64. PHẬT
GIÁO CÓ TIN LÀ THƯỢNG ĐẾ TỒN TẠI HAY KHÔNG
Thượng Đế là một danh từ có
một định nghĩa rất rộng rãi. Có nhiều thượng đế của
các loại tôn giáo. Cũng có nhiều Thượng đế của Triết
học. Nói chung lại, đứng trên lập trường nào để nhìn
Thượng đế, thì sẽ hình thành một Thượng đế theo lập
trường đó.
Đạo Gia Tô cho rằng, Trời (thiên)
hay Thượng đế của Nho gia Trung Quốc cũng là Thượng Đế
của đạo Gia Tô. Thực ra, Thượng đế của Nho gia Trung Quốc
là Thượng Đế của triết học phiếm thần, là Thượng Đế
được con người yêu, nhưng không thể đòi hỏi Thượng Đế
yêu người lại, cũng tức là Thượng Đế của "Bất khả
tri luận". Thượng Đế của đạo Gia Tô là thần linh nhân
cách hóa; là Chúa sáng thế đứng bên ngoài vũ trụ, là vị
Thần vạn năng.
Về thuyết khởi nguyên của vũ
trụ, thì dù là tôn giáo ở thời kỳ đầu hay là triết học
cũng thường thường cho rằng đó là do thần biến hóa mà
thành. Hi Lạp cho rằng Trụ Tư [Zem] là chúa tể các vị thần.
La Mã cho rằng Cầu Tỷ Đặc [Jupeter] là chúa tể các vị
thần. Các Thần của Ấn Độ cổ đại rất phức tạp, vị
trí của họ thay đổi là Đại Vu Tư (daus) là đồng nhất
về ngôn ngữ với Zeus của Hi Lạp và Jupiter của La Mã. Những
vị thần có thế lực trong giới thần linh của sách thánh
Vê đa là Balâuna (Baruna) là thần Tư pháp. Vị thần của Hư
không giới là "Nhân đà la" [Indra] tức là Thần Sét. Vị thần
của địa giới là A Kỳ Ni [Agni] là Hỏa thần (thần lửa).
Thần địa ngục là vua DẠ MA (Yama), [nhưng ông này trị vì
trên một cõi trời]. Vì vậy, Ấn Độ cổ đại sùng bái
nhiều thần (đa thần). Sau này, Ấn Độ giáo, có thuyết cho
rằng, Thượng Đế, tức Chúa sáng tạo là "Đại Phạm Thiên",
hoặc là "Đại tự tại thiên", hoặc là "Na la diên thiên",
cuối cùng hình thành quan niệm Tam vị nhất thể, và công
nhận Đại Phạm Thiên là chúa sáng tạo, Nala diên thiên là
vị thần bảo vệ; Đại tự tại thiên là vị thần phá hoại.
Nhưng thực ra, đó chỉ là một vị thần với ba bộ mặt
khác nhau mà thôi. Hiện nay Ấn Độ giáo sùng bái "AMa", "Thấp
La" và cả đến đức Phật cũng được họ sùng bái như Thượng
đế (danh từ chỉ Thượng đế tính có tới hàng trăm - Xem
bài : Ánh sáng chân lý - do Chu Tương Quang dịch; tr. 22, chú
14).
Thượng đế của Đạo giáo Trung
Quốc là Ngọc Hoàng, khác với Thượng Đế của Nho gia, cũng
khác với Thượng đế của đạo Gia Tô, cũng khác với Thượng
đế của Ấn Độ giáo. Nếu đánh giá theo quan điểm và nhận
thức của Phật giáo thì Thượng đế của Lão giáo và Hồi
giáo tương đương với vị chủ tể cõi Trời Đao Lợi của
Phật giáo; Thượng Đế của đạo Gia Tô (từ Ma Tây đến
Pao lô và Angustanh v.v… đã thăng lên nhiều cấp) tương đương
với Phạm thiên vương của Phật giáo; Thượng đế của Ấn
Độ giáo đồng nhất với Đại tự tại thiên vương của
Phật giáo; cõi Trời Đao Lợi là cõi Trời thứ 2 của Dục
giới, gần gũi nhất với cõi người. Cõi Trời phạm thiên
là cõi trời sơ thiền thuộc sắc giới. Đại tự tại thiên
là cõi Trời cao nhất không có căn cứ. Vì phạm vi bài này
không cho phép phân tích giới thiệu cặn kẽ, chứ nếu so
sánh Thượng đế quan của các tôn giáo với 28 cõi Trời thuộc
3 giới thì đó là vấn đề rất thú vị.
Bởi vì các vị chủ tể các cõi
Trời, đều có đôi chút thói quen kiêu mạn, thường hay nói
với thần dân của họ rằng họ là vị chúa tể sáng thế
có một không hai, cũng như vua chúa ở cõi người nay cũng
thường tự xưng là "quả nhân". Ý tứ là, ngoài họ ra, trong
thiên hạ không ai có thể cao quý vĩ đại hơn họ. Thậm chí,
Tần Thủy Hoàng tự xưng là "Đức hơn Tam Hoàng, công vượt
ngũ đế", vì vậy, ông tự xưng là Thủy Hoàng đế [Vị Hoàng
đế đầu tiên]. Tâm lý của ông cũng giống như tâm lý của
các vị chủ tể các cõi trời, tự xem mình là có một không
hai. Thậm chí, có vị còn tỏ ra kiêu mạn đối với đức
Phật nữa [xem Tạp A Hàm cuốn 44. Các trang 1195-1196]. Kỳ thực,
họ đâu có phải là chúa sáng thế ? Vũ trụ không thể nào
so sức mạnh của bất cứ vị Thần nào sáng tạo ra được.
