PHẬT
GIÁO TẠI MÃ LAI
Mã Lai (Malaysia)
một quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến (constitutional
monarchy) nằm ở Đông Nam Châu Á. Nam giáp với Thái Lan, Bắc
giáp với Singapore, là một thành viên của khối thịnh Vượng
Chung (Commonwealth of Nations), thủ đô và cũng là thành phố
lớn nhất Mã lai là Kuala Lumpur. Diện tích: 329.750 km2. Dân
số: 17.890.000 người. Mật độ dân cư: 54,2 người/km2. Dân
số dưới 15 tuổi: 36,2%. Tuổi thọ trung bình: 70,1 tuổi. Tử
suất trẻ em: 22%. Học sinh từ 12-17 tuổi: 70%. Nguyên thủ
quốc gia: quốc vương Azlan Muhibuđin Shah. Thu nhập bình quân
đầu người: 2.420 đô la. Đơn vị tiền tệ: Ringgit. Ngôn
ngữ thông dụng: tiếng Mã Lai, tiếng Hoa, tiếng Ấn và tiếng
Anh. Giành lại nền độc lập từ năm 1957, Mã Lai có được
vị trí nằm ở ngã tư đường giao thông quốc tế. Dân số
đa phần là người Mã Lai rất đa tạp (khoảng 62%). Người
Hoa (khoảng 30% dân số) nắm về ưu thế kinh tế. Ngoài ta
còn có người Ấn, Nam Dương, Thái Lan... sống trong quốc gia
này. Người theo đạo Hồi, chiếm đa phần trong dân số, ít
được ưu đãi trong lĩnh vực kinh tế nhưng lại nắm giữ
độc quyền về chính trị. Mã lai có nhiều tài nguyên thiên
nhiên như thiếc, cao su, dầu hỏa, rừng. Trong ba thập niên
qua, Mã lai đã hướng theo con đường công nghiệp hóa năng
động, ưu tiên cho ngành xuất khẩu, và có mức độ đầu
tư của nước ngoài cao nhất so với các quốc gia láng giềng.
Tôn giáo
chính của Mã Lai là Hồi Giáo (Islam) và Phật giáo (Buddhism),
những tôn giáo nhỏ khác là Khổng giáo, Lão giáo, Ấn Độ
giáo và Ky Tô giáo.
1. Thời
kỳ đầu của Phật giáo tại Mã Lai:
Tầm ảnh
hưởng của nền văn minh Ấn Độ đã vượt qua biên giới
để đến với vùng Đông Nam châu Á. Nhu cầu thương mại
lúc ấy là động lực chính làm chiếc cầu nối giữa các
nền văn hóa và tôn giáo lại với nhau. Mặt khác, Ấn Độ
thành lập một số Chính quyền Thực dân ở bán đảo Mã
Lai vào khoảng 5 thế kỷ đầu của Tây lịch. PG nhờ thế
mà được truyền vào Mã Lai trong thời điểm ấy. Có nhiều
bằng chứng cho thấy điều này hoàn toàn hợp lý qua những
địa danh của Mã Lai bắt nguồn từ nguyên ngữ Pali như
Niddesa và Milindapanha.
PG được
truyền vào Mã Lai vào khoảng đầu thế kỷ thứ 3 Tây
lịch. Nhiều sách sử đã ghi nhận rằng các nhà sư Sona
và Uttara đã đến miền Đông Nam châu Á theo sau kỳ đại
hội kết tập Kinh điển lần thứ 3 tại Ấn Độ vào 325
trước Tây lịch ( sau Phật Niết bàn 218 năm. Đại hội lần
này do Hoàng đế A Dục đề xướng và bảo trợ.) Một tài
liệu của PG Tây Tạng cũng đề cập đến ngài Dharmapala đã
đến đảo Malay vào thời điểm này. Và theo lời của Ngài
Pháp Hiển (Fa-Hsien), một nhà chiêm bái người Trung Hoa, từng
du học sang Ấn, trên đường hồi hương, (khoảng thời gian:
399-414 Tây lịch) ngài có ghé ngang trung tâm văn hóa Java ( Indonesia)
