa Rinpoche hướng dẫn. Và có hơn 200 người
Úc đến tu học tại Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan. Một
số ít trong nhóm này về sau đã xuất gia ông Paul Boston đạo
hiệu là S. Dhammika, xuất gia theo PG Tích Lan và đã trở thành
một tăng sĩ người Úc nổi tiếng hiện nay, ông đã viết
rất nhiều sách và đi giảng nhiều nơi ở Úc. Một vị tăng
sĩ ngườ Anh khác, Thượng tọa Pannyavaro, hiện được xem
là một người tiền phong trong phong trào truyền bá lời Phật
dạy qua hệ thống Internet. Ngài từng đến tu học tại Tích
Lan,
Thái Lan và Miến Điện . Đầu năm 1992, ngài sang Australia và
bắt đầu mở một thiền đường tại thành phố Sydney để
dạy thiền cho người Uùc. Để cập nhật hóa với những
phát triển của ngành tin học hiện đại, TT. Pannayavaro đã
mở một tờ báo Phật giáo điện tử (địa chỉ: http://www.buddhanet.net
), để truyền bá lời Phật dạy, một phương tiện
hoằng Pháp nhanh và thu hút rất nhiều độc giả đến với
Phật giáo, theo ước tính có gần 10.000 người trên khắp
thế giới vào xem mỗi ngày.
Cũng trong
thời gian cuối những năm 70, một số lớn di dân và người
tị nạn đến từ châu Á và phần lớn họ đều là Phật
tử, đó là lý do ra đời hàng loạt tự viện ở Úc. ĐĐ
Somaloka, một Tăng sĩ đến từ Tích Lan năm 1971, ông cùng với
Hội PGNSW tiến hành xây dựng một ngôi chùa ở Blue Mountain
thuộc phía Tây bang Sydney. Năm 1973, Thượng tọa Phra Khantipalo,
một Tăng sĩ người Anh đến Sydney từ Thái Lan, ông cùng Phật
tử địa phương xây dựng chùa Buddharangssee... Năm 1978, một
sư cô người Đức, Ayya Khema, thành lập chùa Budhha Dharma ở
phía Bắc Sydney. Hình thức ngôi chùa này giống như một Trung
tâm hành thiền hay một trại tu dưỡng hơn là ngôi chùa.
Đến năm
1979, Trung tâm Thảo luận Phật học (Buddhist Discussion Center)
ra
đời tại Upwey, bang Melbourne, do giáo sư người Úc John. D.
Hughes sáng lập và làm Hội trưởng. Đây là một tổ chức
của một số lớn trí thức Úc muốn nghiên cứu Phật pháp
và tu Thiền theo hướng kết hợp theo cả hai truyền thống
Nam và Bắc truyền. Hội này cũng cho xuất bản một tờ báo
phát hành hàng tháng cho Phật tử Úc đọc. Đến nay tổ chức
này vẫn hoạt động mạnh. Cuối năm 1998, Hội này đã mở
một Webpage để phổ biến chủ trương và sinh hoạt của Hội
cũng như giáo lý. Địa chỉ vào xem là http://www.bdcu.org.au
.
Đầu năm
1980, nhiều Hội Phật khác như Hội Phật Giáo Lãnh Thỗ Miền
Bắc ở bang Darwin, Hội Phật Giáo Tasmania, Hội Phật Giáo
Người Hoa, Hội Phật giáo Tây Tạng. được thành lập và
có nhiều hoạt động hoằng Pháp mạnh mẽ để đưa Chánh
Pháp đi vào cuộc đời.