Vũ trụ là do nghiệp lực của chúng
sinh cảm ứng mà có, nhiều nhân duyên hòa hợp mà thành.
Như vậy, Phật giáo có thừa nhận
Thượng Đế tồn tại, nhưng không cho rằng, Thượng Đế
sáng tạo ra vũ trụ.
Còn Thượng đế của triết học
chỉ là giả thiết của các triết gia, là một loại quan niệm
giả định, chứ không phải là một đối tượng thực chứng
: vì vậy, Phật giáo không tin ở sự tồn tại của Thượng
đế của triết học.
Có thể có những người tin theo
tôn giáo thần quyền nói rằng : "Thượng đế có quyền thưởng
phạt người thiện, kẻ ác. Phật giáo đồ không sợ Thượng
đế hay sao"?
Đúng như vậy, vì Phật giáo đồ
không sùng bái Thượng đế cho nên cũng không sợ Thượng
đế, Phật giáo đồ tin rằng, tất cả mọi thiện thần trong
ba giới, bao gồm cả Thượng đế và các vị Thiên chủ của
28 cõi Trời đều tin theo Phật pháp, ủng hộ Phật pháp; Phật
giáo xem họ cũng như các viên chức quân sự xem các vệ binh
giữ cửa thành. Vệ binh có quyền kiểm soát sự ra vào cửa
thành. Vệ binh có quyền bắt giữ, tra hỏi bọn phá hoại,
bọn âm mưu lẻn vào cửa hành. Còn các viên chức quân sự,
hành động theo đúng luật pháp, sao lại có thể sợ vệ binh
được ?
Phật giáo không cho rằng Thượng
Đế có năng lực sáng tạo vạn vật, cũng không thừa nhận
Thượng Đế có quyền ban phúc giáng họa đối với chúng
sinh. Phật xem Thượng đế cũng là một trong 6 loại chúng
sinh; bất quá vì ở các đời trước, có tu phúc báo, cho nên
ngày nay được sinh lên các cõi Trời để hưởng lạc. Nếu
Thượng Đế có tham dự vào sự nghiệp họa phúc của chúng
sinh, cũng là do sự cảm ứng của nghiệp lực của loài người
mà thôi. Đó là đạo lý mà câu cách ngôn nói: "Tự giúp thì
người giúp", "Tự hại thì người hại".
65.
PHẬT GIÁO CỐNG HIẾN GÌ CHO NƯỚC TRUNG QUỐC 
Một số học giả Nho giáo, có đầu
óc thành kiến hẹp hòi, ngay hiện nay vẫn còn nhắm 2 mắt
lại mà gào thét, khích bác Phật giáo. Kỳ thực, hiện nay,
trong nền văn hóa Trung Quốc, ngoại trừ những sản phẩm
văn hóa mới nhập khẩu gần đây, còn thì hầu như không
có lĩnh vực nào là không mang nặng sắc thái Phật giáo.
Về mặt văn học, việc phiên dịch
Kinh Phật đã kích thích và tạo thành cuộc cách mạng trong
văn học Trung Quốc, từ trong ý tứ thơ văn cho tới sự diễn
biến của thể văn, đều xuất hiện một khí tượng mới,
ngay từ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. Đến thời Lục triều
do phải dịch âm chữ Phạn, thí dụ dịch âm đầu đề Kinh
Hoa Nghiêm (Avatamsaka) mà đặt ra cách thức dịch phép vần
phiên thiết : 2 chữ Hán thông dụng, rồi lấy phụ âm đầu
của chữ thứ nhất ghép với vần cuối của chữ thứ hai
tạo thành âm đọc của chữ được chú âm : do ghép âm mà
sinh ra bốn thanh (tứ thanh) dựa vào bốn thanh mà cải biến
thơ 5 chữ và 7 chữ thành luật. Người Trung Quốc xưa nay
làm văn, đều chủ trương đọc nhiều, xem nhiều "đọc nát
vạn quyển, hạ bút như thần", "đọc thuộc 300 bài thơ Đường,
không biết làm thơ cũng biết ngâm". Vì Trung Quốc là nước
vốn dường như không có lý thuyết ngữ pháp, nhưng dưới
đời nhà Đường, do phiên dịch nhiều Kinh Phật cho nên ngữ
pháp Ấn Độ đã du nhập vào Trung Quốc. Thí dụ : "Tám chuyển
thanh" tức danh từ, đại danh từ, động từ, trợ từ v.v…
Hay là như thuyết "lục ly hợp thích" của sách Phật cũng
là một loại ngữ pháp của chữ Phạn. Phần đông người
bây giờ coi Mã Văn Thông là ông Tổ của ngữ pháp học Trung
Quốc, thực ra vào đời nhà Đường, Trung Quốc đã từng
có ngữ pháp học, nhưng chưa được phổ cập sử dụng trong
dân gian mà thôi. Lại như cuốn "Văn tâm điêu long" là một
cuốn sách bàn về phép làm văn và thể văn trong văn học
sử Trung Quốc, là một trước tác bất hủ về phê bình văn
học. Tác giả của nó là Lưu Hiệp (Pháp danh Tuệ Đại là
một người sống trong chùa từ nhỏ, và cuối đời đã xuất
gia). Tác phẩm của ông chịu ảnh hưởng của văn học Phật
giáo (chú 15).
