PHẬT
GIÁO TẠI NHẬT BẢN
Nhật Bản
(Japan) một quốc gia nằm phía đông châu Á. Diện tích 377.688
km2. Dân số 123.460.000 người. Mật độ dân cư: 331,7 người/km2.
Dân số dưới 15 tuổi: 18,5%. Tuổi thọ trung bình: 78,5 tuổi.
Trình độ văn hóa cấp ba: 30,1%. Thể chế chính trị: Quân
chủ đại nghị (Constitutional Monarchy). Nguyên thủ quốc gia:
Vua Akihito. Ngôn ngữ chính: tiếng Nhật. Đơn vị tiền tệ:
đồng yen. Thu nhập bình quân đầu người: 15.260 đô la. Phật
giáo (PG) và Thần Đạo (Shinto) là hai tôn giáo chính ở Nhật.
Những tôn giáo nhỏ khác là Ky Tô giáo, Tin Lành giáo và Chính
Thống giáo.
Phật giáo
Nhật, thời kỳ hình thành ( 538-794):
Theo biên
niên sử của Nhật Bản, PG chính thức được truyền đến
Nhật từ Triều Tiên (Korea) vào năm 552 Tây lịch (có chỗ
ghi nhận là năm 538). Lúc bấy giờ vua nước Bách Tế (Triều
Tiên) đã gởi một phái đoàn truyền giáo đến Nhật. Phái
đoàn này đã được nhà vua Nhật Bản tiếp đón một cách
nồng hậu và phái đoàn đã dâng lên cho đức vua một tượng
Phật bằng vàng, một vài quyển Kinh, cờ lộng, chuông, mõ.
Tuy nhiên,
PG chỉ thực sự cắm rễ và lan tỏa tại Nhật là trong thời
kỳ nhiếp chánh của Hoàng Thái Hậu Suiko. Người kế vị
của bà, Thánh Đức Thái Tử (Shotoku, 574-622) được xem là
sơ tổ (First Real Founder) của PGNB . Thánh Đức Thái Tử vâng
lời mẫu hậu Suiko đã cất công nghiên cứu và tuyên giảng
ba bộ Kinh Đại Thừa cho dân chúng Nhật, về sau những bài
giảng này được viết thành một bộ luận rất giá trị.
Sau khi lên ngôi Thái tử Shotoku đã ban hành ngay một chiếu
chỉ rằng : ''Toàn dân Nhật Bản phải kính ngưỡng và thọ
trì Phật Pháp''. Ông đã cho xây chùa chiền trên khắp đất
nước. Một trong những ngôi chùa nổi tiếng thời ấy, nay
vẫn còn là Chùa Pháp Long (Horyji). Chùa này do chính Thái tử
Shotoku đứng ra xây dựng vào năm 607 và được xem là ngôi
chùa gỗ có tuổi thọ lâu nhất trên thế giới.
Phật giáo
Nhật, thời kỳ phát triển (Heian/Bình An/ 794-1184)
Trong triều
đại Nại Lương (Nara, 710-194) qua sự ủng hộ Phật Pháp của
Hoàng đế Thánh Võ (Shomu, 701-756, vị vua thứ bốn mươi lăm
của Nhật) PG đã trở thành quốc giáo (State religion) của
xứ sở này. Năm 741, vua Thánh Võ đã ban hành một quốc lệnh
rằng mỗi làng và mỗi tỉnh phải xây dựng một ngôi chùa
và dân chúng phải thành tâm thọ trì Phật Pháp. Để làm
gương cho mọi người, chính vua Thánh Võ đã đích thân xây
chùa Đông Đại (Todai) tại kinh đô vào cuối năm 741, đây
là ngôi tổ đình của tông phái Hoa Nghiêm với pho tượng
Phật Tỳ Lô Xá Na (Vairocana) khổng lồ được tôn thờ bên
trong chánh điện. Cũng trong thời kỳ Nara này, có sáu tông
phái PG được truyền đến Nhật từ Trung Hoa và phong trào
nghiên cứu và tu Phật tại Nhật đã bắt đầu.