Hơn 10.000
dân chúng Úc đang nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thuyết
pháp tại vận động trường Sydney
Trong hai thập
niên 80 và 90, với chính sách đa văn hóa của chính phủ Úc,
nên nhiều sắc tộc khác như Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái
Lan, Trung Hoa, Tây Tạng... đến định cư tại Úc và PG vào
thời điểm này phát triển mạnh nhất trong lịch sử của
PG Úc. Trong đó, đáng kể nhất là PG Việt Nam, Trung Hoa,Tây
Tạng, Lào, Campuchia, Thái lan, Tích Lan.Riêng PG Tích Lan, hiện
nay có khoảng 150.000 người Srilanka định cư tại ÚC, có khoảng
15 ngôi chùa và 12 Tăng sĩ trên toàn Úc châu, đáng chú ý là
Thượng Tọa Kott Santhindriya, viện chủ Thiện Viện Daham Niketanaya
( Melbourne), có công lớn trong việc phát triển PG Therevada ở
Uùc. Năm 1997, Thượng tọa cũng đã mở một Webpage (http:techno.net.au/daham)
để truyền bá giáo lý. Đặc biệt , PG Úc châu đã thật
sự chuyển mình và dân chúng Úc càng chú ý và nghiên cứu
học hỏi giáo lý nhà Phật nhiều hơn qua ba lần (1982, 1992
và 1996) viếng thăm nước Úc của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ
14, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của dân tộc
Tây Tạng. Theo chương trình trù liệu , Đức Đạt Lai Lạt
Ma sẽ ghé thăm và thuyết pháp tại Úc châu vào tháng 4 hoặc
tháng 5 năm 2002.
Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14 và Thủ Tướng Úc John Howard
* PHẬT GIÁO
VIỆT NAM TẠI ÚC :
Người Việt
tî nạn đến tại Úc vào cuối những năm bảy mươi, tính
đến nay có khoảng 200 ngàn người Việt định cư tại xứ
sở này. Có khoảng 12 tờ tuần báo, 10 chương phát thanh tiếng
Việt, và 2 chương trình truyền hình tiếng Việt để phục
vụ cho cộng đồng. Về tình hình PGVN thì có bốn giáo hội
khác nhau có mặt tại Úc, bao gồm Giáo Hội Phật Giáo Linh
Sơn Thế Giới (chi nhánh của HT.Thích Huyền Vi, Pháp quốc);
Giáo Hội PGVN Trên Thế Giới (chi nhánh của HT.Thích Tâm
Châu, Canada); Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất sĩ (chi
nhánh của HT. Giác Nhiên, Hoa Kỳ); đặc biệt là Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân
Tây Lan, thành lập vào năm 1981 do công của HT. Thích Phước
Huệ, HT. Thích Huyền Tôn, HT. Thích Như Huệ và TT. Thích Bảo
Lạc, là những Tăng sĩ VN đầu tiên định cư tại Úc Châu.
Lễ khánh
thành Chùa Phổ Quang, Tây Ú
Giáo hội
này đã trải qua nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy và hoạt
động trong vòng 15 năm trong mục đích thiết lập nền tảng
và phát triển Chánh Pháp tại xứ sở Nam bán cầu này. Những
tưởng Giáo Hội vẫn hòa hợp để làm việc bên nhau, nhưng
đến tháng 12 năm 1995, thì do lủng củng nội bộ nên Giáo
Hội đã ngưng hoạt động. Đến tháng 9 năm 1999, phần lớn
chư Tôn đức của Giáo hội này đã tổ chức Đại Hội khoáng
đại tại Chùa Pháp Bảo, tiểu bang New South Wales, để phục
hoạt lại Giáo Hội sau ba năm ngưng trệ. Lý do tổ chức Đại
hội này được Thượng Tọa Thích Bảo Lạc, Trưởng ban tổ
chức đại hội đã nêu rõ trong diễn văn khai mạc rằng :"
Pháp nạn quốc nội chưa lắng yên, thì Giáo Hội tại Úc
bị gián đoạn sinh hoạt từ năm 1995 vì lủng củng nội bộ.