, Tích Lan và Mã Lai trước khi ngài trở về Trung Hoa vào năm
414 Tây lịch.
Chùa
Mahindarama ở đường Kampar, Penang
Từ thế
kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 13 Tây lịch, Java và Sri Vijava
đều nằm dưới sự kiểm soát của triều đại hùng mạnh
Sailendra. Những vị vua của triều đại này đã cho xây nhiều
công trình kiến trúc PG vĩ đại như vườn Tháp nổi tiếng
thế giới Borobodur ở Trung tâm Java. Ông I-Tsing, một nhà chiếm
bái Trung Hoa khác, cũng mô tả rằng vào năm 671 Tây lịch thủ
đô Sti Vijayan ở Bukit Seguntang được xem là một trung tâm
văn hóa PG quan trọng, với hơn một ngàn tăng sĩ đang tu học
tại đây. Sau khi triều đại Sri Vijaya sụp đổ, PG vẫn tiếp
tục truyền vào Mã Lai.
2. Những
bằng chứng lịch sử và khảo cổ:
Những nhà
khảo cổ tìm thấy những bằng chứng của thời kỳ đầu
này qua những tác phẩm điêu khắc PG tại Mã lai. Tuy nhiên
những bằng chứng lịch sử có thể tìm thấy trong văn học
Trung hoa rằng PG đã được thiết lập tại Mã Lai vào thế
kỷ thứ 6 Tây lịch. Theo biên niên sử Trung Hoa ghi nhận rằng
Hoàng đế của Mã Lai đã gởi một phái đoàn ngọai giao đến
Trung Hoa vào những năm 527, 530 và 536 Tây lịch với những
món quà bao gồm xá lợi Phật (relics), tranh ảnh PG, và lá
Bồ Đề. Tài liệu này cũng xác nhận rằng những thành viên
trong đoàn ngoại giao này có tên là Tan-Tan, Chip-Tu và Fo-Lo-An.
Và tại nơi đây, hàng năm lễ Phật Đản được tổ chức
vào ngày trăng tròn tháng sáu với những đám rước và lễ
nhạc và pháp danh của vị Thầy chủ trì cuộc lễ lúc ấy
là Tỳ kheo Pi-ch'iu.
Ngành thương
mại của Trung hoa bắt đầu tiếp xúc với Đông Nam châu Á
vào khoảng đầu thế kỷ thứ 3 TL, khi triều đại nhà Wu
gởi một phái đoàn đến Đông Nam châu Á để tìm hiểu tình
hình chính trị và thương mại ở vùng này. Từ đó, thị
trường của Trung Hoa đã trở thành quan trọng đối với vùng
Đông Nam châu Á này, và phần lớn các thương gia thời bấy
giờ đều là Phật tử, nên PG đã chẳng bao lâu đã phát
triển mạnh tại các quốc gia trong khu vực.
Các cuộc
khai quật ở Kedak và Penang (các tỉnh lî của Mã Lai), các
nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều tàn tích về các ngôi chùa,
tháp và tượng Phật còn sót lại ở đó. Tại hai nơi này,
vào khoảng đầu thế kỷ thứ 4 hay 5 TL đã có những bia đá
khắc Kinh Phật bằng tiếng Sanskrit. Một trong những bia đá
quý báu này được tìm thấy dưới một ngôi nhà đổ nát
ở tỉnh Kedah.
Một di vật
quan trọng khác được thấy là một bia bằng đất sét ở
Kedak với ba bài kệ chữ Sanskrit khắc vào thế kỷ thứ 6
TL và hai bức tượng Quan Thế Âm Bồ tát cũng được tìm
thấy ở tại địa danh này.
Những tác
phẩm điêu khắc PG vào thế kỷ thứ 4 TL đều được tìm
thấy ở nơi khác của bán đảo Malaysia, đặc biệt là Cheruk
Tekun và tỉnh Wellesley. Những hình Phật và những di vật khác
cũng được tìm thấy ở Kuala Selinsing, Kinta Valley, Tanjung Rambutan,
Bidor and Sungei Siput và Perak.