Sáu
Tông phái PG đến từ Trung Hoa trong thời đại Nại Lương
(Nara, 710-194) :
1. Luật
Tông (Ritsu): là một trong mười ba Tông Phái PG (TPPG)
chính của Trung Hoa. Tông này theo khuynh hướng bảo thủ giống
như truyền thống ở các nước ở Nam Á, được ngài Đạo
Tuyên (Tao-hsuan, 596-667) dựa vào bộ Đại Thừa Luật (Mahayana
Vinaya) mà thành lập vào thời đại nhà Đường. Chủ trương
của tông là nghiêm trì giới luật để tiến đến Phật quả.
Tông này được ngài Giám Chân (Ganjin) giới thiệu đến Nhật
vào năm 754.
2. Câu
Xá Tông (Kusha): Cũng là một tông phái bảo thủ, lấy
Luận A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma) làm chỗ nương tựa chính. Đó
là một bộ luận nổi tiếng của ngài Thế Thân (Vasubandu).
3. Thành
Thật Tông (Jojitsu): Tông này dựa vào giáo lý tánh không
(non-substantiality) của Luận Thành Thật (Satyasiddhi) mà thành
lập.
4. Tam
Luận Tông (Sanron): phát xuất từ phái Trung Quán ở
Ấn Độ, một trường phái phát triển của Đại sư Long Thọ
(Nararjuna). Giáo lý tông này cũng nhấn mạnh đến tự tánh
không của vạn pháp. Như tên gọi của tông này, Tam Luận,
tức là dựa vào ba bộ luận chính, Trung Quán Luận (Madhyamika),
Thập Nhị Môn Luận (Dvadasamuka Sastra) của Ngài Long Thọ,và
Bách luận (Shata sastra) của Ngài Thánh Thiên (Aryadeva).
5. Pháp
Tướng Tông (Hosso): bắt nguồn từ trường phái Yoga
của Ấn Độ, một tông phái của PG phát triển có mặt từ
năm 167 TL tại Ấn.
6. Tướng
Tông (Hosso): bắt nguồn từ trường phái Yoga của Ấn
Độ, một PGPG phát triển có mặt từ năm 167 TL tại Ấn.
7. Hoa
Nghiêm Tông (Kegon): dựa vào Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka)
để lập tông. Chủ trương của phái tôn thờ và thực hành
pháp hạnh của đức Phật Tỳ Lô Xá Na.
Tất cả
sáu tông phái trên đều có nhiều hành giả, học giả theo
đuổi học hỏi và hành trì, nhưng tầm ảnh hưởng của nó
chỉ giới hạn trong giới xuất gia mà không mở rộng ra bên
ngoài.
Phật
giáo Nhật, thời kỳ Kiếm Thương (Kamakura1185-1333)
Đây là thời
kỳ khủng hoảng, vì cả nước bị đe dọa trầm trọng bởi
tàn phá khốc liệt từ sự phân hóa nội bộ và bạo lực
dưới những tổ chức quân sự được thành lập năm 1185
của bộ tộc Minamoto, ngoại ô Kyoto. Bầu không khí mới này
đã làm cho việc tu tập và nghiên cứu Phật Đà bị khựng
lại một lúc lâu. Tuy nhiên, cuối cùng mọi việc cũng đâu
vào đấy và PG vẫn tiếp tục công việc của mình.
Nếu trong
triều đại Bình An (Heian, 794-1185) hai tông phái khác được
vào Nhật Bản là Thiên Thai Tông (Tendai) và Chân Ngôn Tông
(Shingon). Hai tông phái này có một hệ thống giáo lý sâu nhiệm
và độc đáo, lập tức chinh phục và được ủng hộ một
cách nhiệt thành của quần chúng Nhật, nhất là tầng lớp
quý tộc, thì đầu triều đại Kiếm Thương (Kamukura, 1185-1333),
hai phái khác, Nhật Liên Tông (Nichiren) và Tịnh Độ Tông (Jodo)
cũng lần lượt xuất hiện và được truyền bá rộng rãi
trên toàn nước Nhật.
Như vậy,
cho đến thế kỷ mười ba, tất cả những tông phái (sect/shù/tsung)
chính đều có mặt tại Nhật, bao gồm Thiền Tông, Tịnh Độ
Tông, Thiên Thai Tông, Chân Ngôn Tông, Nhật Liên Tông?
* Thiền
Tông (Zen Sect): là một tông phái đặc biệt của PG Nhật.
