56.
THIỀN TÔNG CÓ PHẢI LÀ THIỀN ĐỊNH KHÔNG
Không phải. Thiền tông khác với
thiền định. Bởi vì Thiền tông tuy chủ trương tham thiền
nhập định, nhưng thiền định không phải là thiền tông.
Từ "Thiền tông" là do Trung Quốc
đặt ra. Khi Phật còn tại thế, không có danh từ Thiền tông,
mà chỉ có công phu thiền và nội dung thiền. Phương pháp
tu trì giải thoát của đạo Phật lấy giữ giới làm cơ sở,
lấy thiền định làm trọng tâm, lấy trí tuệ làm mục đích.
Giới Định Tuệ là ba môn vô lậu học, thiếu một môn là
không được. Ba môn học này liên quan với nhau, hỗ trợ nhau;
do giới mà sinh định, do định mà phát tuệ. Nhờ tu tuệ
mà chứng đạo giải thoát. Định tức là Thiền định.
Thực ra, thiền tông Trung Quốc chú
trọng giác ngộ chứ không chú trọng thiền định.
Đồng thời, thiền định cũng có
rất nhiều loại. Có phép thiền định xuất thế của đạo
Phật, gọi là diệt tận định [diệt tận hết phiền
não], lại có phép thiền định thế gian của Ngoại đạo,
phàm phu và cả của giới súc sinh nữa; đó là cái mà tính
thường gọi là bốn thiền tám định. Bốn thiền tám
định cũng là quá trình tu tập định xuất thế của đạo
Phật. Chỉ có khác là ngoại đạo tu tập thế gian định
để cầu sinh lên cõi Trời, còn Phật giáo tu tập thế gian
định là để tiến lên định xuất thế gian. Vì vậy mà
Thiền ngoại đạo gọi là thế gian thiền; thiền Phật giáo
gọi là căn bản tịnh thiền.
Thiền định Phật giáo cũng chia
làm Tiểu thừa thiền và Đại thừa thiền. Tiểu thừa thiền
nhằm mục đích giải thoát khỏi sinh tử. Đại thừa thiền
nhằm mục đích nghệ thuật hóa cuộc sống, ví dụ như Thiền
tông Trung Quốc, cho rằng chẻ củi, gánh nước cũng đều
là Thiền; ăn cơm, ngủ nghỉ cũng là định tâm; chú trọng
giữ gìn được tinh thần an định, không giao động, chứ
không yêu cầu hình thức ngồi thiền định bất động.
Hơn nữa, thiền và định kết hợp
dịch âm và nghĩa từ chữ Phạn Dhyana, có ý nghĩa tĩnh
lự [yên lặng mà suy nghĩ] cho nên cũng có thể dịch là
định. Tuy nhiên, hai chữ thiền định cũng nên phân biệt.
Thiền là tâm cảnh của cõi trời sắc giới, vì vậy mà sắc
giới còn có tên gọi là Tứ thiền thiên (các cõi trời
bốn thiền). Còn định là tâm chuyên nhất. Tâm chuyên nhất
là tâm trạng có thể có ở Dục giới, và cũng có thể là
ở cả cõi Trời vô sắc. Thậm chí, cả xuất thế định
siêu việt 3 giới, cũng vẫn có các tâm chuyên nhất đó. Vì
vậy, phạm vi của thiền là hẹp. Phạm vi của định là rộng.
Thiền cũng là một loại định. Nhưng cũng có người gọi
xuất thế định là xuất thế gian thượng thượng thiền.
Và gọi định của ngoại đạo
trình độ thấp là Giã hồ thiền, tức là thiền của
cáo hoang.
Từ định trong tiếng Phạn ngoài
chữ tam muội ra, còn có những tên gọi khác nữa là : Tam
ma địa Tam ma bát để; Tam ma tất đa Đà na diễn na Xa ma tha
Hiện pháp an lạc. Chất đa y ca A yết la đa v.v…
Vì rằng, phàm đã là Thánh thì
đều có định tâm, thậm chí có người Ấn Độ gọi nam
nữ giao hợp là Tam ma bạt để, là thư hùng đẳng chí. Bởi
vì lúc giao hợp cũng có tâm ý tập trung, niềm vui dâm dục
tràn khắp thân người, giống như hiện tượng định tâm
vậy. Đến nỗi, có người đề xướng các thuyết như tính
mạng cùng tu, thân tâm cùng tu, cho rằng có thể tu định trong
niềm vui dâm dục của nam nữ [xem cuốn Đạo thành Phật của
Pháp sư Ấn Thuận; tr. 144]. Ý nghĩa tu định bị hạ thấp
tới mức nhơ bẩn đến thế, thực là đáng thương hại vậy
! Thế nhưng, điều này cũng cho ta thấy, Ấn Độ có một
quan niệm rất rộng rãi về định tâm, có thể nói là khác
với tôn chỉ của Thiền tông Trung Quốc như một trời một
vực vậy.