Cấp Trung ương của Giáo Hội tê liệt hoàn toàn kể từ tháng
12 năm 1995 khi Đại Hội Khoáng Đại kỳ IV không được tổ
chức, Chư Tăng, Ni và các Giáo Hội đi phương sau hơn 3 năm
ẩn nhẫn chờ đợi, gởi thư khiếu nại, trực tiếp đề
nghị tìm giải pháp hữu hiệu cho đường hướng hoạt động
chung, nhưng đều vô hiệu.Vào tháng 1 năm nay (1999) Hòa Thượng
Phước Huệ, nguyên Viện Trưởng đã tự triệu tập đại
hội không dựa nguyên tắc Hiến Chương Giáo Hội quy định,
và không tham khảo Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Uơng của Giáo
Hội, để cho Ngài tự ổn cố chức vị Viện Trưởng Viện
Hoằng Đạo HPGVNTN UĐL - TTL của mình. Việc làm xé lẽ này
của một cá nhân không thể đại diện được cho tiếng nói
của Phật giáo Việt Nam tại Úc, nên buộc lòng chư Tăng,
Ni đang hành đạo tại Úc phải tái lập ưu thế Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống, để vừa nỗ
lực truyền thừa mạch mạch Phật pháp, vừa đi đúng đường
hướng của Giáo Hội mẹ tại quê nhà...''.
Cổng Tam
Quan Tu Viện Quảng Đức , Victoria
Đại hội
đã tổ chức trong ba ngày mùng 10, 11 và 12 tháng 9 năm 1999,
quy tụ đa số Tăng Ni, Phật tử VN và hơn 23 tự viện khắp
Úc châu và Tân Tây Lan đồng về tham dự. Đại Hội đã nhất
trí đổi danh xưng của Giáo hội mới là Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân
Tây Lan. Theo các giới quan sát thì đại hội đã thành
công viên mãn với sự ủng hộ nồng nhiệt của mọi giới
đồng hương Phật tử tại Úc và Tân Tây Lan. Hy vọng rằng
Giáo Hội mới này sẽ có những hoạt động thiết thực để
đóng góp cho Đạo Pháp, dân tộc và hòa bình của thế giới.
(Muốn biết thêm chi tiết về Giáo Hội này xin độc giả
vào xem trang nhà tại địa chỉ: http://members.xoom.com/pguchau)
Vườn Lộc
Uyển tại Tu Viện Quảng Đức, Victoria
Nhìn chung,
PGVN đang từng bước hòa nhập và phát triển tại Ú. Tính
đến nay, có khoảng bảy mươi tăng ni người Việt và trên
ba mươi tự viện VN trên khắp Úc Châu và Tân Tây Lan. Theo
cái nhìn của người bản xứ là PGVN rất khác biệt và phong
phú hơn so với các Hội PG Sắc Tộc khác có mặt tại Úc.
Đó là hòa hợp độc đáo giữa ba tông phái khác nhau là Mahayana,
Theravada và Khất sĩ, cũng như Thiền tông và Tịnh Độ tông.
Một nét đặc thù khác của PGVN tại Úc, là mỗi chùa đều
có tổ chức Gia đình Phật tử, ( hiện có 13 GDPT, và khoảng
1000 huynh trưởng và đoàn sinh trên khắp nước Úc) và
mở Trường Bồ Đề dạy Việt ngữ, giúp cho thế hệ trẻ
VN sanh tại Úc biết rõ và duy trì ngôn ngữ và nền văn hóa
của mình.
SỐ LƯỢNG
TỰ VIỆN, TĂNG NI VÀ PHẬT TỬ TẠI ÚC :
Về tự viện,
Tịnh Thất, Niệm Phật Đường tại Úc hiện có trên 250 ngôi,
trong đó PG Bắc truyền có 100 chùa, PG Nam truyền có 59 chùa,
PG Tây Tạng có 37 chùa, PG Úc và các tông phái khác có 34 chùa.
Về Tăng
Ni, thật khó mà biết con số chính xác về số lượng Tăng
Ni hiện nay ở Úc là bao nhiêu, nhưng theo thống kê sơ bộ
gần đây của Bộ Di Trú Úc cho biết hiện có khoảng 200 Tăng
Ni tại Úc.
Về số lượng
tín đồ PG cũng do Chính phủ Úc thống kê cho biết có khoảng
200.000 Phật tử tại Úc, trong đó phần lớn là người VN,
Mã Lai, Cam Bốt, Lào, Trung Hoa, Tích Lan, Nhật Bản, Singapore,
Miến Điện...