Thiền bắt nguồn từ thời Phật Thích Ca, rồi được Tổ
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, con của vua Chí Cương, thuộc
dòng Sát Đế Lợi, nước Quốc Hương, Nam Thiên Trúc, vùng
Cao nguyên Dekkan, miền Nam Ấn Độ. Ngài là Tổ sư thiền tông
đời thứ 28 của Ấn Độ). Năm 480 vâng lời Thầy, Ngài đến
Trung Hoa để truyền bá pháp môn thiền. Ở Trung Hoa lúc đầu
thiền bị ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo Lão và Khổng.
Thiền chỉ độc lập và nổi tiếng từ thế kỷ thứ bảy
và đã trở thành một tông phái chính cho tới ngày nay tại
Trung Hoa.
Thiền được
giới thiệu đến Nhật vào khoảng thế kỷ thứ 9 từ Trung
Hoa qua hai Thiền phái Lâm tế và Tào Động, cả hai phái này
đều ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng cửa Lục Tổ Huệ Năng
ở thế kỷ thứ 8. Hiện nay ở Nhật có ba Thiền phái như
sau :
* Thiền
Lâm Tế (Rinzai Sect): do công khai sáng của thiền sư
người Nhật Vinh Tây (Eisai, 1141-1215). Ngài xuất gia từ năm
mười ba tuổi ở chùa An Dưỡng (Annyo) ở Kibitsu. Ngài đã
tìm đường đến Trung Hoa để học đạo trong hai lần, vào
những năm 1168 và 1187. Lần sau cùng Ngài về đến Nhật vào
năm 1191 và thành lập chùa Shofuku ở Hakata. Ngôi chùa này được
xem là thiền viện đầu tiên trên đất nước này. Năm 1215,
triều đình Nhật xây dựng Chùa Kiến Nhân (Kennin-ji) tại
Kyoto, Ngài được thỉnh về làm chứng minh đạo sư cho ngôi
già lam này. Ngài cũng được xem là người có công trong văn
hóa uống trà của Nhật, Ngài đã mang giống trà từ Trung
Hoa về trồng ở Nhật. Vị thiền sư nổi tiếng của Thiền
phái này về sau là ngài Bạch Ẩn (Hakui Ekaku, 1685-1786) với
những tác phẩm để đời. Ngày nay ở Nhật có 14 chi phái
thuộc dòng Thiền này, tuy không hợp nhất về tổ chức, nhưng
vẫn theo đuổi lý tưởng ban đầu của tổ sư Vinh Tây.
* Thiền
Tào Động (Soto/Tsao-tung): là một trong năm Thiền phái
chính của Trung Hoa và là một trong mười ba Tông phái chính
của PGNB. Đây là một Thiền phái kiểu mẫu như để so sánh
với Thiền Lâm Tế, cuối cùng nó dường như phổ biến hơn
những Thiền phái khác ở Nhật. Nếu Lâm tế thích ứng với
giới thượng lưu trí thức, thì Tào Động lại gần gũi với
tầng lớp bình dân. Thiền Tào Động được Thiền sư Đạo
Nguyên (Dogen, 1200-1253) khai sáng. Đạo Nguyên vốn là đệ tử
của Ngài Vinh Tây, sau đó ông sang Trung Hoa du học và trở
về Nhật Bản xây dựng Thiền phái này. Người kế thừa
và làm lớn mạnh dòng thiền này là thiền sư Suzuki Shosan
(1579-1653). Hiện nay ngôi già lam chính của Thiền phái này
là Chùa Tổng Trì (Soji-ji) ở Yokohama do thiền sư Hành Cơ (Gyogi,
666-749) tạo dựng năm 1321.
-
Thiền
Hoàng Bá (Obaku sect): đây là Thiền phái thứ ba của
người Nhật, có tầm ảnh hưởng ít hơn hai Thiền phái trên,
do thiền sư người Trung Hoa Ẩn Nguyên (Yin-Yuan, 1592-1673) khai
sáng. Sau nhiều năm tu học tại quê nhà, ông đến Nhật Bản
để hoằng Pháp vào năm 1654 và tiến hành thành lập Thiền
phái này tại chùa Vạn Phước (Mampuku-ji) ở tỉnh Yamato. Ông
đã được vua Nhật ban cho danh hiệu là Quốc sư (Daiko-Fusho-Kokushi),
ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Hiện tại
có hơn 600 ngôi chùa là chi nhánh của Thiền phái này.