Trong khi đó,
một bằng chứng lịch sử khác vào năm 1006 TL cũng được
ghi nhận, Vua Kataka ở Kedak đã xây dựng một ngôi chùa ở
Negapatam. Vua Rajaraja đệ nhất đã ban hành những đạo luật
miễn thuế cho chùa chiền. Những ngôi chùa cổ cũng đã được
khai quật ở phía đông bờ biển Mã Lai. Dù có một số
nơi bây giờ thuộc về phần đất của Thái Lan. Nhiều
tượng Phật bằng đồng và đá từ thế kỷ thứ 13 TL cũng
được khám phá trong vùng này. Theo biên niên sử Trung Hoa,
cho thấy rằng PG đã truyền vào vùng P'an P'an này vào thế
kỷ thứ 6 TL và kéo dài đến 700 năm sau.
Còn rất
nhiều di vật khảo cổ được tìm thấy vào đầu những năm
1900, trong khoảng thời gian Thực dân Anh xâm chiếm Mã Lai,
một số khác cũng được khám phá vào những năm 1970 ở Kedah.
Trong khi đó có nhiều dấu tích của chùa chiền cũng được
tìm thấy ở thung lũng Bujang, điều này cung cấp thêm nhiều
dữ kiện cho sự có mặt của PG ở Mã Lai từ thế kỷ thứ
4 đến thế kỷ thứ 14 TL. Hiện tại tất cả những di sản
khảo cổ này được bảo trì và trưng bày tại Viện bảo
tàng quốc gia ở tỉnh Bukit Batu Pahat mà mọi du khách đều
có thể đến viếng thăm.
3. Thời
kỳ suy tàn của Phật giáo tại Mã Lai:
Phật giáo
đã suy yếu dần theo sau sự tấn công của Hồi giáo vào Mã
Lai ở thế kỷ thứ 14 TL của người Ả Rập và thương gia
Ấn Độ. Đầu thế kỷ thứ 15, một vị vua Mã Lai dựng Kinh
đô ở Malacca, vốn là tín đồ của Ấn Độ giáo, đã cải
đạo theo Hồi giáo và vì thế mà đạo này có cơ hội để
truyền bá rộng khắp trên toàn bán đảo Mã Lai. Lúc bấy
giờ PG lui dần về ngoại ô và sau đó chỉ còn để lại
bóng dáng của mình trên nền văn học, trong truyện cổ tích,
huyền thoại và địa danh của đất nước Mã Lai.
4. Thời
kỳ phục hưng của Phật giáo tại Mã Lai:
Sau 300 năm
tàn lụi, PG Mã Lai lại phục hồi theo sau làn sóng di dân của
người Trung Hoa đến Mã Lai vào thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên,
sự phục hưng này được xác định rõ ràng nhất là vào
thế kỷ thứ 19 khi di dân người Hoa đổ xô qua Mã Lai. PG
ở thời kỳ này mang sắc thái tổng hòa: Tam giáo đồng nguyên,
Phật (phần lớn theo tông phái Tịnh Độ/Pure Land), Lão (Taoism)
và Khổng giáo (Confucianism), để đem lại niềm an lạc và
lợi ích tâm linh cho người tín đồ.
Theo thống
kê của chính phủ Mã Lai vào năm 1991, có tất cả 3,2 triệu
tín đồ theo Đạo Phật và 0,9 triệu người theo Đạo Lão
và Đạo Khổng trong tổng số 17.6 triệu người Mã Lai. Con
số này đã minh chứng rằng PG đã thực sự hồi sinh và phát
triển mạnh trên quốc gia này.
5. Phật
giáo Bắc Tông tại Mã Lai:
Một số
chùa Bắc Tông được xây dựng rất sớm tại Penang. Chùa
Kuan Imm Teng xây dựng vào khoảng đầu những năm 1800, chùa
Cheng Hoom Teng xây dựng rất sớm ở Malacca vào khoảng thời
điểm ấy. Hai ngôi chùa này hiện nay là những ngôi chùa cổ
nhất ở Mã Lai, tuy nhiên những nơi này chỉ được xem là
danh lam để du khách viếng thăm hơn là nơi để đến nghiên
cứu và tu học Phật Pháp.
