PHẬT
GIÁO TẠI NGA
Nga (Liên
Xô cũ), một quốc gia nằm giữa ở hai châu: Âu và Á châu.
Diện tích 22,4 triệu km2; dân số: 287,7 triệu người. Thủ
đô Moscow. Mật độ dân cư: 8,6 người/km2. Hiện nay, sau khi
giải thể, 15 nước cộng hòa Xô Viết XHCN đã trở thành
các nước độc lập riêng rẽ. Phật giáo (PG) tại Nga được
xem là tôn giáo lớn thứ ba đứng sau Chính Thống giáo và
Hồi giáo.
Nguồn
gốc Phật giáo tại Nga
Theo truyền
thuyết, Phật giáo được truyền vào Nga vào khoảng giữa
thế kỷ thứ nhất Tây lịch, trước tiên và chủ yếu là
ở vùng Trung Á, những nơi nằm trên con đường tơ lụa nối
liền giữa Đông và Tây. Lúc ấy PG được truyền đến Khoroza,
rồi lan ra từ bờ biển Laspien, biển Aral cho đến tận bờ
biển Thái Bình Dương. Trong một địa bàn rộng lớn này,
nhiều Trung Tâm Phật Giáo (TTPG) đã được xây dựng. Vào
đầu thời kỳ Trung cổ, những thành phố lớn ở các vùng
Trung Á đều có các tự viện PG. Các TTPG ở Koutcha và Khotan
đều nổi tiếng từ lúc bấy giờ. Đã từng có nhiều cao
tăng Ấn Độ đã đến tận Khotan để sưu tầm lại những
kinh sách PG quí hiếm đã mất dấu tại Ấn Độ.
Tuy nhiên,
theo các tài liệu hiện có, thì những Tăng sĩ truyền giáo
người Tây Tạng và Mông Cổ đến Nga đầu tiên là vào bán
thế kỷ thứ mười bảy, những nơi các Ngài dừng chân đầu
tiên là phía Đông của Lake Baikal, một vùng gần với biên
giới Mông Cổ. Về sau, nơi này đã trở thành một trong những
trung tâm PG lớn nhất ở Nga.
Sau cuộc
cách mạng tháng mười Nga (1917), người ta đã tiến hành nhiều
công cuộc khai quật khảo cổ quan trọng ở Trung Á, nhờ đó
đã phát hiện ra nhiều di tích lịch sử PG tại Nga như nhiều
chùa chiền, tranh tượng.... Chẳng hạn, ở vùng Termez đã
tìm thấy nhiều tượng Phật bằng đá, thuộc trường phái
nghệ thuật Gandhara, những di tích của một ngôi chùa với
những tượng sư tử bằng đồng đen. Ở thung lũng sông Tchou,
phía Bắc Kingizie có rất nhiều di tích chùa và tranh tượng
Phật. Tại thành phố cổ Djoul, đã phát hiện ra một tu viện
lớn với nhiều thiền thất nhỏ dành cho các thiền sinh tu
tập.... Ở phía Bắc thành phố Bairamalia, thuộc nước cộng
hòa Xô Viết Turkmenistan, các nhà khảo cổ đã khai quật một
đền thờ Phật và một bình đồ gốm có nhiều hoa văn PG
và trong bình có nhiều tượng Phật nhỏ bằng đá.
Những năm
gần đây, người ta lại phát hiện thêm nhiều TTPG nằm ở
Seniretchié tại thành phố cổ Krasnoretchenskoie và miền Nam
nước cộng hòa Tadjikistan và ở thung lũng Ferghara thuộc miền
Nam nước cộng hòa Takjik. Đặc biệt, gần đây, các nhà khảo
cổ học đã phát hiện trong những vùng này có đến hai mươi
văn kiện cổ PG viết bằng chữ Brahmi và chữ Kharoshti.
Tất cả
những phát hiện trên chứng tỏ PG đã có mặt tại Nga vào
giữa thế kỷ thứ nhất Tây lịch và đã có một địa bàn
hoạt động PG rộng lớn ở vùng Trung Á. Mặc dù, PG được
truyền vào Nga ở một thời điểm xa xưa như vậy, nhưng tầm
ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của dân tộc
Nga chỉ mới bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 18.