Nhìn chung cả
ba Thiền phái trên đã phát triển mạnh ở Nhật và có tầm
ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của người dân Nhật.
Cả ba đều có nhiều trường đại học, nhà xuất bản kinh
sách riêng, cơ quan từ thiện... Không những thế Thiền đã
ăn sâu vào tiềm thức của người Nhật, thiền đã đi vào
hoa, vào trà, vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân và
cuối cùng nó nâng lên thành Đạo, trà đạo, hoa đạo... Bản
chất khiêm hạ mà sắc bén, từ ái mà quật cường của người
Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ đều là kết quả
từ sự thực nghiệm Thiền định cả.
* Tịnh
Độ Tông (Jodo/Pureland Sect): đây là một tông phái rất
phổ biến ở các quốc gia Bắc phương PG, có nguồn gốc từ
thế kỷ thứ hai Tây lịch tại Ấn Độ. Tông này dựa vào
giáo lý của Kinh Vô Lượng Thọ (Sukhavativyuha) và Kinh A Di
Đà ( Amitabha-sutra). Cả hai bộ Kinh này đều mô tả về một
cõi giới ở phía Tây, nơi những hành giả tu tập theo tông
này sẽ tái sinh sau khi bỏ báo thân ở cõi Ta Bà như là một
kết quả từ niềm tín tâm nơi Đức Phật Di Đà và tu tập
nhiều thiện nghiệp. Vị Tông chủ của phái này là Đức
Phật A Di Đà hay Đức Phật có ánh sáng vô lượng (unlimited
light Buddha). Tịnh Độ Tông được truyền đến Nhật Bản
vào khoảng thế kỷ thứ sáu với sự thiết lập của Ngài
Pháp Nhiên (Honen, 1133-1212). Ngài Pháp Nhiên đã công khai hóa
pháp môn Tịnh độ vào năm 1175 ở Kyoto. Sau đó nó đã phát
triển mạnh mẽ và nhanh chóng thích nghi với xã hội Nhật,
kết quả là có năm chi phái Tịnh Độ xuất hiện từ thế
kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 13, bao gồm Dung Thông Niệm
Phật Tông (Yùzù-nembutsu) do Ngài Lương Nhẫn (Ryonin, 1073-1132)
thành lập; Ngài Thân Loan (Shinran, 1173-1263) với Tịnh Độ
Chân Tông (Jòdo Shin); Ngài Nhất Biến (Ippen, 1239-1289) với
Thời Tông (Ji sect)... Ngày nay, ở Nhật chỉ còn hai trong năm
chi phái trên còn thịnh hành. Những ngôi chùa chính của tông
phái này là chùa Chion ở Kyoto và Chùa Zojo ở Tokyo. Vào năm
1993, các tông phái Tịnh Độ này đã kết hợp để xây dựng
một pho tượng A Di Đà cao 120m (xem bài về pho tượng này
trên cùng trang Web), đây là một trong công trình Phật sự
vĩ đại của Phật giáo tại Nhật ở cuối thế kỷ hai mươi
này.
* Thiên
Thai Tông (Tendai-shù): còn được gọi là Pháp Hoa Tông,
được Ngài Trí Khải (Chih-i, 538-597, thường được gọi là
Thiên Thai Đại Sư) dựa vào giáo lý Pháp Hoa Kinh mà lập tông
tại núi Thiên Thai. Trí Khải Đại sư là tác giả của trên
ba mươi luận bản nổi tiếng như Pháp Hoa Huyền Nghĩa (Fa-hua
hsuan-tsan), Pháp Hoa Văn Cú (Fa-hua Wen Chu), Ma Ha Chỉ Quán (Mo-ho-chih-kuan)...
Tông này được Ngài Tối Trừng (Saicho, 767-822), truyền đến
Nhật năm 805. Ngài Tối Trừng sinh năm 767 tại Omi (Nhật Bản),
xuất gia năm 12 tuổi. Năm 804, Ngài được triều đình Nhật
gởi sang Trung Hoa để học Phật. Ngài đã tận dụng cơ hội
này để học giáo nghĩa Thiên Thai dưới sự dẫn dắt của
Dòsui, học thiền với Hsiao-jan... một năm sau Ngài hồi hương
và tiến hành lập tông này. Ngài viên tịch năm 822 ở tuổi
56, để lại phía sau mình một công trình nghiên cứu đồ
sộ với một trăm sáu mươi tác phẩm các loại.