Chính vì thiền định không phải
là thiền tông, cho nên trong các tôn giáo trên thế giới, hễ
có đôi chút hiệu nghiệm thần bí đều là do công phu thiền
định mà ra, dù rằng đó là do trì chú, lễ bái, tụng niệm
hay là cầu đạo mà được.
Vì vậy cho nên, phàm phu và cả
đến loại súc sinh nữa như cáo chồn, chỉ cần tâm chuyên
nhất vào một cảnh là có ngay ít nhiều hiệu nghiệm thần
bí, gọi là thần thông. Nhưng, đó hoàn toàn không phải là
thiền tông Phật giáo. Vì Thiền tông Phật giáo tuyệt đối
không có chủ trương tự cho có phép thần thông.
57.
ĐỐN VÀ TIỆM LÀ THẾ NÀO 
Nhiều người hiểu nhầm trong vấn
đề đốn và tiệm, cho rằng pháp môn đốn giáo khác hẳn
với pháp môn tiệm giáo; có nhiều người ham chuộng cái dễ
dàng tiện lợi, cho nên đề cao đốn giáo và bài bác tiệm
giáo. Mọi người đều biết, Thiền tông chủ trương đốn
ngộ. Không lập văn tự và chỉ thẳng vào nguồn tâm, chủ
trương niệm trước mê là chúng sinh, niệm sau ngộ là Phật.
Ngoài Thiền tông ra, không có một tông phái Phật giáo nào
khác có một quan điểm "cấp tiến triệt để" như vậy, do
đó mà có nhiều người tu theo Thiền tông, đôi lúc cũng phê
bình những người học theo tiệm giáo, là theo đường lối
tri giải [tri thức hiểu biết].
Thực ra, hai pháp môn tiệm và đốn
là 2 mặt của một thể : đốn là do tiệm mà tới đốn;
tiệm là nhân đốn mà có tiệm. Không có tiệm thì cũng không
có đốn; Có đốn, tất trước đó có tiệm. Tiệm là nhân
của đốn. Đốn là kết quả của Tiệm.
Về vấn đề này, từ năm 47 của
Dân quốc, tôi đã có nhận thức như sau : "Cái gọi là đốn
là điểm đột phá cuối cùng của một niệm, hay là sự thành
thục chín mùi của cái duyên cuối cùng… cũng như, một quả
trứng gà đã được ấp 20 ngày rồi, nếu con gà con không
đủ sức để phá vỡ vỏ trứng, thì chỉ cần gà mẹ mổ
nhẹ một cái là con gà con thoát ra khỏi vỏ trứng ngay. Gà
mẹ mổ, là cái duyên cuối cùng, giúp cho gà con thoát khỏi
vỏ trứng. Chúng ta học Phật cũng vậy. Nhờ trong các đời
sống trước, căn cơ đã được bồi dưỡng sâu dày, cho nên
đến đời này, mới nghe qua vài ba câu của đạo, đã bừng
tỉnh và vượt phàm, bước ngay vào hàng ngũ bậc Thánh : vì
vậy, cái gọi là đốn ngộ cũng không có gì là thần bí
cả". [Phật giáo nhân sinh và tôn giáo; tr. 78]
Do đó, nếu đứng ở quả vị Phật
mà nhìn chúng sinh thì tất cả chúng sinh đều có đầy đủ
đức tướng trí tuệ của Như Lai, đều có khả năng thành
Phật, vì vậy Phật xem chúng sinh là bình đẳng với Phật,
đó chính là đốn giáo. Nếu đứng ở lập trường
chúng sinh mà nhìn Phật thì chúng sinh tuy có khả năng thành
Phật, nhưng muốn thành Phật thì phải qua một thời gian dài
tu hành, Kinh qua 52 thứ bậc mới đạt được tới quả vị
Phật, đó là nói về tiệm giáo. Khi công phu tiệm tu
được tròn đầy thì quả vị Phật cũng được thành tựu,
và dưới gốc cây Bồ Đề, bậc vô thượng chính đẳng giác
"ra đời".