Giới trí
thức Nga và Phật giáo
Sự quan tâm
đến PG tại Nga sớm hơn các nước phương Tây, vì các quốc
gia láng giềng ở phía Đông và phía Nam của nước này có
một truyền thống PG rất thịnh hành. Thật khó xác định
được thời điểm chính xác là nó bắt đầu từ lúc nào,
nhưng người ta biết rằng vào năm 1876 Đại Đế Peter đã
gởi một phái đoàn Tăng sĩ đến Bắc Kinh để nghiên cứu
PG Trung Hoa và Tây Tạng. Sau đó, phái đoàn này đã viết một
cuốn sách nhỏ về cuộc đời của Đức Phật bằng tiếng
Nga. Nhà sử học nổi tiếng người Nga G. Miller cũng nghiên
cứu về PG. Trong thời kỳ này người ta thấy có những tác
phẩm giá trị về vũ trụ quan PG, chân dung và lối sống ở
các tu viện PG, tiểu sử về Thái Tử Tất Đạt Đa và cuộc
đời tu đạo và hành đạo của Đức Phật Thích Ca được
viết bởi Viện sĩ hàn lâm Nga Palas.
Nền tảng
của việc nghiên cứu PG tại Nga được đặt trên một mô
hình bởi viện sĩ hàn lâm Vasily Vasiliyey, một trong những
đại diện xuất sắc nhất của phong trào nghiên cứu tư tưởng
Đông Phương.
Ông Vasily
Vasiliyey, con của một giáo sĩ, sanh ngày 20 tháng 2 năm 1818
tại Nizhlm Novgorod. Năm 16 tuổi ông theo học ngành Đông phương
thuộc khoa triết tại đại học Kazan; ở đây ông học tiếng
Mông Cổ. Theo lời khuyên của thầy, Kovalevsky, ông chọn môn
ý thức hệ Đông Phương, đặc biệt là PG, một môn học
mà lúc đó hoàn toàn chưa được khai phá. Năm 19 tuổi, ông
bảo vệ thành công luận án cao học với chủ đề là "Tinh
thần những tác phẩm PG của Altan Gerala".
Làm việc
không mệt mỏi, ông Vasiliyey đã sưu tập được nhiều tài
liệu PG Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Hoa. Ông đã mang về Nga
toàn bộ kinh sách PG bằng tiếng Trung Hoa được dịch rút
gọn và tu chỉnh cũng như những trích dẫn từ vô số sách
về triết học và lịch sử Trung Hoa và Tây Tạng. Năm 1855,
ông đến St. Petersburg, ông đã bảo vệ thành công luận án
tiến sĩ "Nền tảng triết học của Phật Giáo". Ông được
bầu làm viện sĩ thông tấn và không lâu trước khi qua đời
ông được chọn làm viện sĩ hàn lâm khoa học Nga. Ông mất
ngày 27 tháng 4 năm 1900 tại St. Petersburg, hưởng thọ 82 tuổi.
Những tác phẩm Phật học nổi tiếng của ông gồm có "Phật
Giáo, nguyên lý, lịch sử và văn chương"; "Tự điển Phật
Học Makhavjutpatti"; "Giảng luận về các trường phái văn chương
Phật Giáo"; "Lịch sử Phật Giáo Tây Tạng"; "Lịch sử Phật
Giáo Ấn Độ"; Đặc biệt là "Phương pháp nghiên cứu PG"
v.v..., trong tác phẩm này ông đã đưa ra hình thức ngắn gọn,
về cách nhìn của ông đối với PG và những phương pháp
nghiên cứu Phật học, chứa đựng những ý tưởng mới, những
giả thuyết táo bạo, và cách giải thích độc đáo. Nó làm
nền tảng cho việc nghiên cứu khoa học về Phật Giáo tại
châu Âu về sau này.
Ivan Minayev,
học trò ông Vasiliyey tiếp tục công việc của thầy. Ông
học tại đại học St. Petersburg, khoa ngôn ngữ Đông Phương.