Thể văn sau đời Đường, phần
lớn thiên về tả thực và lời văn lưu loát, cũng là do ảnh
hưởng của văn học Phật giáo. Trải qua 2 đời Tùy, Đường,
đến đời Tống, các thể loại như "đàn từ tiểu thuyết"
[kể chuyện đệm nhạc] và bình thoại (kể truyện) xuất
hiện đều là do ảnh hưởng của thể "biến văn Phật giáo".
Các bài thơ đời Đường, đời Tống giống như văn nói,
thí dụ các bài thơ của Bạch Lạc Thiên (tức Bạch Cư Dị)
và của Tô Đông Pha, đều là loại thơ mới mang dấu ấn
của Thiền Tông… Lương Khải Siêu tiên sinh viết : "Tập
thơ dài đầu tiên trong các bài thơ cổ của Trung Quốc", "tập
Khổng tước đông nam phi" chịu ảnh hưởng của tập "Phật
sở hành tán" do đại sư Mã Minh sáng tác. Các thiền sư lớn
đời Đường, dùng thể văn "ngữ lục" bạch thoại để nói
lên yếu lý của đạo Phật. Do đó mà có sự xuất hiện
các tập ngữ lục của các nhà lý học đời Tống và đời
Minh, hoàn toàn viết theo bút pháp "Thiền tông". Các tiểu thuyết
đời Minh và đời Thanh, viết theo thể văn bình thoại hay
là "phỏng bình thoại", trong tiểu thuyết lại xen có thơ,
sau một đoạn tản văn lại có những câu kết bằng thơ hoặc
một bài hát nói đệm nhạc có xen thể ca văn xướng ngôn
và bình thoại, rõ ràng đều chịu ảnh hưởng của văn "trường
hành" và "kệ tụng" trong kinh Phật. Nhờ phiên dịch sách Phật,
mà Trung Quốc có thêm 3 vạn 5000 từ mới.
Về mặt nghệ thuật : nền kiến
trúc Phật giáo đời Ngụy Tấn vốn ảnh hưởng đến toàn
bộ hình thái kiến trúc của Trung Quốc. Kiến trúc Phật giáo
không có tính thực dụng của kiến trúc phương Tây cận đại,
nhưng do ảnh hưởng của cảnh giới cõi Trời hay cõi Phật
được mô tả trong Kinh Phật, cho nên mang đặc sắc của Phật
giáo nguyên thủy Ấn Độ : cảnh quan được bố trí có nghệ
thuật, trang nghiêm, hùng vĩ. Kiến trúc tháp Phật của Phật
giáo du nhập vào Trung Quốc cũng đánh dấu một bước tiến
bộ mới trong lịch sử phát triển của ngành kiến trúc ở
Trung Quốc. Phật giáo du nhập vào Trung Quốc đã đem theo nghệ
thuật đắp, nặn tượng. Trước đó ở Trung Quốc chưa có
kỹ thuật đắp, nặn tượng. Tượng Phật giáo đời Đường,
cực kỳ đẹp đẽ. Khoảng mấy chục năm trước đây, có
người Nhật Bản phát hiện ra tại một chùa ở Tô châu có
một bức tường gắn tượng nặn, do người đời Đường
xây dựng. Bức tường này được ông Thái Nguyên Bồi yêu
cầu chính phủ bảo tồn, gìn giữ. Động Long Môn ở Lạc
Dương, động Vân Cương ở Đại Đồng là những công trình
tượng Phật vĩ đại, có trình độ nghệ thuật tinh xảo
hình ảnh sống động nó không những là kho tàng quý báu của
nghệ thuật Trung Quốc và của cả thế giới. Về nghệ thuật
hội họa, phải nói tới các bức tranh tượng ở Đôn Hoàng,
nổi tiếng thế giới. Đúng như "Mạc Đại Nguyên" tiên sinh
nói : "Động Vân Cương và động Đôn Hoàng, động Long Môn
không khác gì ba viện bảo tàng nghệ thuật vĩ đại của
miền Bắc Trung Quốc". Lại nói : "Từ đời Hậu Hán trở
đi, Phật giáo được truyền vào, nền mỹ thuật Trung Quốc
vốn là mỹ thuật quý tộc, đã biến thành mỹ thuật tôn
giáo; trong lĩnh vực kiến trúc thì từ lầu đài cung điện
chuyển sang bảo tháp, chùa chiền; trong lĩnh vực tranh tượng
thì tranh tượng vua quan nhường chỗ cho tranh tượng Phật
Bồ tát; trong lĩnh vực công nghệ thì các dụng cụ và đồ
trang sức chuyển thành đồ thờ cúng và pháp khí Phật giáo;
nhưng hình thức mỹ thuật đó, từ Hậu Hán trở về sau,
liên tục chiếm vị trí cực kỳ trọng yếu trong lịch sử
văn hóa Trung Quốc" [Xem "Mỹ thuật Phật giáo Trung Quốc"]
nhờ có nhiều bia ký Phật giáo được bảo tồn, mà chúng
ta giữ gìn được bút tích của nhiều danh nhân nổi tiếng,
là những tài sản vô giá, nhờ có Phật giáo mà được phổ
cập trong dân gian. "Ngư sơn phạn bối".