Nói ngược lại, đốn là sự bắt
đầu của tiệm. Tiệm chính là đốn trong thực tiễn. Đốn
là sự xuất phát của tiệm. Tiệm là đốn kéo dài.
Bởi vì đốn ngộ mà Thiền tông
Trung Quốc nói là chữ giác ngộ tri kiến của Phật. Kinh Pháp
Hoa phân chia sự chứng ngộ tri kiến Phật thành "bốn giai
đoạn của 2 mặt" gọi là "Khai, thị, ngộ, nhập". Khai thị
là công việc của Phật, do Phật làm cho chúng sinh, chỉ bày
cho chúng sinh thấy. Như vậy, gọi là khai thị. Ngộ nhập
là công việc cho chúng sinh tự làm. Chúng sinh hiểu rõ tự
tính vốn có của mình là có thể thành Phật. Đó gọi là
ngộ. Sau khi ngộ rồi bèn tu hành đúng pháp, mới có thể
vào được cửa tri kiến của Phật. Nếu nói về thứ bậc
thì ngộ Phật tri kiến mới là Bồ Tát còn ở địa vị phàm
phu, chưa chứng sơ địa. Còn nhập Phật tri kiến là chỉ
vị Bồ Tát từ sơ địa trở lên, đã đứng vào hàng Thánh.
Bởi vì, chỉ có từ sơ địa trở lên, mới có khả năng
từng phần một, đoạn trừ vô minh, từng phần một chứng
ngộ tự tính. Từ sơ địa trở về trước, chỉ là công
phu chuẩn bị mà thôi.
Có thể thấy, đốn ngộ là giác
ngộ pháp tính tức là giác ngộ Phật tính. Đốn ngộ chưa
phải là thành Phật. Tiệm tri là tu tập công đức sự tướng;
chỉ có tiệm tu tích lũy dần dần mới có thể thật sự
thành Phật. Lý thì đốn ngộ, sự thì tiệm tu. Đó chính
là giải đáp vấn đề đốn tiệm. Cái đốn mà Thiền tông
nói chính là đốn ngộ về lý.
Trên đây là đứng trên lập trường
giải thích giáo nghĩa mà trình bày. Nếu xét theo bản thân
Thiền tông Trung Quốc mà nói, thì lại không phải như vậy.
Bởi vì Thiền tông Trung Quốc nói tới một sự đốn ngộ
không có thứ bậc. Đốn ngộ là đốn ngộ, tựa hồ không
có quan hệ gì với tiệm tu. Khi đốn ngộ tức là giác ngộ
về thực tính Chân Như vốn có như vậy rồi. Nhưng đó là
điều mà con người bình thường nói chung không thành được.
Thiền tông cho rằng, khi sử dụng
công tham thiền đã chín mùi rồi, thì tuy chưa bước vào hàng
ngũ thánh của Bồ Tát từ sơ địa trở lên, nhưng trong giây
phút đốn ngộ, hoạt động của thức thứ bảy và thức
thứ tám tạm thời bị ngưng chỉ, tâm không ở trạng thái
hiện tượng sáng suốt [vốn là như vậy]. Cũng như một bầu
trời mây đen bao phủ, bỗng nhiên mù tan, mây hết chỉ còn
lại cả một bầu trời sáng lạn không mây ! Tuy rằng, kinh
nghiệm thực chứng này chỉ xảy ra trong thời gian hết sức
ngắn ngủi, và chỉ sau một lát lại bị phiền não vô minh
bao phủ như xưa. Thế nhưng, một người đã được nhìn qua
một lần chân như thực tính bản lai là như vậy, so với
một người chưa từng được thấy qua, thì khác nhau rất
nhiều. Đó là cái mà Thiền tông Trung Quốc gọi là đốn
ngộ. Nhưng, đốn ngộ rồi còn phải dụng công tu hành, bởi
vì cái vốn thành Phật vẫn chưa được tích lũy đầy đủ
vậy.
58. TỐT
NHẤT NÊN TU HỌC THEO TÔNG PHÁI NÀO 
Đoạn trước đã nói, sở dĩ có
nhiều tông phái Phật giáo là do căn tính khác nhau và thời
đại hoàn cảnh khác nhau của những người học Phật.