Ông rất quan tâm đến hệ thống Tôn Giáo và triết lý PG.
Khác với những nhà khoa học trước, ông chỉ chú trọng nghiên
cứu Phật Giáo Nam Truyền, ông là học giả đầu tiên người
đứng ra được gọi là người sáng lập xu hướng mới trong
việc nghiên cứu PG Nam truyền tại Nga. Ông dành hết thời
gian và công sức vào việc nghiên cứu tất cả những di tích
và văn chương cổ của PG Nam tông trong tiếng Pali và cả Sanskrit
và những ngôn ngữ Ấn hiện đại. Năm 1862, sau khi tốt nghiệp
đại học, ông ra nước ngoài để nghiên cứu PG. Trong năm
năm làm việc tại viện bảo tàng Luân Đôn, thư viện Bá
Linh (Đức quốc), thư viện Pari để nghiên cứu kinh điển
viết bằng tiếng Pali. Ông quan tâm đến lịch sử ngôn ngữ
và truyền thuyết dân gian PG Ấn độ. Bằng việc nghiên cứu
này, ông Minayey có được sự nhận định sâu sắc hơn về
hệ thống triết lý tôn giáo phức tạp này. Ông mất ở tuổi
49 và để lại hơn 130 tác phẩm. Ông được xem là một trong
những người Nga đầu tiên thu hút sự chú ý của các nhà
khoa học Nga và phương Tây vào hệ thống triết lý PG.
Sergei Oldenburg
(1863-1934) là một nhà Đông phương học nổi tiếng khắp thế
giới, đã dành hết cuộc của mình vào việc nghiên cứu lịch
sử, nghệ thuật và văn học PG. Ông học tiếng Ba Tư và Sanskrit
tại khoa ngôn ngữ Đông phương thuộc đại học St. Petersburg.
Năm 1894 ông bảo vệ luận án Cao học về đề tài các truyền
thuyết Phật giáo. Kiến thức rộng về dân ca Ấn giúp ông
hiểu rõ ý nghĩa những hình ảnh được khắc trên bảo tháp
Eharhut và trên các bia đá Borobodura tại Java. Năm 1897 ông bắt
đầu in một loạt các tác phẩm triết lý và Phật học của
cả Phật giáo Bắc và Nam truyền với sự góp sức của các
nhà Phật học nổi tiếng khắp thế giới do chính ông đứng
đầu, tổng cộng ấn hành được hơn 30 bộ sách. Với thành
tích đóng góp của ông, Oldenburg được bầu làm hội viên
danh dự Hội châu Á của hoàng gia Anh, Hội châu Á của Pháp.
Chủ tịch danh dự hội nghiên cứu văn học Phật giáo tại
Heidelberg. Viện sĩ thông tấn viện hàn lâm Bá linh và Gottingen
và hội viên danh dự của viện khảo cổ Ấn Độ. Vào những
năm cuối đời viện sĩ Oldenburg làm giám đốc viện nghiên
cứu Đông phương của viện hàn lâm khoa học Liên Xô.
Fyodor Ippolitovich
Shcherbatskoy (1866-1942), một nhà Phật học Nga lừng danh trên
thế giới, sáng lập viên và làm viện trưởng đầu tiên
Viện Văn Hóa Phật Giáo (Institute of Buddhist Culture), sang ngày
16 tháng 09 năm 1866 tại một ngôi làng nhỏ ở Nga. Ông học
ngành lịch sử triết học tại đại học St. Petersburg. Năm
1910, ông đến Ấn Độ để tiếp tục nghiên cứu về PG.
Ông viếng thăm Bombay, Culcutta, Benares và những thánh tích khác.