Là một loại âm nhạc Trung Quốc
theo Phạn âm Phật giáo. Sự phát hiện ở động Đôn Hoàng
cho biết là trước khi kỹ thuật in sách của Phùng Đạo xuất
hiện thì ở thời đại Tùy và Đường, đã có các kinh sách
Phật in bằng gỗ khắc.
Về phương diện khoa học, trước
khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, đã từng có môn học
gọi là "danh học" [tương tự như luận lý học] của Đặng
Tích, Huệ Thi Mặc Tử và Tuân Tử. Thế nhưng, phải chờ
đến khi môn "Nhân Minh học" Phật giáo truyền vào thì Trung
Quốc mới bắt đầu có được một nền luận lý học hoàn
chỉnh. Từ triều nhà Đường đến triều nhà Minh, Trung Quốc
đều dùng lịch pháp của các thiền sư lập ra, căn cứ vào
thiên văn học của Ấn Độ.
Về mặt tôn giáo, triết học, khi
Phật giáo mới du nhập vào Trung Quốc thì đạo giáo bài xích
Phật giáo rất kịch liệt. Nhưng đến thời đại Ngụy và
Tấn, thì khi giảng Phật học người ta hay dẫn chứng Lão
Trang và khi giảng Lão Trang người ta lại hay dẫn chứng kinh
Phật. Từ đó về sau, kinh sách đạo giáo ngày càng được
hoàn bị thêm và trên nhiều mặt đã dùng tài liệu của Phật
giáo; thí dụ : đạo giáo đã tiếp thu và vận dụng khái
niệm về Diêm La và địa ngục của Phật giáo. Trước khi
Phật giáo đến Trung Quốc thì ở Trung Quốc không có khái
niệm gì về Diêm La cả. Đến đời nhà Tống, có Toàn Chân
giáo xuất hiện. Về căn bản, đó là đạo giáo được Phật
giáo hóa, nhờ tác dụng khích lệ và mở đường của thiền
tông mà nho gia các đời Tống, Nguyên, Minh đã xây dựng môn
Lý học.
Căn bản đó là nho giáo được
Thiền hóa. Tuy rằng các nhà lý học, vì thiên chấp, bản
vị và nhãn quan hạn hẹp mà trở lại công kích Phật giáo,
nhưng họ không khác gì "Ngồi trên giường thiền mà mắng
Thiền", mà Thiền tông chỉ là một nhánh của Phật giáo.
Các nhà lý học đời Tống và Minh đối với pháp môn Thiền
tông thì cũng chỉ mới hiểu một cách hời hợt, nên không
dám đi sâu, vì sợ nếu đi sâu sẽ bỏ mất lập trường
của mình. Châu Hy là người xem sách Phật tương đối nhiều
và chính Châu Hy đã thể nghiệm được điều đó. Các nhà
tư tưởng Trung Quốc ở thời cận đại, như Khang Hữu Vi,
Đàm Tự Đồng, Chương Bỉnh Lân, Lương Khải Siêu, Hồ Thích,
Lương Thấu Minh v.v… tuy rằng vị tất đã tin Phật giáo,
nhưng họ được tư tưởng Phật giáo mở cho con đường sáng
tạo. Gần đây nhất (từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1964 tại
hội nghị các triết gia Đông và Tây lần thứ 4 họp tại
Hạ Uy Di, ông Phương Đông Mỹ, đại biểu của Trung Quốc
cũng nhấn mạnh tinh thần Phật giáo Đại thừa, và khả năng
của Phật giáo xây dựng một thế giới tôn giáo. Nhà sử
học Tiền Mục tỏ ra hết sức kínhh trọng Phật giáo. Triết
gia Đường Quân Nghị tự nhận là chịu ảnh hưởng khích
lệ nhiều từ kinh Viên Giác; có thể thấy Phật giáo đối
với Trung Quốc có sự cống hiến lớn, trong quá khứ, hiện
tại và tất nhiên cả trong tương lai nữa. Không những đối
với Trung Quốc Phật giáo có cống hiến như vậy, mà đối
với cả nhân loại cũng là như vậy.
Về mặt phong tục dân gian, Trung
Quốc vốn có tín ngưỡng đối với Nho gia. Tín ngưỡng đó
chú trọng xây dựng cuộc sống nhân sinh hiện thực, không
có thời giờ tìm hiểu vấn đề trước khi sinh và sau khi
chết. Vì vậy mà Khổng Tử nói : "Sống còn chưa biết, sao
có thể biết chết" ? Nho gia gạt ra một bên, không bàn đến
các vấn đề trước khi sinh và sau khi chết, cũng như vấn
đề bản thể vũ trụ siêu hình cho nên ông đã nói : "Tế
thần như thần tại". Nếu có nói tới vấn đề thưởng phạt
đối với thiện, ác thì cũng chỉ mong cho con cháu sau này
được nhờ Kinh Thư nói : "Nhà tích thiện thì niềm vui có
dư, tích ác thì tai họa có thừa". Chính là quan niệm đó.
Thực ra, nhìn vào hiện thực trong lịch sử làm điều thiện
để hy vọng con cháu được nhờ là chuyện khó đảm bảo.