Nếu phải đứng trên lập trường
căn bản của Phật giáo mà nói rằng các tông phái là thừa,
và nếu chấp nhận như vậy, thì đó không những thiệt thòi
cho cá nhân người học Phật mà cũng là điều bất hạnh
cho Phật giáo nói chung. Cũng như người Ninh Ba ở Triết Giang
thích ăn thức ăn hôi, người Hồ Nam thích ăn rất cay. Người
Sơn Đông thức ăn cay vừa phải, người Sơn Tây thích ăn
chua… Vậy thì giải quyết vấn đề nên ăn và không nên
ăn món ăn gì nào ?
Nội dung Phật giáo là bao la rộng
rãi. Tuy không phải là khoa học nhưng không phản lại khoa
học, tuy không phải là triết học nhưng siêu việt học, tuy
không phải là văn học, nhưng lại có văn học, tuy không phải
là mỹ học, nhưng sáng tạo và biến đổi cả mỹ học; tuy
không phải là tôn giáo, nhưng không thiếu tố chất tôn giáo.
Chúng ta tu học Phật pháp, nên chọn
tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình
cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập
môn. Trong 8 tông Đại thừa của Trung Quốc, thì Duy Thức gần
gũi với khoa học, Tam Luận gần triết học, Hoa Nghiêm, Thiên
Thai gần văn học, Chân Ngôn, Tịnh Độ gần mỹ học. Còn
Thiền tông là cốt lõi trung tâm của Phật pháp, vì vậy mà
đại sư Thái Hư nói : "Đặc chất của Phật giáo Trung Quốc
là thiền". Bất cứ một tông phái nào cũng đều có thể
quy về tinh thần Thiền. Còn Luật tông là cơ sở của toàn
bộ Phật giáo. Tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ
đạo Phật cũng giống như "Lục pháp toàn thơ" đối với
nước Trung Quóc vậy. Vì vậy, nghiêm túc mà nói, Luật tông
không nên lập thành tông phái riêng. Luật tông nên thuộc
về tất cả các tông; còn nói về tố chất tôn giáo thì
tông phái nào cũng có.
Ở Trung Quốc, từ cuối đời nhà
Đường về sau, Thiền tông đặc biệt hưng thịnh. Sau đó
Thiền Tịnh hợp nhất lại. Gần đây, Thiền Tông có 2 đại
sư là Ký Thiền và Hư Vân Tịnh độ tông có ngài Ấn Quang.
Luật tông có ngài Hoằng Nhất. Thiên Thai có ngài Đế Nhàn,
Hoa Nghiêm có ngài Nguyệt Hà. Duy Thức có ngài Âu Dương Kính
Vô (Tiệm).
Thế nhưng, đại thể mà nói, trong
dân gian, hai phái Thiền và Tịnh có ảnh hưởng mạnh nhất.
Còn trong giới học thuật thì ảnh hưởng của Tông Duy Thức
tương đối lớn. Mật Tông tuy cũng thịnh hành, nhưng rất
tạp loạn.
Đáng chú ý nhất là việc làm của
đại sư Thái Hư và các học trò của ông. Họ không câu nệ
vào một tông, một phái, mà dựa vào tinh thần cơ bản của
Phật pháp, xem xét lại các tông phái, phá bỏ giới hạn giữa
các tông phái, trả mỗi tông phái về địa vị vốn có của
nó. Đại sư Thái Hư dùng 3 hệ thống lớn, thâu nhiếp các
tông phái Đại thừa; tức là :
-
- Pháp tướng duy thức tông
-
- Pháp tính không tuệ tông
-
- Pháp giới viên giác tông
Do đó, trừ 2 tông Duy Thức và Tam
Luận ra [mỗi tông thành một hệ], các tông phái còn lại
đều thuộc về pháp giới viên giác tông. Học trò Thái Hư
là pháp sư Ấn Thuận sửa đổi lại 3 hệ của Thái Hư như
sau :
-
- Tính không duy danh luận
-
- Hư vọng duy thực luận
-
- Chân thường duy tâm luận
Đại sư Thái Hư cho rằng Pháp giới
viên giác là hoàn thiện nhất. Pháp sư Ấn Thuận cho rằng
Tính không duy danh là rốt ráo nhất. Thái Hư cả đời đề
cao Khởi tín luận và kinh Lăng Nghiêm. Ấn Thuận thì dựa
vào giáo nghĩa các bộ A Hàm, quán triệt tư tưởng không của
Bát Nhã. Mọi người nói ông theo Tam Luận tông, nhưng ông
cho là không phải, bởi vì Tam Luận tông của Trung Quốc chịu
sự chi phối của tư tưởng Trung Quốc; không còn có sắc
thái không tôn của Ấn Độ nữa.