Năm 1887,
Pháp sư Miao Lian đến Penang từ Fuchow, Trung Hoa và bắt đầu
xây dựng chùa Tịnh Độ (Kek Lok/ Sukhavati). Ngôi chùa được
thiết kế tổng hợp theo lối kiến trúc PG Thái Lan, Miến
Điện và Trung Hoa. Ngôi chùa này đã chính thức khánh thành
vào năm 1905 và nó được xem là một trong những ngôi chùa
lớn nhất của vùng Đông Nam châu Á. Từ thập niên tám mươi
đến nay, chùa Tịnh Độ là tụ điểm an cư tu học của đông
đảo Tăng Ni Bắc Tông của Mã Lai. Hiện tại chùa cũng đang
được mở rộng thêm và cũng được xem là nơi thu hút khách
du lịch.
Hội Phật
giáo Penang (The Penang Buddhist Association) được thành lập năm
1925 với mục đích truyền bá lời Phật dạy. Ngôi chùa của
Hội này được xây dựng trên đường Anson và hoàn thành
năm 1931. Hội này đã trở thành một tổ chức hoằng Pháp
sớm nhất tại xứ sở này. Thời gian đầu, hội này
đã gặp sự chống phá của truyền thống mê tín địa phương
lâu đời tại Mã Lai này. Nhưng sau đó do nỗ lực hoạt
động, nên Hội đã cảm hóa được quần chúng và đưa họ
trở về với ánh sáng của Chánh Pháp.
Năm 1955,
Hội Thanh Niên Phật Tử Penang ra đời (Youth Circle of the Penang
Buddhist Association) dưới sự khởi xướng và lãnh đạo của
một tăng sĩ người Mỹ, ngài Venerable Sumangalo, người đến
Mã Lai vào năm 1955 và có những chương trình hoạt động hoằng
Pháp đổi mới, như mở trường Phật Pháp Chủ Nhật (Dharma
Sunday School) cho thanh thiếu niên, thành lập Hội Liên Hữu
PG Mã Lai (Malaysian Buddhist Youth Fellowship) cho mọi giới Phật
tử có thể tham dự tu học. Năm 1956, Thượng tọa Sumangalo
đã viếng thăm Úc châu, và ngài đã nhanh chóng thu hút thính
giả qua các buổi giảng giáo lý ở Melbourne và Sydney trong
nhiều tuần lễ. Sau đó ngài trở lại Mã Lai làm việc cho
đến ngày viên tịch vào năm 1963.
Mặc dù Hội
PG Penang thuộc trường phái Bắc Tông, nhưng hội luôn cung
thỉnh nhiều tăng sĩ Nam Tông đến để hoằng Pháp như cố
trưởng lão K. Gunaratana Maha Nayaka, Hòa thượng P. Pemaratana
Maha Nayaka từ Tích Lan.
Một vị
nữ tu Bắc tông, sư cô Fang Lian, xây dựng Ni Viện Phor Thay
vào năm 1936. Sư cô đã có những hoạt động tích cực như
xây dựng một trung tâm nuôi trẻ mồ côi, một trường Tiểu
học và một trường Trung học, chương học có kèm môn Phật
Pháp. Cả ba trường này hàng năm thu nhận hơn 3000 học sinh
đến ghi danh để học.
Năm 1950,
14 thành viên của Hội Phật giáo Penang đã đến tham dự Đại
hội khoáng đại của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới
(The World Fellowship of Buddhists/WFB) nhóm tại Colombo, Tích Lan.
Theo sau kỳ đại hội này, Phật tử ở Mã Lai đã thành lập
một chi nhánh trung tâm của WFB tại Penang vào năm 1951.
Tiếp đó,
Giáo Hội Phật Giáo Mã Lai (The Malaysian Buddhist Association/MBA)
được thành lập vào ngày 19 tháng 4 năm 1959, với sự hợp
mặt của hầu hết các chùa chiền người Mã Lai và người
Hoa. Vị chủ tịch Giáo hội đầu tiên là Hòa Thượng Chuk
Mor. Giáo hội đã thành lập một Học viện Phật giáo (Buddhist
Institute) để đào tạo tăng ni và mở một trường Phật
học miễn phí dành cho người lớn tuổi. Trường dạy nhiều
ngôn ngữ khác nhau như tiếng Mã Lai, tiếng Hoa và Anh văn.