Thế nhưng từ khi Phật giáo được truyền vào, thì thuyết
Nhân quả "trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu",
đã đem lại trong dân gian Trung Quốc một niềm hy vọng mới,
mạnh mẽ. Phật giáo vạch rõ cho chúng ta thấy vấn đề luân
hồi sinh tử, vấn đề thiện ác báo ứng ! Phật giáo cho
chúng ta biết, mọi người phải có thái độ trách nhiệm
đối với tất cả mọi hành vi của mình, gặp lành hay gặp
dữ đều do ở nơi mình cả. Đời này không thấy quả báo
thì đời sau sẽ thấy. Thuyết này cổ vũ mọi người hãy
tích cực bỏ ác làm lành. Thuyết này hàng nghìn năm nay đã
có một ảnh hưởng sâu sắc và lớn lao đến sự ổn định
xã hội và nhân tâm Trung Quốc, quả thực không thể nào đánh
giá hết được.
66. CHÂN
LÝ PHẬT GIÁO LÀ GÌ 
Phẩm "Du già chân thực nghĩa" gọi
chân lý là chân thực, chia làm 4 loại lớn, gọi là bốn loại
chân thực.
1. Thế gian cực thành chân thực
: chỉ cho những chân thực thường thức, tùy loại và tùy
tục. Lại chia làm 2 loại
-
Chân thực phi thế gian, không thuộc
nhân loại.
-
Chân thực thế gian, thuộc nhân loại,
do tự nhiên hay tập quán, huyễn giác mà thành.
2. Đạo lý cực thành chân thực
: chỉ cho những chân thực, có tính lý luận, do các học thuật
gia nghiên cứu, suy diễn ra, lại chia thành 4 loại :
-
Chân thực do các khoa học gia thực
nghiệm mà có được.
-
Chân thực do các triết gia tư biện
mà có được.
-
Chân thực do các nhà thần giáo tín
ngưỡng, cảm ứng mà chứng đắc.
-
Chân thực do các nhà tu định ngồi
thiền mà chứng đắc.
3. Chân thực do trí tuệ thanh tịnhđã
đoạn trừ phiền não chướng chứng đắc. Đó là chân
thực do các bậc thánh xuất thế dùng trí tuệ giải thoát
mà chứng được. Lại chia làm 2 loại :
-
Chân thực ngã không do hàng Thanh văn
Duyên giác, tức là các Thánh Tiểu thừa chứng đắc.
-
Chân thực một phần ngã không do các
bậc Thánh Đại thừa chứng được.
4. Chân thực do trí tuệ thanh tịnh
đã đoạn trừ sở tri chướng, chứng được. Đó là chân
thực pháp không do các bậc thánh Đại thừa giác ngộ chính
biến tri, chứng được. Chia làm 2 loại :
-
Chân thực pháp không do Bồ Tát chứng
được một phần.
-
Chân thực pháp không do Phật chứng
đắc một cách viên mãn, tròn đầy.
Phật giáo không bao giờ phủ định
chân lý của người khác một cách vũ đoán và nông nổi.
Phật giáo chỉ sắp xếp các chân lý thành chủng loại và
đẳng cấp, thừa nhận các loại chân lý đó đều có vị
trí và giá trị của chúng.
Có một loại thần giáo ngoại đạo,
thường mạt sát tất cả mọi giá trị, khác biệt với những
giá trị mà mình thừa nhận, chụp cho chúng cái mũ ma quỷ.
Phật giáo quyết không có thái độ độc đoán như vậy. Như
trên nêu rõ, Phật giáo chấp nhận có 4 loại chân thực, tức
là chân lý, chúng chỉ có sự phân biệt theo nặng nhẹ, cao
thấp mà thôi.
Sự thực, cái gọi là chân lý thế
gian, chân lý thường thức, thường là không chịu đựng nổi
khảo nghiệm. Chân lý thường thức thời cổ đại, sang tới
các đời sau, trở thành câu chuyện bông đùa. Chân lý thường
thức ở xứ A, đến xứ B chỉ là chuyện suông tình ! Còn
cái chân lý do các học giả phát minh ra, thì hoặc là do hóa
nghiệm mà có, hoặc là do suy lý mà được, hoặc là do cảm
ứng thần linh, hay là do rèn luyện thân tâm, ngồi thiền điều
hòa hơi thở mà chứng đắc, dù chỉ là những chân lý bộ
phận, tạm thời, huyễn giả, cục bộ, giả thiết chứ không
phải là chân lý vĩnh hằng bất biến.
Chân lý của Phật giáo là kết
quả đạt được, sau khi đã chứng ngã không và pháp không.
Chứng được ngã không thì đoạn trừ hết phiền não chướng,
chứng được pháp không thì đoạn trừ hết sở tri chướng.
Sau khi chứng ngã không thì giải thoát khỏi sinh tử. Sau khi
chứng pháp không thì không trụ ở Niết Bàn. Kinh Kim Cương
viết : "Không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng,
thọ giả tướng". Đó là cảnh giới ngã không, còn "phiền
não tức Bồ đề [chính giác]" sinh tử tức Niết Bàn [Tịch
diệt], đó chính là cảnh giới pháp không. Cảnh giới trung
đạo diệu lý phi không phi hữu, không thiên chấp bên nào
thì cũng có những người chứng được pháp không mới
tự mình thể nghiệm được.