* Nhật
Liên Tông (Nichiren-shù): còn được gọi là Pháp Hoa
Tông (Hokke-Sect); hay Nhật Liên Pháp Hoa Tông (Nichiren Hokke) được
Ngài Nhật Liên (Nichiren, 1222-1282) thành lập. Tông này lấy
tư tưởng Kinh Pháp Hoa làm chỗ nương tựa chính. Ngài Nhật
Liên sinh năm 1221, con của một gia đình lao động ở Kaminato.
Ngài xuất gia vào thuở thiếu thời. Lúc đầu học theo Chân
Ngôn Tông, rồi Thiên Thai Tông. Cuối cùng Ngài kết luận rằng
chỉ Kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika-Sutra/The Lotus of the Good Law)
mới là cứu cánh và đưa đất nước Nhật bản ra khỏi cảnh
khốn cùng. Hành giả theo tông này thường thọ trì Kinh Pháp
Hoa và niệm danh hiệu Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
Tông này
có bốn ngôi chùa chính là chùa Bản Môn (Hommon-ji) xây dựng
ở Tokyo năm 1291; chùa Diệu Hiển (Myòken-ji) xây dựng năm
1326 và chùa Bản Quốc (Honkoku-ji) xây dựng năm 1263 ở Kamakura,
đến năm 1345 thì được dời về Kyoto và chùa Pháp Hoa Kinh
(Hokekyò-ji) xây dựng năm 1260 ở Nakayama. Sau thế chiến thứ
nhất, Tông này đã phát triển thêm nhiều tổ chức như Soka
Gakkai, Rissho Koseikai, Reiyukai... đều một lòng xiển dương
giáo nghĩa của Pháp Hoa Kinh. Riêng tổ chức PG Rissho Koseikai
được đạo hữu Nikkyo Niwano thành lập vào tháng 3 năm 1938,
đến nay vẫn được xem là một trong những tổ chức PG rất
mạnh tại Nhật với hơn 6 triệu hội viên trên khắp thế
giới. Năm 1997, Hội này có mở một trang nhà để phổ biến
giáo lý rất phong phú, địa chỉ vào xem là: http://www.mediagalxy.co.jp/kosei/index1.html.
-
Chân Ngôn
Tông (Shingon Sect): còn gọi là Mật Tông (Esoteric Sect) là
một trong những TPPG chính ở Nhật, được Hoằng Pháp Đại
Sư (Kobo Daishi, 774-835) thành lập ở Nhật vào năm 806. Ngài
vốn có tên là Không Hải, sinh năm 774, năm 15 tuổi đến Nara
để học chữ Hán, lịch sử, văn học và Kinh điển PG. Sau
khi so sánh Phật, Lão và Khổng, ông chọn Phật để theo. Ông
xuất gia năm 20 tuổi với Đại sư Gònso. Năm 22 tuổi ông
thọ cụ túc giới ở chùa Đông Đại. Năm 31 tuổi (804) ông
được Thầy gởi đi Trung Hoa để học với sư Hui-Kuo (746-805).
Năm 806 Ngài trở về Nhật và tu ở núi Mahinoo, trong thời
gian này có rất nhiều người tới để cầu học, trong đó
có cả Ngài Tối Trừng. Năm 816 Ngài khởi công xây dựng chùa
Kim Cương (Kongò-ji) tại núi Koya thuộc tỉnh lî Wakayama để
hoằng dương pháp tu này. Vị tông chủ của giáo phái này
là Đức Đại Nhật Như Lai (Mahavairocana/Dainichi-nyorai), hành
giả của giáo phái tu theo lời dạy trong bộ Đại Nhật Kinh
Sớ (Dainichi-Kyò-sho). Hiện nay Chân Ngôn Tông vẫn phát triển
đều đặn và có sáu chi phái nhỏ khác nhau tồn tại ở Nhật.