Hòa thượng
Chuk Mor là một Pháp sư rất nổi tiếng ở Mã Lai, Ngài sinh
ngày 13 tháng 8 năm 1913 tại Trung Hoa. Ngài xuất gia năm 12 tuổi
(1924) và đến hoằng Pháp tại Mã Lai vào tháng 5 năm 1954.
Vào tháng 7 năm 1962, Ngài đã xây dựng Thiền Đường Tam Trí
(Triple Wisdom Hall) để dạy thiền cho Phật tử Mã Lai. Một
trong những đệ tử của Hòa thượng là Đại Đức Sik Chi
Chern, là người kế thừa sự nghiệp của Bổn sư và cũng
là Chủ Tịch Hội Thanh Niên Phật Tử Mã Lai (Young Buddhist
Association of Malaysia/YBAM) trong hai nhiệm kỳ từ 1990 đến 1996.
Vị chủ
tịch thứ hai của MBA là Hòa thượng Kim Beng, viện chủ chùa
Cheng Hoon Teng ở Malacca, cũng là Pháp sư giảng dạy Phật Pháp
nổi tiếng ở Mã Lai. Chính phủ Mã Lai đã trao tặng Ngài
giải thưởng Jasa Setia Mahkota để biểu dương sự đóng góp
và làm lớn mạnh nền văn hóa Phật giáo tại xứ sở này.
Vị Chủ
tịch hiện nay (1999) của MBA là Hòa Thượng Negri Sembilan. Ngài
cũng là một Pháp sư nổi tiếng ở Mã Lai, ngài vốn được
xem là một vị Thầy thuốc bắc lừng danh tại Mã Lai.
Ngôi chùa
chính của trường phái Bắc Tông ở thủ đô Kuala Lumpur là
chùa Kuan Imm Teng do Đại đức Keng Aun, đây là ngôi chùa Tàu
lớn nhất ở thủ đô.
Trong những
năm gần đây, các Pháp sư của Hội Phật Quang Sơn (Fo Kuang
Shan) cũng đến hoằng Pháp tại Mã Lai, đặc biệt là Hòa
Thượng Tinh Vân đến dự lễ khánh thành Chùa Phật Quang (Buddhas
Light Vihara) vào năm 1998. Trong dịp này, một đảng phái chính
trị người Hoa (đảng này là liên minh với Thủ tướng đương
nhiệm, Tiến sĩ Mahathir Mohamed) đã cung thỉnh HT. Tinh Vân
thuyết pháp cho quần chúng Phật tử. Đây là lần đầu tiên
chính quyền Mã Lai đã tham gia và đóng góp thiết thực cho
sinh hoạt PG có ý nghĩa nhất tại quốc gia này.
Mặt khác,
cố Hòa thượng Tuyên Hóa và nhiều đệ tử người Hoa và
Mỹ của Ngài cũng từng đến hoằng Pháp tại Mã Lai vào hai
thập niên tám mươi và chín mươi. Những hoạt động thuyết
giảng này đã làm cho Phật giáo tại Mã Lai lớn mạnh nhiều
hơn trong những năm gần đây.
Một sự
ảnh hưởng Bắc tông khác đến từ Đài Loan là Hiệp Hội
Từ Thiện Phật Giáo Từ Tế (Buddhist Tzu Chi Merit Society) do
Ni sư Chứng Nghiêm thành lập ở Taiwan vào năm 1966. Tại Mã
Lai, Hội có trụ sở chính ở Kuala Lumpur và có những
hoạt động từ thiện xã hội từ năm 1990. Hiện nay
hội đã có thêm nhiều chi nhánh khác ở Penang, Melaka và Ipoh.
6. Phật
giáo Nam Tông tại Mã Lai:
Nếu như
phần lớn người Trung Hoa theo Bắc Tông PG, thì ngược lại,
người Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan lại theo Nam Tông PG.
Cộng đồng người Thái Lan tập trung ở Perlis, Kedah và Kelantan.
Ước lượng có khoảng 200 ngôi chùa Thái Lan nằm về các
tỉnh này của miền Bắc Mã Lai. Các chùa Thái cũng thu hút
nhiều người Hoa để chiêm bái và tu học.