Chân lý rốt ráo của Phật giáo,
tức là chân lý ngã không và pháp không - Không phải là pháp
thế gian, không thể mô tả bằng lời nói, chân lý đó "Xa
lìa tướng danh ngôn, tâm tư cũng không nghĩ bàn được". Đó
là chân lý rốt ráo, mà tính Phật miễn cưỡng gọi là "chân
pháp giới" là "Lý chân như". Thế nhưng, chân lý rốt ráo
đó của Phật giáo, tuy là không đặt tên được, không nghĩ
bàn được, nhưng nó vẫn không tách rời muôn vàn hiện tượng
thế gian, và mỗi hiện tượng thế gian là một bộ phận
của chân lý rốt ráo đó. Vì vậy mà đại sư Tổ Huệ Năng
của Thiền tông nói rằng : "Phật pháp là ở trong thế gian,
không tách rời thế gian mà giác ngộ được; nếu tách khỏi
thế gian đi tìm đạo Bồ đề, cũng không khác gì đi tìm
sừng thỏ vậy". Mục đích của Phật giáo là giảng lý không;
xóa bỏ phiền não chướng của ngã chấp, xóa bỏ sở tri
chướng của pháp chấp, chứ không phải phủ định vạn tượng
của thế gian. Chân lý Phật giáo nằm trong chữ "giác ngộ".
Chỉ có tự giác mới thoát khỏi sinh tử. Chỉ có tự giác
giác tha mới có thể độ chúng sinh; chỉ có giác hành viên
mãn mới có thể thành Phật.
67. HÒA
THƯỢNG, NI CÔ, CƯ SĨ LÀ GÌ 
Hòa thượng, ni cô, cư sĩ đều
là những danh từ hết sức thông tục, nhưng e rằng, số người
hiểu rõ nghĩa của những danh từ ấy không nhiều.
Theo quan niệm của người Trung Quốc,
thì Hòa thượng là người xuất gia và với thân phận là
người xuất gia thì "trên ngồi cùng chiếu với vua, dưới
cùng đi với kẻ ăn mày" nghĩa là cao sang thì rất cao sang,
hèn nghèo thì rất hèn nghèo. Nếu là đứng đầu một chùa
trong đại tùng lâm thì gọi là Phương trượng hòa thượng
là tôn nghiêm biết bao. Nhưng người nông dân quê mùa ở làng
đẻ con sợ không giáo dục được, cũng lại gọi nó là hòa
thượng ! Kỳ cục thật !.
Từ Hòa thượng có ý từ gì ? Người
ta thường giải thích hòa thượng là Hòa trung tối thượng
(nghĩa là cao nhất trong sự hòa hợp) hay là "dĩ hòa vi thượng"
(nghĩa là quý nhất là sự hòa hợp). Bởi vì người xuất
gia phải sống theo nếp sống "sáu hòa hợp" của tăng đoàn.
Đó là : giới hòa đồng tu (cùng tu giới luật), kiến hòa
đồng giải (cùng kiến giải như nhau), lợi hòa đồng quân
(lợi cùng chia đều), thân hòa đồng trụ (cùng ở một nơi),
khẩu hòa vô tránh (không tranh cãi nhau), ý hòa đồng duyệt
(ý hòa vui vẻ). Cách giải thích này cũng tựa hồ có lý.
Nhưng tôi có tra cứu từ nguyên, mới thấy cách giải thích
trên là không đúng.
Hòa thượng hoàn toàn là do dịch
âm từ một từ ngữ Tây vực (Trung Á) ở Ấn Độ, gọi các
nhà bác học thế gian là Ô tà. Qua tới nước Vu Điền (Trung
Á) thì gọi là Hòa Xã hay Hòa xà (khosha), qua Trung Quốc, bèn
gọi là Hòa thượng (Xem Ký quy truyện và bí tạng ký bản).
Vì vậy mà ngoại đạo ở Ấn Độ cũng có Hòa thượng và
Hòa thượng ni [Tạp A Hàm quyển 9, tr. 253, 255].
Như vậy, từ Hòa thượng không
phải là từ riêng của Phật giáo, nhưng có căn cứ trong Phật
giáo. Luật tạng Phật giáo gọi các vị sư truyền giới và
độ cho người khác xuất gia là Opađàgia (Upadhyaya).
Từ Hòa xà là dịch âm từ Upadhyaya, rồi sau đổi thành
Hòa thượng. Trong sách Hán người dùng từ Hòa thượng sớm
nhất là vua Thạch Lặc, ông gọi Tăng sĩ Ấn Độ Phật Đồ
Trừng là : "Đại Hòa thượng".
Nhưng, đôi khi, trong luật, thay vì
chữ Hòa thượng người ta dùng chữ Hòa thượng để tránh
hiểu lầm, vì rằng, căn cứ nội dung chữ Upadhyaya, thì nên
dịch là Thân giáo sư (ông thầy thân cận). Chỉ có những
tu sĩ đã thụ giới tỷ khiêu trên 10 năm, biết rõ 2 bộ luật
tỷ khiêu và tỷ khiêu ni, mới có khả năng độ cho người
khác xuất gia, và truyền giới cho người khác, mới có thể
được gọi là Upadhyaya. Như thế là có khác với từ Ô tà
(là bác sĩ) ở Ấn Độ, cũng khác với từ Hòa thượng do
Trung Quốc dịch sai (lão tăng là lão hòa thượng, Sa di là
tiểu hòa thượng, và trẻ con ở nông thôn, không lớn lên
được cũng gọi là hòa thượng !).