Một trong những tham vọng của ông là khám phá các thư viện
Ấn Độ và Tây Tạng để lục tìm các bản kinh cổ nguyên
gốc tiếng Sanskrit đã bị thất lạc. Kết quả, ông đã biên
soạn một tác phẩm nổi tiếng là Lô-gích học Phật Giáo
(Buddhist Logic, gồm hai quyển, dày hơn 1000 trang, do Viện Hàn
Lâm Khoa Học Xô Viết xuất bản lần đầu tiên vào năm 1930
và tái bản năm 1963, bộ sách này có lưu hành tại VN nhưng
chưa được chuyển ngữ), nó được xem là đỉnh cao của
sự phát triển lâu dài của triết học PG Ấn và độc lập
với luận lý Hy Lạp. Người dân Ấn biết ơn ông vì sự
đóng góp to lớn của ông trong việc phát triển tư tưởng
triết học Ấn. Không một cuốn sách PG hiện tại nào mà
không nhắc đến tên tuổi của ông. Ông là hội viên danh
dự của Hội nghiên cứu PG ở Anh, Pháp, Đức.... Và là viện
sĩ thông tấn viện hàn lâm Gottingen. Ông tạ thế vào năm
1944.
Một nhà
Phật học Nga nổi tiếng khác và cũng là người học trò
thân tín và xuất sắc nhất của Giáo sư F. I. Shcherbatskoy,
là tiến sĩ Eugene Obermiller (1901-1935), sáng lập viên Trường
Ấn Độ học và Phật học Nga và có công rất lớn trong việc
làm lớn mạnh hạt giống Bồ đề trên đất nước Nga. Tiếc
thay, ông đã bệnh nặng và qua đời ở 46, để lại phía
sau mình gần 20 tác phẩm và dịch phẩm phật học.
Một trong
những chuyên gia hàng đầu thế giới về Phật học được
biết đến ở Nga là ông Yury Roerich, người nhận được sự
giáo dục tại Nga và hoàn tất tại London, Paris và Mỹ. Ông
dành nhiều năm ở Mông Cổ, Trung Hoa, Tây Tạng, Tích Lan, Nepal,
Miến Điện và Ấn Độ để chiêm bái thánh tích và nghiên
cứu PG. Ông thông thạo sáu thứ tiếng ở châu Á và bốn
ngôn ngữ khác ở châu Âu và sở hữu một vốn kiến thức
bách khoa về lịch sử, triết học, luận lý học, đạo đức
học, văn chương và nghệ thuật PG. Ông đã phiên dịch và
xuất bản quyển kinh Pháp Cú bằng tiếng Nga. Ông đã đột
ngột qua đời vào năm 1960.
Các tổ
chức hoằng Pháp tại Nga
Năm 1741,
hai tu viện PG được xây dựng và được nữ hoàng Nga Elizabeth
Petrovna chính thức công nhận Giáo Hội Phật Giáo Nga (Russian
Buddhist Church), đây là chuyển động quan trọng cuối cùng
của PG Nga trong một quốc gia sắp bước qua thời hiện đại.
Năm 1895,
Thượng tọa Agvan Dorzhiev, khai sơn một tu viện ở St. Petersburg,
Ngài là một người có công gìn giữ truyền thống tông phái
Hoàng Mạo (một tông phái theo truyền thống PG Tây Tạng) và
nghiên cứu PG nghiêm mật. Ngài sinh năm 1854 trong một gia đình
theo Đạo Phật tại Khara Shibin. Ngài đã đến Tây Tạng để
xuất gia tu học và trở thành một Tăng sĩ nổi tiếng. Sau
khi tốt nghiệp tiến sĩ Phật học tại đại học Gormang và
được chỉ định làm cố vấn việc học cho Đức Dalai Lama
thứ 13. Sau nhiều năm tu học và làm việc tại Tây Tạng,
Ngài trở về Nga và bắt đầu thực hiện công tác truyền
giáo của mình, Ngài bắt tay cải cách và phát triển PG tại
Buryatia, Kalmykia và Volga. Đầu thế kỷ 20, TT Dorzhiev nhận
thấy đời sống tu viện suy thoái nghiêm trọng. Trong nỗ lực
nâng cao phẩm chất cho hàng xuất gia, Ngài đã cho xây dựng
thêm nhiều tu viện mới, nhận nhiều người vào tu và tổ
chức lễ truyền giới cho họ. Năm 1909, Ngài khởi công xây
dựng một tu viện lớn với sự tham gia tận tụy của hai
phật tử Nga, là Vasilyevich Baranovslay, một kiến trúc sư nổi
tiếng và họa sĩ Nicholas Roerich. Đến năm 1915, tu viện đã
hoàn thành và nó đã trở thành một tu viện PG tầm cỡ đầu
tiên tại châu Âu.