Ngôi chùa
cổ nhất của Nam Tông tại Mã Lai là chùa Candaram ở Green
Lane, Penang, hiện nay chùa này đổi sang làm Trung Tâm Thiền
PG Mã Lai (Malaysian Buddhist Meditation Centre), chùa được xây
dựng vào năm 1918. Đầu thập niên 1970, Thượng tọa Abhidhammapalanana,
một tăng sĩ trí thức Thái Lan đã đến trụ trì ngôi chùa
này và ngài bắt đầu dạy về Thiền quán niệm và luận
Abhidhamma cho Phật tử Mã Lai. Các buổi thuyết giảng của
ngài đã thu hút giới trẻ Mã Lai, cả học sinh Trung học và
sinh viên đại học đều đến tham dự. Hiện nay sự nghiệp
hoằng Pháp này được đệ tử của ngài thừa kế là Đại
đức Sujivo, một tăng sĩ Mã Lai. Một tu sĩ Thái Lan khác có
công truyền bá PG tại Mã Lai là Thượng tọa Silananda, trụ
trì chùa Pin Wang ở Penang ( chùa này xây dựng năm 1889) ngài
cũng thành lập trường Phật Pháp Chủ nhật và dạy thiền
hằng tuần cho Phật tử trong địa phương.
Một
buổi thuyết giảng tại Mã Lai
So với người
Thái Lan, cộng đồng người Miến và Tích Lan thì nhỏ hơn.
Người Miến Điện phần lớn ở tỉnh Penang và ngôi chùa
sinh hoạt chính của họ là Dhammikarama, xây dựng 1828, đây
là ngôi chùa duy nhất của người Miến tại xứ sở này.
Chùa do Đại đức U Pannavamsa trụ trì, ngài là người làu
thông về Tạng luận và Thiền quán niệm, ngài cũng cho mở
trường Phật Pháp chủ nhật để phổ biến giáo lý. Nhiều
tăng sĩ Miến khác cũng có công truyền bá lời Phật dạy
ở Mã Lai là các Đại đức Dhammabanchanvud, Mahasi Sayadaw, Sayadaw
U Pandita, Sayadaw U Janaka, các ngài đến Mã lai vào cuối những
năm 1980 và thành lập nhiều Trung Tâm Thiền Học ở Johor,
Perak, Malacca, Petaling Jaya và Selangor.
Sự đóng
góp chính cho PG Nam Tông ở Mã Lai phải nói là đến từ phía
các Tăng sĩ người Tích Lan. Phần lớn họ đều nói tiếng
Anh và được đào tạo trong môi trường Phật học chính quy
tại quê nhà. Các chùa Tích Lan tập trung ở tỉnh Penang, Taiping,
và hai chùa lớn khác ở thủ đô Kuala Lumpur, những ngôi chùa
này đều có số 1ượng lớn tín đồ người bản xứ nói
tiếng Anh đến tham học.
Ngôi chùa
chính của PG Tích Lan là Mahindarama ở đường Kampar, Penang,
do Hòa thượng A. Pemaratana xây dựng vào năm 1918. Ngôi chùa
đã một thời nổi tiếng là trung tâm tu học dưới sự dẫn
dắt của Trưởng lão K. Gunaratana Maha Nayaka Thera (1933-1964).
Là một pháp sư hùng biện, ngài Gunaratana đã tổ chức nhiều
khóa tu học và thuyết giảng cho Phật tử địa phương cũng
như đi diễn giảng trên khắp xứ Mã Lai. Sau khi ngài viên
tịch, Hòa thượng P. Pemaratana Maha Nayaka Thera đã kế thừa
sự nghiệp hoằng Pháp tại ngôi chùa này.