Sự thực, dù là gọi bằng danh
từ nào, hay là đặt ở chỗ nào thì hoa thơm vẫn là hoa thơm;
các bậc cổ đức xưa nay phán giáo hay nhiếp giáo, đều chỉ
nhằm giúp mọi người hiểu rõ nội dung của Phật pháp, phương
pháp và hệ thống của sự nghiên cứu mà thôi. Nếu đã muốn
tu học, đã bắt tay tu tập thì "các phái đều dẫn đến
Niết Bàn". Bởi vì trong Phật pháp, chỉ có sự khác biệt
về sâu hay nông, thiên lệch hay là tròn đầy, chứ không chuyện
thị hay phi, tốt hay xấu. Nông chính là cơ sở của sâu; sâu
là do từ nông tiến lên. Thiên lệch là bộ phận của tròn
đầy; tròn đầy chính là sự tổng hợp của mọi cái thiên
lệch; thế nhưng đã bắt tay nghiên cứu thì đường hướng
phải phân minh; vì vậy mà phải có phán giáo và nhiếp giáo.
Thế nhưng, đến nay, chúng ta cần
chú ý là tám tông phái Đại thừa đã rút xuống thành ba
tông. Ranh giới giữa tám tông đã bị xóa bỏ; cả đến giới
hạn giữa Đại thừa và Tiểu thừa cũng không còn tồn tại.
Toàn bộ Phật giáo đã thống nhất lại. Nếu có một người
nào đó muốn tu theo một lòng, một phái với hy vọng trở
thành Tổ sư thuộc thế hệ mấy đời của Tông phái mình
thì đó quả là chuyện không cần thiết.
Trên thực tế, các cao tăng đời
trước, không phải người nào cũng là Tổ sư của các tông
phái, và dù cho môn đệ của ông ta có ghi tên ông vào sách
"Tự pháp môn nhân" [Học tu được truyền pháp] thì
ông ta cũng không chắc là một cao tăng có chứng ngộ. Còn
sự phân biệt Đại thừa và Tiều thừa cũng không được
Thượng tọa Bộ Phật giáo Nam truyền hoan nghênh. Người Trung
Quốc gọi họ là Tiểu thừa, thì họ nói Đại thừa không
phải là Phật giáo - Cái lối chia thành các khúc sông ra để
uống nước như vậy, không thể gọi là hợp lý được.
Đương nhiên, đối với một người
mới vào đạo Phật, hay là chuẩn bị vào đạo Phật thì
việc lựa chọn là cần thiết. Theo quan điểm của cá nhân
tôi thì Tỳ kheo và tỳ kheo ni mới xuất gia trước hết phải
học Luật nghi của Tăng Ni, nhưng không cần thiết phải tham
gia Luật tông. Cư sĩ tại gia lớn tuổi nên chuyên tâm niệm
Phật, nhưng cũng không cần thiết phải dựa vào Tịnh Độ
tông; cũng bất tất phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà; bởi
vì còn có Phật Di Lặc ở nội viện Đâu Xuất, Phật Dược
Sư và Phật A Sơ ở phương Đông v.v… còn nếu các vị muốn
tiếp cận Phật giáo về mặt tư tưởng học thuật, thì nên
nghiên cứu hai hệ tư tưởng lớn "Bát Nhã không" và "Duy Thức
hữu", bao hàm nhiều chân giá trị tư tưởng phong phú xứng
đáng được tìm hiểu khai thác.
Đứng về hành trình tu học đạo
mà nói, có thể chia làm hai loại : Một loại là đạo khó
thực hành, một loại là đạo dễ thực hành. Thế nào là
đạo khó thực hành ? Từ khi mới phát Bồ đề tâm, từ đời
này qua đời khác, hành Bồ Tát đạo, hy sinh bản thân mình
để cứu độ chúng sinh. Đó là dựa vào nguyện lực của
tự thân, tiến hành công tác độ sinh từ kiếp này sang kiếp
khác. Đó là con đường tu hành phi thường gian khổ; nếu
nguyện lực không đủ kiên cường, thì tái tam ba bận, nửa
đường thoái lui. Nhưng nếu so với hành trình của những
người theo đạo dễ thực hành, thì hành trình nói trên lại
nhanh chóng đưa người tu hành đến quả vị Phật hơn. Đạo
dễ thực hành là con đường tu hành cầu vãng sinh vào các
cõi Phật (Tịnh độ) hình thành nhờ nguyện lực của chư
Phật, đi bồi dưỡng trí tuệ của mình, tức là vẫn giữ
thân phận phàm phu mà vãng sinh về cõi Phật rồi ở cõi Phật
mà bồi dưỡng trí tuệ, dần dần đạt trình độ "bất thoái"
cho tới quả vị Thánh; sau đó mới trở lại phàm giới, hành
đạo Bồ Tát, độ khắp chúng sinh. Hành đạo theo lối này
thì tương đối an toàn vững chắc, nhưng lại chậm chạp
đi vòng.