Rồi cách
mạng đến, mọi hoạt động Phật sự đều bị ngưng lại.
Thập niên hai mươi là thời kỳ yên tĩnh của PG Nga. Chùa
Leningrad chậm chạp phục hồi. Năm 1929, Hội Truyền Giáo Mông
- Tạng (Tibetan - Mongolian Mission) được thành lập. Dưới sự
lãnh đạo của TT Dorzhiev, nhiều tự viện đã được xây
dựng. Tháng 01 năm 1927, Hội Nghị Phật Giáo Xô Viết (Congress
of Soviet Buddhists) được tổ chức tại Mátcơva.
Một người
có công lớn phục hồi lại PG Nga là nhà Phật học George
Nicholas Roerich trở về từ Ấn Độ. Roerich là một chuyên
gia nghiên cứu về PG Tây Tạng và Mông Cổ, được chỉ định
là khoa trưởng PG thuộc viện Đông phương tại Mátcơva. Tại
đây đã tạo ra làn sóng mới về nghiên cứu Phật học. Từ
năm 1958, Roerich gặp nhà Phật học Dandaron và hai người đã
hợp tác, các kinh Phật bắt đầu được phiên dịch trở
lại và các bài báo lại xuất hiện trên các tờ chuyên khảo
về nghiên cứu triết học PG. Năm 1960 ông Roerich còn tổ chức
in ấn kinh sách và tổ chức một hội nghị hợp mặt các
nhà Phật học Nga. Đặc biệt, ông kết hợp với tiến sĩ
G. P. Malalasekera (sáng lập viên Hội Liên hữu PG Quốc Tế
(The World Fellowship of Buddhists), là đại sứ Tích Lan tại Liên
Xô lúc bấy giờ) để ấn hành bản dịch kinh Pháp Cú tiếng
Nga. Cuốn sách được tung ra rộng rãi và đó là một thành
công lớn của Roerich. Ông mất vào ngày 21 tháng 5 năm 1960
ở tuổi 58 vì bệnh nhồi máu cơ tim.
Cuối thập
niên năm mươi, một phong trào truyền bá khác xảy ra ở Nga.
Đó là các tác phẩm giáo lý tiếng Nga được quay rônêo và
phát hành dưới hình thức phổ biến nội bộ. Rồi cuối
thập niên 60 những tác phẩm thiền của tiến sĩ D. T. Suzuki,
Alan Watts; những sách về PG Tây Tạng W. Y. Evan Wets, Alexandra
David Neel và Lạt Ma Govinda bắt đầu phổ biến ở Nga. Đầu
thập niên 70 thì phong trào học Phật ở Nga tuy âm thầm nhưng
rất mạnh và có một số ít Tăng sĩ nước ngoài đến Nga
để thuyết giảng.
Đầu năm
1985, với không khí cải cách và đổi mới một dòng người
Nga kéo đến Buryatia để nghiên cứu PG. Năm 1987, Đức Đạt
Lai Lạt Ma ghé sang Leningrad trên đường đến Mông Cổ. Năm
1989, TT Bakula Rinpoche là một đại sứ Ấn Độ tại Mông Cổ
đã đến diễn thuyết tại Mátcơva. Từ năm 1989 đến nay,
đã có nhiều cuộc tiếp xúc giữa Phật tử Nga và các hội
đoàn PG phương Tây và Hoa Kỳ, tất cả các pháp sư đã quan
tâm và thường xuyên đến hoằng pháp tại Nga. Trong số này
có cả những Tăng sĩ người Việt, đó là Thiền sư Nhất
Hạnh, Hòa Thượng Minh Tâm, TT. Như Điển .