Trong Luật Phật giáo, người mới
xuất gia gọi là Sa di. Sa di có nghĩa là "siêng năng bỏ ác
làm thiện". Khi đủ 20 tuổi đới, và thụ giới tỷ khiêu,
thì được gọi là tỷ khiêu (nghĩa là khất sĩ, người ăn
xin). Trên thì ăn xin Phật Pháp, dưới thì ăn xin đồ ăn,
đồ uống. Có người Trung Quốc giải thích Tỳ kheo là so
với ông Khưu, tức ông Khổng tử. Giải thích như vậy là
chuyện trò đùa. Thụ giới tỳ kheo trong vòng 5 năm cũng chưa
được làm thầy dạy đối với các bạn đồng đạo xuất
gia. Sau 5 năm, lại thông hiểu giới luật, mới có tư cách
làm thầy dạy, gọi là Quỹ phạm sư, từ Ấn Độ gọi là
"A xà lê gia", làm nơi nương tựa cho người khác, dạy học
cho người khác. Trải qua hơn 10 năm rồi mới được gọi
là "Thân giáo sư", trải qua 20 năm nữa, được gọi là Thượng
tọa, và sau 50 năm mới được tôn gọi là bậc "Trưởng Lão
Tôn túc". Có thể nói, hiện nay, ở Trung Quốc, người ta dùng
từ "Hòa thượng", không đúng với luật chế nhà Phật.
Từ "Ni cô" thường được dùng
để chỉ người phụ nữ xuất gia.
Ở Ấn Độ, người ta dùng chữ
ni để chỉ phụ nữ, với ý tứ tôn kính, chứ không dùng
chữ ni để chỉ riêng người phụ nữ xuất gia. Trong Phật
giáo, phụ nữ mới xuất gia gọi là "Sadini" xuất gia lâu năm,
thụ giới tỳ kheo ni, gọi là Tỳ kheo ni.
Dân Trung Quốc, người con gái chưa
lấy chồng gọi là cô, vì vậy gọi Sadini và Tỳ kheo ni là
ni cô, gọi như vậy cũng không có gì là coi thường. Vì vậy
mà trong sách Truyền đăng lục, các bậc đạo đức gọi các
sư cô là ni cô. Thế nhưng, từ khi ông Đào Tôn Nghi, đời
nhà Minh viết cuốn Huế canh lục xếp ni cô vào hàng "Tam cô
lục bà" thì từ ni cô mới có ý tứ khinh miệt. Do đó, thời
gian gần đây, ni chúng không muốn người tại gia gọi họ
là ni cô.
Dựa vào chữ Phạn, ni nghĩa là
nữ. Nếu thêm chữ cô nữa, thành ra nữ cô. Theo văn mà hiểu
nghĩa thì dùng từ như vậy là không thông rồi. Nữ là phân
biệt với nam. Có nữ cô thì phải có nam cô chăng ? Đã dùng
chữ cô thì phải có đối từ, như gọi nữ đạo sĩ là nữ
đạo cô; tỳ kheo ni gọi là Phật cô; nữ tu sĩ của đạo
Gia Tô cũng nên gọi là Gia cô nếu không thì xem nặng bên
này, xem nhẹ bên kia là không phải.
Từ "cư sĩ" cũng không phải là
từ riêng của Phật giáo. Trong sách Lễ ký của Trung Quốc,
vốn có từ ngữ "cư sĩ cẩm tịch" nghĩa là chiếu gấm cho
cư sĩ. Cư sĩ vốn có nghĩa là ẩn sĩ có học.
Ở Ấn Độ, từ cư sĩ cũng không
phải là từ ngữ do Phật giáo tạo ra. Chữ Phạn gọi cư
sĩ là Ca La Việt dù là có tin Phật hay không, đã là học
giả tại gia thì gọi là cư sĩ.
Phật giáo gọi Phật tử tại gia
là cư sĩ, bắt đầu từ kinh "Duy Ma Cật". Trong kinh, ông Duy
Ma Cật có 4 tên gọi : Phẩm "Phương tiện" gọi là Trưởng
giả. Phẩm "Văn Thù thăm bệnh" gọi ông là Thượng nhân và
Đại sĩ. Phẩm "Bồ Tát" gọi ông là Cư sĩ. Theo sự giải
thích của các ngài La Thập, Trí Giả, Huyền Trang v.v… thì
Duy Ma Cật là một vị Bồ Tát sắp thành Phật [Nhất sinh
Bổ xứ Bồ Tát] ở cõi Phật A Sơ tại phương Đông, và thị
hiện thành tướng người tại gia để hóa độ chúng sinh.
Vì vậy, dùng từ cư sĩ để gọi Phật tử tại gia là có
hàm ý xem cư sĩ là đại Bồ tát. Có thể thấy, một cư sĩ
xứng đáng với tên gọi đó phải là một vị Bồ Tát Đại
thừa, quyết không phải là một ẩn sĩ.
Thế nhưng, trong Kinh Trường A Hàm,
lại gọi đẳng cấp thứ ba, tức đẳng cấp Phệ Xá là cư
sĩ, lại cũng gọi vị quan coi ngân khố quốc gia là "cư sĩ
báu", như vậy từ cư sĩ có các nghĩa thương nhân, nhà kinh
doanh, nhà doanh nghiệp.