Người không có lòng tự tín, hay
là đức tin và nguyện lực không đủ kiên quyết, thì tốt
nhất nên tu đạo dễ hành.
Giá trị tôn giáo và tác dụng của
đạo dễ hành có thể nói là tương đương với phép tu cầu
lên Thiên đàng của đạo Gia Tô; tuy rằng nội dung phép tu
hai bên có khác nhau, thế nhưng cả hai bên đều nhấn mạnh
đức tin. Hơn nữa, đạo Gia Tô nói "tin tưởng, hi vọng, tình
thương", Phật giáo thì nhấn mạnh "niềm tin, phát nguyện,
hành động"; đạo Phật và đạo Gia Tô đều nói thế ba chân
của một cái vạc như vậy. Còn Phật giáo thì lấy sức mạnh
của bản thân chúng sinh, cảm thông với chư Phật để được
sinh vào cõi Phật, cùng ở với Phật. Vì vậy, ngoại trừ
niềm tin mù quáng ra, còn có sự cần thiết phải thuận theo
nguyện lực của chư Phật, mới có thể vãng sinh xứ Phật.
Về điểm này, hiện nay, những người niệm Phật cầu vãng
sinh về cõi Phật rất ít chú ý; đồng thời, khi chúng ta
tu học Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn dễ tu, chúng ta phải
biểu hiện lòng chí thành khẩn thiết trong lời nói và hành
vi sinh hoạt hàng ngày. Chúng sinh ở cõi Phật, có ý nghĩ,
lời nói và hành động đều trong sạch. Chúng ta làm phàm
phu, không thể tuyệt đối thanh tịnh được thì cũng phải
cố gắng hết sức giữ thân tâm thanh tịnh, tức là giữ
năm giới mười thiện. Nếu tâm cần vãng sinh cõi Phật mà
thân hành lại không trong sạch thì hy vọng khi lâm chung được
vãng sinh cõi Phật thì đó là chuyện còn rất đáng ngờ !
Bản chất của đạo Phật là coi
trọng trí tuệ, nhưng đứng trên lập trường tôn giáo mà
nói, trí tuệ không phải chỉ là phương pháp nhập đạo mà
là mục đích của việc tu học Phật Pháp. Cố nhiên, có người
tiến từ hiểu biết đến tín ngưỡng và hành động thực
tiễn; nhưng lại có một số người đông hơn, tin Phật, học
Phật, mà không trải qua sự khảo nghiệm của hiểu biết
giáo nghĩa, và chỉ qua thực tiễn của tín, nguyện, hành mà
cũng đạt được mục đích như mong cầu. Bản thân tín, nguyện,
hạnh lại không cần có sự hỗ trợ của hiểu biết bằng
trí tuệ. Do đó, những người không hiểu giáo nghĩa, hay là
không có khả năng lãnh hội giáo nghĩa, cũng có thể tin Phật,
học Phật. Tuy họ không hiểu giáo nghĩa, nhưng vẫn đạt
được ích lợi thực tế của tín ngưỡng tôn giáo; cùng
người tu Tịnh độ có đủ cả 3 loại trình độ cao thấp
và trung bình thậm chí cũng có người học rất giỏi, thế
nhưng về đại thể mà nói, thì việc tu học pháp môn Tịnh
độ thuộc loại hình pháp môn dễ tu, dễ hành. Lại như Thiền
tông Trung Hoa chủ trương "bất lập văn tự", chủ trương
"triệt đường ngôn ngữ, bỏ hết tư duy". Thiền tông không
đòi hỏi tri thức phong phú, chỉ nhờ siêng năng tu hành, mà
có được ánh sáng trí tuệ, được "khai ngộ". Chính vì vậy
mà Thiền tông thích hợp với người Trung Quốc không cần
"hiểu biết sâu", chú trọng thực tiễn. Thiền tông không
phải là mê tín. Trong ngữ lục của các cao tăng thuộc Thiền
tông, không một chữ, một lời nào không phải là kết tinh
của trí tuệ !