Một trong
những tăng sĩ Tích Lan thành công nhất trong sự nghiệp hoằng
Pháp tại Mã Lai là Đại lão Hòa thượng K. Sri Dhammananda Maha
Nayaka Thera, sự xuất hiện của ngài đã làm cho PG tại xứ
sở này lật qua một trang sử mới. Ngài Dhammananda sinh năm
1919 và đến Mã Lai vào ngày 2 tháng giêng năm 1952. Ngài
thành lập ngay một Hiệp Hội Truyền Bá Chánh Pháp (Buddhist
Missionary Society) vào năm 1963 và tổ chức thuyết giảng,
hội thảo Phật Pháp trên toàn quốc. Bên cạnh đó, ngài viết
và xuất bản nhiều tác phẩm Phật học, đặc biệt là loại
bỏ những quan niệm sai lầm về PG cũng như quan điểm tu học
của người Phật tử trong đời sống hằng ngày. Các tác
phẩm đặc sắc như "Người Phật Tử phải tin gì ?" (What
Buddhists believe); "Làm thế nào để sống khỏi sợ hãi và
lo âu" (How to live without fear and worry); "Hạnh Phúc lứa đôi"
(A happy married life); "Thiền Định , con đường duy nhất" (Meditation,
the Only way); "Kho báu của Chánh Pháp" (Treasures of the Dhamma)...
đã nhanh chóng thu hút mọi giới Phật tử và đến nay
những tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Một trong những đệ tử xuất gia của HT.
Dhammananda, là Thượng tọa Mahinda, người có khả năng kế
thừa sự nghiệp to lớn của Bổn sư.
7. Phật
Giáo Nhật Bản ở Mã Lai:
Phật giáo
Nhật Bản (Thiền tông và Pháp Hoa tông) được giới thiệu
ở Mã Lai vào đầu những năm 1960 bởi các thương gia người
Nhật đến làm việc tại Mã Lai, hoặc do một số tổ
chức của người Mã Lai sang Nhật du học rồi về nước thành
lập. Thập niên tám mươi, chính quyền Mã Lai với chính sách
"Hướng về Phương Đông" (Look East Policy) Nhật Bản là một
trong những quốc gia để họ hướng về học hỏi. Về công
nghiệp hóa, hệ thống quản lý, đạo đức nghề nghiệp và
những thứ khác mà Nhật Bản đã thành công, trong đó PG Nhật
Bản là một trong những chủ đề để Mã Lai nghiên cứu và
học hỏi. Ngày nay Tông Pháp Hoa đều có chi nhánh ở các thành
phố lớn của Mã Lai, bao gồm Kuala Lumpur, Penang, Ipoh, Malacca
và Kuantan.
8. Phật
Giáo Tây Tạng ở Mã Lai:
PG Tây Tạng
được giới thiệu ở Mã Lai trễ nhất nhưng lại được
đại đa số quần chúng biết đến theo sau các sự kiện:
giải thưởng Nobel Hòa Bình của Đức Dalai Lama vào năm 1989;
tác phẩm "Tạng Thư Sống Chết" (Tibetan Book of Living and Dying)
của Lama Sogyal Rinpoche; Phong trào giải phóng cho Tây Tạng do
các ca sĩ, diễn viên nổi tiếng của Hollywood khởi xướng,
hai cuốn phim "Bảy năm ở Tây Tạng" và "KunDun"... đã làm
khuấy động và thu hút mọi giới Phật tử hay những tín
đồ đạo khác ở Mã Lai đều chú ý đến PG Tây Tạng.
Tuy nhiên
trước đó, vào tháng 12 năm 1980, Lạt ma Gwalya Karmapa đã đến
hoằng Pháp tại Mã lai. Sự xuất hiện của ngài đã đánh
dấu chính thức của sự truyền nhập của PG Tây Tạng vào
Mã Lai. Từ đó đến nay đã có nhiều Lạt ma Tây Tạng đến
thuyết Pháp và nhiều Trung tâm tu học đã xây dựng rải rác
ở khắp Mã Lai.
9. Một
số Tổ chức Phật giáo tại Mã Lai:
-
Hội Thanh Niên
Phật Tử Mã Lai (the Young Buddhist Association of Malaysia/ YBAM):
Hội được thành lập vào 1970, kết quả từ sự thống nhất
của 243 tổ chức thanh niên Phật tử trên toàn quốc với
tổng số hội viên là 3000. Tổ chức này đã có các sinh hoạt
như giảng dạy Phật Pháp, cắm trại tu học, và đóng góp
cho các hoạt động từ thiện xã hội. Hội này hàng năm đã
kết hợp với Giáo Hội PG Mã Lai tổ chức kỳ thi Phật Pháp
cho Phật tử trên toàn quốc. Hội YBAM cũng từng nhận được
giải thưởng Hội đoàn thanh niên xuất sắc của Mã Lai. Hội
cũng có những phương cách để tạo ngân quỹ cho tổ
chức như mở nhà hàng cơm chay và trung tâm dạy điện toán.....