68. THIỀN
SƯ, LUẬT SƯ, PHÁP SƯ LÀ GÌ 
Trong sách Luật Hữu Bộ - Tạp sự
quyển 13, Tỳ kheo chia làm 5 loại kinh sư, luật sư, luận sư,
pháp sư và thiền sư. Giới tụng kinh là kinh sư, giỏi giữ
luật là luật sư. Giỏi về nghĩa lý của Luận thì gọi là
luận sư. Giỏi thuyết pháp là pháp sư. Giỏi tu thiền là
thiền sư. Thế nhưng trong Phật giáo Trung Quốc, người ta
ít nói tới Kinh sư và luật sư; còn luận sư, pháp sư và
thiền sư thì được nói tới rất nhiều.
Từ Thiền sư vốn được dùng để
chỉ vị tỳ kheo tu thiền. Vì vậy, cuốn "Tam đức chỉ quy"
quyển 3 viết "Tu tâm tịnh lự là thiền sư". Nhưng ở Trung
Quốc, từ Thiền sư được dùng trong 2 trường hợp : Một
là nhà vua dùng từ "thiền sư" khi phong tặng những tỳ kheo
có đức có học. Như vua Trần Tuyên Đế, năm Đại Kiến
nguyên niên, phong Hòa thượng Huệ Tư ở Nam Nhạc là Đại
thiền sư. Vua Đường Trung Tông, năm thứ 2 niên hiệu Thần
Long, sắc phong Hòa thượng Thần Tú là Đại Thông thiền sư.
Trường hợp thứ 2 là tăng sĩ ngày nay tôn gọi các cao tăng
tiền bối là thiền sư. Càng về sau, bất cứ một tỳ kheo
nào có đôi chút danh vọng, đều được tôn gọi là thiền
sư.
Từ "luật sư" chỉ cho những tỳ
kheo khéo giữ gìn và giải thích giới luật. Chỉ xứng đáng
gọi là luật sư, những vị tỳ kheo học giới, trì giới,
khéo giải thích, xử lý, và giải đáp mọi vấn đề có liên
quan tới giới luật. Địa vị của luật sư trong Phật giáo
tương đương với học giả pháp luật, pháp quan, đại pháp
quan ở thế gian. Các tỳ kheo và tỳ kheo ni nói chung, tuy giữ
giới không phạm, nhưng chưa chắc đã thông hiểu toàn bộ
luật tạng. Cho nên một tỳ kheo, muốn trở thành một luật
sư xứng đáng với tên gọi đó, cũng không phải là chuyện
đơn giản. Pháp sư là người khéo học Phật pháp và khéo
thuyết pháp. Trong quan niệm của mọi người nói chung, pháp
sư phải là tỳ kheo. Kỳ thực thì không phải. Trong sách Phật,
quan niệm về Pháp sư rất là rộng rãi, và không hạn chế
ở Tăng ni. Như Phẩm Tựa trong kinh Pháp Hoa viết : "Thường
tu Phạm hạnh, gọi là pháp sư". Sách Tam Đức chỉ quy, quyển
I viết : "Tinh thông kinh luật gọi là pháp sư". Sách "Nhân
Minh đại sớ" viết: "Pháp sư là bậc thầy thực hành Phật
Pháp". Lại có người cho rằng lấy Phật Pháp tự dạy mình
và dạy người gọi là pháp sư. Do đó, cư sĩ tại gia cũng
có tư cách gọi là pháp sư. Thậm chí, súc sinh như loại giã
can [giống như chồn nhưng thân nhỏ] khéo thuyết pháp cũng
tự xưng là pháp sư đối với Thiên Đế. [Vua Đế Thích.
Người dịch chú]. Vì lý do ấy cho nên, Lão giáo chịu ảnh
hưởng của đạo Phật, gọi các đạo sĩ giỏi bùa chú là
pháp sư. Có thể thấy, từ pháp sư không phải là từ chuyên
dụng để chỉ tỳ kheo Phật giáo.
Theo yêu cầu do Phật chế định,
tôi cho rằng, người xuất gia theo đạo Phật, đối với người
thế tục nên tự xưng là tỳ kheo (Sadi) hay tỳ kheo ni (Sadini),
hay tự xưng là Sa môn. Tín đồ tại gia, đối với người
xuất gia, có thể nhất luật gọi A xà lê (hay Sư phụ), cư
sĩ tự gọi là đệ tử, nếu không muốn thì gọi bằng tên
họ mình. Cũng có người tự gọi là "học nhân" nhưng theo
nghĩa Kinh Phật thì từ học nhân chỉ cho các bậc Thánh chứng
sơ quả, nhị quả hay tam quả. Người xuất gia thì gọi là
xuất gia; nếu là trưởng lão thì gọi là trưởng lão; Thượng
tọa thì gọi là Thượng tọa. Nếu bằng vai với nhau, thì
gọi là "tôn giả", hay một cách thân thiết, gọi là anh, là
sư. Trong thời Phật còn tại thế, hàng tỳ kheo xưng hô với
nhau, thường là bằng tên họ đạo; Tỳ kheo gọi tỳ kheo
ni là chị, em. Trong ni chúng, cũng dùng các từ hương lão,
thượng tọa tương đương với bên tăng; bằng vai vế nhau
thì gọi là chị, là em. Còn người ngoài gọi tỳ kheo và
tỳ kheo ni thì theo tập quán. Nếu vị tỳ kheo đó đích xác
có tư cách là thiền sư, luật sư, pháp sư, thì cứ gọi họ
bằng các xưng hô đó. Như ngày nay có thông lệ gọi tỳ kheo,
tỳ kheo ni đều là pháp sư cả, không kể trình độ và tư
cách họ thế nào, thì quả là không hợp với yêu cầu vậy.