Hiện nay
có khoảng 300 ngàn Việt định cư tại Nga (di cư đến Nga
nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng khởi điểm là vào giữa
những năm năm mươi của thế kỷ này) và một ngôi chùa Việt
là Hội Phật Giáo Thảo Đường, do TT. Như Điển thành lập,
địa chỉ liên lạc và giúp đỡ là: Mrs. Malkhanova Inna, Thiện
Xuân, Thiện Mẫn, Leninsky Prospekt 144-4-8, 117526, Moscow, Russia.
Tel/Fax: 7.096.434 01 13.
Tháng 8 năm
1992, Đức Dalai Lama viếng thăm chính thức Nga. Tại Buryatia
và Kalmykia, Ngài đã truyền giới sadi cho 30 người Nga và cụ
túc giới cho 13 tăng sĩ Nga, tổ chức khóa tu ngắn ngày cho
hàng ngàn tín đồ Nga và làm lễ đặt đá xây dựng hai tu
viện cỡ lớn. Đặc biệt cuối chuyến viếng thăm là đã
nói chuyện tại Đại học Mátcơva.
Đến ngày
23 tháng 4 năm 1993, TT. George Churinoff, một thiền sư người
Mỹ, đã tổ chức chuyến hoằng Pháp 3 tháng tại Nga, kết
quả có rất nhiều người theo Quy Y sau khi nghe bài pháp của
Ngài là "Những cơ sở khoa học về PG và sự thích ứng của
nó với sự phát triển kinh tế xã hội tại Nga sau thời cộng
sản".
Một thế
hệ mới các học giả Phật học Nga xuất hiện ở St. Petersburg,
trong đó nhiều người đã đi tu và nhiều người khác làm
công tác nghiên cứu và dịch thuật. Đáng chú ý nhất
là bản dịch kinh Pháp Hoa ra tiếng Nga của giáo sư Alexander
Ignatovich vừa hoàn thành năm 1996.
Chùa
Samye Dzong , ngoại ô thủ đô Moscow
Sự kiện
mới đây có ý nghĩa nhất, năm 1989, chính quyền địa phương
đã trả lại ngôi Chùa Leningrad cho cộng đồng Phật tử thành
phố. Trong thập niên sáu mươi ngôi chùa này được dùng như
cơ sở thí nghiệm của viện Động vật học Leningrad. Tuy
nhiên, năm 1970, nó được công nhận như là một công trình
kiến trúc cổ quan trọng của thành phố và được chuyển
sang sở hữu nhà nước. Tháng 9 năm 1990, Đại Đức Tenzin
Khetsun Samayev, một Tăng sĩ trẻ người Nga được mời làm
trụ trì.
Bước vào
tòa nhà người ta ngạc nhiên bởi những mảng của sự hùng
vĩ trước đây của nó, những cánh hoa sen bằng kim loại ở
những bệ cột cẩm thạch đỏ sậm ở vòm cổng, đà cửa
gổ khắc, những hoa văn sặc sỡ cao khó chạm đến ở những
đỉnh cột.... Tuy nhiên ấn tượng nổi bật nhất là sự
bỏ hoang không được sửa chữa. Cái giàn thô kệch nhô ra
những trần nhà nguy hiểm. Lớp sơn vàng và xám của văn phòng,
phết đại lên những màu sắc Tây Tạng sống động, bị
bong tróc đi. Cùng với vị sư trụ trì Samayev là 18 Tăng sĩ
trẻ Nga, bộ y đỏ tươi của họ là những dấu hiệu duy
nhất của ấm áp dễ chịu, và hình ảnh đó như nhắc lại
cho mọi người nhớ đến một nước Nga từng có một truyền
thống hào hùng về truyền thống truyền bá và nghiên cứu
Phật học ngang hàng với bất cứ nơi nào trên thế giới
và hôm nay, mọi người lại có quyền lạc quan về một tương
lai sáng lạn cho PG trên toàn cõi đất nước Nga./.
Tổng hợp
từ các tài liệu:
-- Buddhist
for Peace, Mongolia, tháng 05/1988
-- Mandala
Journal, USA, tháng 07/1993
-- Wakening
of the West, USA, 1994
-- Religion
in the Soviet Republics, USA, 1991