Vì vậy, hai tông Thiền và Tịnh
là hai tông được người Trung Quốc hoan nghênh nhất từ hơn
1000 năm nay; chúng không đòi hỏi một sự hiểu biết giáo
nghĩa sâu sắc để nhập đạo, thế nhưng cũng do vậy mà
sinh ra một số tệ lậu, khiến cho một số người trình độ
thấp, tu học mù quáng, tự cho rằng chỉ có mình là đúng,
còn mọi người khác đều sai tất cả !
59. THÁI
ĐỘ CỦA PHẬT TỬ ĐỐI VỚI KINH PHẬT NHƯ THẾ NÀO
Kinh điển Đại thừa và Tiểu thừa
Phật giáo nhiều không kể xiết. Còn việc kinh Phật được
kết tập đại quy mô thành văn tự thì chỉ xảy ra nhiều
thế kỷ sau khi Phật nhập diệt. Tuy rằng, đọc Luật tạng,
chúng ta biết vào thời Phật còn tại thế, đã có một số
kinh Phật được chép thành văn tự rồi [xem các cuốn 44,
48 của Luật căn bản Hữu Bộ, cuốn 4 Tạp sự, cuốn 3 Dược
sự] nhưng số kinh ấy không nhiều. Trong thời kỳ đầu, phần
lớn kinh Phật đều được truyền tụng bằng miệng. Bởi
vì ở Ấn Độ, xưa nay, các sách Thánh đều do thầy truyền
miệng cho trò [Xin nhắc là các kinh Phệ đà của Bà La môn
Giáo đều không dùng văn tự ghi chép]. Do đó, tạo thành tập
quán và năng lực của dân Ấn Độ nhớ rất giỏi. Một học
giả đọc thuộc lòng 10 vạn bài tụng là chuyện bình thường.
Hiện nay, ở Miến Điện, có tỳ kheo đọc thuộc lòng cả
3 tạng và được gọi là pháp sư ba tạng, ngay Hồ Thích cũng
nói : "Các vị hòa thượng Ấn Độ thật kỳ lạ, có thể
đọc thuộc lòng một lúc 2, 3 vạn câu kệ" [Văn học sử
bạch thoại].
Thế nhưng, nếu dựa vào phương
pháp thầy trò truyền đạo tụng kinh sách cho nhau, không thể
đảm bảo không có sai sót, hơn nữa, trong tập quán thầy
trò truyền thừa của dân tộc Ấn Độ, hình thành niềm tin
tuyệt đối với thầy. Thời gian trôi qua, đối với một
sự việc, hình thành nhiều truyền thuyết kháu nhau, tuy cũng
không phương hại gì nhau. Trò nào tin thầy ấy. Do đó mà
có khả năng, đem một số truyền thuyết trong nền văn hóa
xưa của Ấn Độ, du nhập thành một bộ phận của nội dung
kinh điển nhà Phật, mà người làm việc đó cũng hoàn toàn
không có chủ tâm, dụng ý gì cả. Hơn nữa, dân tộc Ấn
Độ xưa nay vốn không xem trọng công tác khảo chứng lịch
sử. Do đó mà trong Kinh Phật, ghi chép nhiều điều mâu thuẫn
về thời gian và sự kiện, nhất là đối với bộ phận Luận
tạng [Phật giáo có ba tạng Kinh, Luật, Luận. Tính chất của
Kinh, Luận, giống như Kinh Tân, cựu ước của Gia Tô, Luận
giống như sách thần học của Gia Tô]. Phần lớn Luận tạng
là do luận sư các bộ phái trước tác cho nên kiến giải
bất đồng phải có nhiều.
Do đó, một phật tử chính tín,
đối với kinh Phật, phải có thái độ vô cùng trân trọng,
nhưng cũng bất tất phải tiếp thu mọi câu, mọi chữ. Phải
tìm chính pháp Phật giáo ở trong Kinh Phật, nhưng đối với
sự ghi chép trong Kinh, vẫn phải giữ thái độ suy xét, cân
nhắc [nếu như bản thân mình có năng lực thẩm tra, suy xét].