Phật
Giáo Nhật Bản ngày nay:
Theo thống
kê gần đây cho thấy có khoảng 70% dân số là tín đồ Phật
giáo. PGNB được chia thành mười ba tông phái chính, có 80.000
ngôi chùa, 200.000 tăng sĩ. Có trên 20 đại học, trung học
và viện nghiên cứu PG ở khắp đất nước Nhật. PG tu học
vẫn được duy trì mạnh mẽ nhưng có ý kiến phê bình rằng
ngày nay PG chỉ còn ảnh hưởng trên mặt tri thức hơn là
đi sâu vào mặt thực hành như thuở nào. Triết thuyết của
PG đã trở nên khó hiểu đối với đại đa số quần chúng
và chỉ có số ít quan tâm đến đời sống tôn giáo. Tăng
sĩ tụng niệm nhiều hơn tăng sĩ thuyết giảng. PG lý tưởng
và đời sống tâm linh dường như đang trên đà lãng quên,
cho dù kinh sách PG vẫn ấn hành đều đặn và nhiều hơn trước.
Tương lai
của PG Nhật thật khó mà tiên liệu được. Ngành khoa học
nghiên cứu PG đã có dấu hiệu phát triển trong những năm
gần đây, nhưng nó vẫn còn những khoảng cách nhất định
với tầm hiểu biết của quần chúng Phật tử. Phần lớn
những nhà nghiên cứu chỉ chú trọng vào chiều sâu của triết
thuyết và ngôn từ chuyên môn hơn là những ý nghĩa thật
sự của nó đối với đời sống của con người.
Tuy nhiên,
có dấu hiệu lạc quan và hy vọng cho sự phục hưng và phát
triển PG tại Nhật vì có nhiều tổ chức PG thành lập, đặc
biệt là giới cư sĩ tại gia, để mở rộng nhiều chương
trình hướng dẫn quần chúng tu học Phật. Nhiều tổ chức
tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến thứ II (1945) đều mang
theo sự ảnh hưởng sâu đậm của PG. Những hoạt động truyền
giáo bên ngoài Nhật Bản cũng gia tăng đáng kể, nhiều phái
đoàn hoằng pháp liên tục được gởi đi hải ngoại, đặc
biệt là bắc Mỹ và châu Âu. Nhiều sách báo được ấn hành
trong nhiều loại ngôn ngữ khác nhau của phương Tây, các học
giả Nhật Bản đã hợp tác với các nhà nghiên cứu nước
ngoài để biên soạn bộ Bách Khoa Từ Điển PG (Buddhist Encyclopedias,
ấn hành vào năm 1980). Toàn bộ Kinh sách của PG Tây Tạng
đã được chuyển ngữ và được xuất bản bởi một Viện
Nghiên Cứu tại Nhật và một bộ sưu tập tất cả những
bài nghiên cứu giáo lý Phật Đà được in từ nhiều quốc
gia khác nhau, đã được chuyển ngữ và in tại Nhật. PG Nhật
cũng hỗ trợ cho nhiều học giả và nghiên cứu sinh từ bắc
và nam Mỹ, châu Âu và châu Á, đặc biệt các nước Ấn Độ,
Trung Hoa, Tích Lan, Việt Nam... đến Nhật để học Phật. Rất
nhiều tổ chức Từ Thiện PG được thành lập để giúp người
tị nạn và các quốc gia đang phát triển ở Á châu và Phi
châu. Nhìn chung PG Nhật đang chuyển mình để hòa nhập với
trào lưu mới để đem lại ánh sáng và bình yên cho mọi người./.
Tổng hợp
từ các tài liệu :
- Masaharu
Anesaki (1930) History of Japanese Religion, Kyoto.
-
Charles Eliot (1959) Japanese Buddhism, Tokyo.
-
Yoshiro Tamura (1990) Tokugawa Period Buddhism and the Path to Modernization,
- - - Dharma World, Sep/Oct 1990.
-
Keiichi Yanagaw (1992), Religion in Japan Today, Foreign Press Center,
Tokyo.
-
Kodansha (1990) Kodansha Encyclopedia of Japan, Kyoto.
-
Kazumasa Osaka (1990-1999), Dharma World magazine, Tokyo.
* Chân
thành cảm ơn đạo hữu Kazumasa Osaka (Tổng Biên Tập Tạp
chí Dharma World, Japan) và cô Lydia Quảng Như (Khoa Luật, Đại
Học Monash, Australia) đã cung cấp cho chúng tôi nhiều tài liệu
quý báu cho bài viết này.