ẢNH HƯỞNG
PG TRONG VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT TẠI ÚC
:
Có một số
thi sĩ và họa sĩ người Úc đã chịu ảnh hưởng sâu sắc
bởi tư tưởng và triết lý đạo Phật. Đó là các họa sĩ
Godfrey Miller, Ian Fairweather, John Olsen, Brett Whiteley và Margaret
Preston và các thi sĩ như Harold Stewart, Max Dunn, Colin Johnson và
Robert Gray, các vị này đã có những tác phẩm chịu nhiều
ảnh hưởng PG, đặc biệt là tư tưởng Thiền. Cũng có một
số khác vừa làm thơ vừa vẽ tranh như Les Oaten, một người
từng đến tu Thiền ở Nhật Bản, và đã cùng với Len Henderson
thành lập một Hội PG ở Victoria vào năm 1953. Và hiện nay
có Adrian Snodgrass, một giảng viên ở khoa kiến trúc thuộc
Đại học Sydney, thơ và tranh của ông cũng ảnh hưởng nhiều
về Thiền và Tịnh độ của PG. Trong những năm gần đây
đã có mhiều tác phẩm nghệ thuật của ông được ấn hành.
-
TƯƠNG LAI CỦA
PHẬT GIÁO TẠI ÚC :
Lịch sử PG
Úc đã trải qua nhiều giai đoạn, từ lúc du nhập cho đến
đầu những năm 60, PG tuy không phát triển mạnh nhưng vẫn
được duy trì trong các cộng đồng của người Á lẫn người
Aâu châu. Nhưng với sự gia tăng của làn sóng người di dân
đến Úc từ các quốc gia Á châu vào những năm 79 và 80 của
thế kỷ này, PG Úc đã lật qua một trang sử mới và phát
triển rất nhanh. Số lượng tín đồ PG Úc đứng ở hàng
thứ ba sau Ky Tô Giáo và Hồi Giáo.
Trong thực
tế, sự có mặt của PG tại xã hội Úc là điều cần thiết.
Các nhà xã hội học cho rằng hầu hết giới trẻ từ các
gia đình theo PG đều có nền tảng về đời sống tâm linh
và ít phạm pháp. Do đó, rất cần thiết để lập một chương
trình giáo dục PG cho các cộng đồng sắc tộc tại Úc. Đành
rằng, giáo dục tôn giáo là nhiệm vụ của nền giáo dục
phổ cập của quốc gia. Tuy nhiêm sự hướng dẫn đời sống
văn hóa và đạo đức này sẽ tác động và ảnh hưởng mạnh
mẽ đến giới trẻ nếu các tổ chức PG đứng ra đảm trách.
Số lượng
người Úc ngày càng nhiều trở về với PG, đây là một tin
vui. Tuy nhiên, họ đã gặp khó khăn trong việc học hỏi và
thực hành giáo lý nhà Phật, do bất đồng về ngôn ngữ và
va chạm hàng rào văn hóa giữa các sắc tộc. Do vậy, các
hội đoàn PG tại Úc, nhất là của người Úc phải chủ động
phối hợp với các hội đoàn PG thuộc các sắc tộc khác
để cùng nhau giải quyết những khó khăn, bế tắc trong quá
trình truyền bá. Đó là nỗi trăn trở không phải của riêng
ai, mà chính các nhà lãnh đạo PG Úc phải suy nghĩ, phải tìm
cách để phát huy và truyền bá lời Phật dạy rộng rãi cho
các cộng đồng khác nhiều hơn là chỉ khu biệt trong nội
bộ sắc tộc của mình./.
Tổng hợp
từ các tài liệu:
-
Paul Croucher,
A Buddhism in Australia 1048-1988,NSW, 1989
-
Kerry Trembath,
Newsletter of Buddhist Council of NSW, 11/1996
-
Enid Adam &
H.Philip, The Buddhists in Australia, Canberra, 1996
-
Exploring Religion,
Exford University Press, NSW, Australia, 1998
-
SBS World Guide,
the complete fact file on every country, Vic. 1999