Số tiền thu được dùng để xây dựng tổ chức, cúng dường
Tăng Ni, cấp học bổng và các công tác từ thiện xã hội
khác.
-
Các tổ chức
in ấn và phát hànhh kinh sách Phật giáo (Dharma publications):
Một số Hội đoàn PG Mã Lai nổi bật trong việc in ấn và
phát hành kinh sách PG bằng tiếng Trung Hoa, tiếng Anh như Hiệp
Hội Truyền Bá Chánh Pháp; Tổ chức thu sang băng Trí Tuệ
(Wisdom Audio Visual) ở Kuala Lumpur; và Giáo Hội PH Mã Lai ở
Penang..v.v...đều tổ chức in và ấn tống miễn phí rất nhiều
Kinh, sách, truyện PG để phát không cho người đọc, không
những cho Phật tử ở Mã Lai và còn gởi đi ấn tống cho
các trung tâm PG có liên hệ trên khắp thế giới.
Trụ
sở Giáo Hội PG Mã lai
10. Kết
Luận:
Mặc dù Hồi
giáo là quốc giáo nhưng con số tín đồ Phật giáo đã gia
tăng ở Mã Lai trong những thập niên qua. Phật tử Mã Lai luôn
yêu chuộng hòa bình và tinh tấn thực hành đạo Pháp. Cũng
giống như Việt Nam, PG Mã Lai là một hình ảnh tổng hòa giữa
các trường phái Nam và Bắc Tông, Thiền tông và Kim cang tông
đều sinh hoạt hài hòa trong niềm tương kính để đem lại
ánh sáng và bình yên cho xứ sở.
Rất nhiều
chùa chiền do Phật tử Mã Lai đứng ra xây dựng trong vòng
hai mươi năm qua. Nhiều người Mã lai đã phát tâm xuất gia
tu học và trở thành những nhà hành đạo và truyền đạo
cho đất nước. Nhiều hội đoàn thanh niên, Phật tử trẻ
tuổi đã và đang tìm về với ánh sáng của Chánh Pháp qua
các khóa học Trường Phật Pháp ngày chủ nhật ở thủ đô
Kuala Lumpur và nhiều thành phố khác. Rõ ràng họ thích thú
khám phá ra cái đẹp trong lời Phật dạy hơn là dựa theo
truyền thống tín ngưỡng mà cha mẹ hay ông bà từng tin theo.
Tương lai
của PG Mã Lai tương đối rất sáng sủa với tầng lớp, thế
hệ trẻ của Mã Lai đang hướng về Chánh Pháp, nhất là xuyên
qua lãnh vực giáo dục và từ thiện xã hội. Nguyện cầu
cho PG Mã Lai đầy đủ tiềm lực, phương tiện và thuận duyên
để chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới với đầy niềm
tin và hy vọng trong sứ mệnh mang hạnh phúc đến cho cuộc
đời./.
Tổng hợp
theo các tài liệu:
- Dr Sukumar
Sengupta (1994), Buddhism in South-East Asia, Atisha Memorial Publishing
Society, Calcutta,
- Benny
Liow Woon Khin (1989), Buddhist Temples and Associations in Penang,
1945-1948, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society,
Vol LXII Part 1.
- Venerable
Sumangalo 40 Years of Appreciation, a collection of some of Venerable
Sumangalos Dharma talks with biographical notes by Dato Khoo Keat Soo,
a free distribution publication of the Penang Buddhist Association Dharma
Sunday School, undated.
- Buddhism
in Malaysia, Volume 2 (1987), Young Buddhist Association of Malaysia, Buddhist
Digest Publication Board.
- Paul Croucher
(1989), Buddhism in Australia 1848-1988, New South Wales University Press.
- BUDDHISM
IN MALAYSIA, Volume One, published by YBAM in 1984.
Unpublished
Notes on the history and contemporary status of Buddhism in Malaysia compiled
by Mr Yeap Tor Hor & Kerry Trembath, Malaysia (1999).