Nhưng đứng về đại thể mà nói,
đối với những kinh Phật đang lưu hành hiện nay và đã được
lịch sử khảo nghiệm, mọi người đều có thể tin tưởng
phụng hành; bởi vì tư tưởng chủ yếu của các kinh đó
là chính xác. Nếu ngẫu nhiên, trong chữ nghĩa, pháp số, truyền
thuyết, kiến giải mà có mâu thuẫn thì cũng thuộc về những
vấn đề chi tiết, không phải là vấn đề cơ bản. Cho nên,
nói chung, chúng ta không nên hoài nghi về tính chân thực, đáng
tin cậy của các kinh Phật. Tốt nhất là tham hỏi các pháp
sư có trình độ Phật học cao, để nhờ hỏi giải thích
những giáo nghĩa mà tự mình không hiểu được. Bởi vì có
nhiều danh từ và khái niệm thuộc về cảnh giới tu chứng,
nếu bản thân mình không đọc nhiều kinh Phật và không có
công phu thể nghiệm thực tiễn, thì sẽ không tài nào hiểu
được.
Kinh điển Phật giáo rất nhiều.
Trung Quốc dịch kinh điển Phật hơn 1000 năm, cũng không biết
rõ đã dịch được mấy vạn quyển ! Số kinh sách Phật đã
được dịch và lưu hành, kể cả các bộ chú giải, giảng
thuật của người Trung Quốc gồm hơn 3000 bộ, cộng tất
cả là hơn 1 vạn 5 nghìn cuốn (chưa kể các kinh sách Phật
lưu hành ở Tây Tạng, Nhật Bản và các nước khác thuộc
Phật giáo Nam truyền). Cho nên, hiện nay, vẫn chưa xác định
được những kinh điển nào là chủ yếu nhất. Đối với
những người đầu tiên tìm đọc sách Phật thì tốt nhất
nên đọc các sách về Phật giáo sử và Phật giáo khảo luận.
Loại sách nhập môn đó, sẽ chỉ bày rõ sau khi đọc, sẽ
còn phải làm gì nữa, đọc gì nữa. Bản này chỉ có thể
giới thiệu vấn đề một cách thông tục, cạn cợt. Còn
việc chỉ đạo nghiên cứu đi sâu hơn thì không thuộc phạm
vi bài này.
60. KINH
SÁCH PHẬT GIÁO CÓ PHẢI LÀ KHÓ HIỂU KHÓ ĐỌC 
Vấn đề này nên chia thành 2 đáp
án : Một đáp án là phủ định. Một đáp án là khẳng định.
Hiện nay, nói chung, lớp người
trẻ thường trách sách Phật giáo khó hiểu, khó đọc. Đây
là do họ đọc sách Phật quá ít, đồng thời cũng chưa được
đọc đại bộ phận Kinh Phật, như Kinh Đại Bát Nhã, Kinh
Đại Niết Bàn, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma Cật
v.v… họ đều chưa được đọc qua. Còn các bộ Kinh A Hàm
lại càng có ít người đọc. Thực ra, muốn đọc kinh Phật,
trước hết phải đọc bộ A Hàm, sau đó, đọc các kinh Pháp
Hoa, Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Bát Nhã, v.v… Nếu được như vậy,
tôi tin rằng họ sẽ cảm thấy kinh Phật không khó đọc và
gây nhàm chán như một số sách khác. Nhiều người cho rằng,
sách Tân, cựu ước của đạo Gia Tô dễ hiểu dễ đọc,
nhưng thực ra, rất ít người trong số giáo đồ đạo Cơ
Đốc, đọc hết sách cựu ước. Sách Tân ước gồm có 4
phúc âm và dễ đọc hơn. Trong lớp Phúc âm, thì Phúc âm của
thánh Ma Thiên là viết tốt hơn cả.
Đặc sắc của kinh Phật là dùng
thể tài cố sự [truyện xưa] để mô tả tư tưởng và cảnh
giới Phật giáo, khéo dùng hình tượng và thí dụ để nói
lên những đạo lý siêu hình và trừu tượng; vì vậy, Hồ
Thích cho rằng, lời văn của Kinh Phật Hán dịch, so với văn
xuôi Trung Quốc [văn biền ngẫu] chân chất hơn nhiều. Ông
nói : "Vì kinh sách Phật giáo chú trọng truyền đạt sự thật,
cho nên lời lẽ chú trọng tính chính xác, không chú trọng
văn vẻ, chú trọng làm cho người đọc dễ hiểu mà không
chú trọng lời đẹp và cổ xưa. Cho nên các đại sư phiên
dịch Kinh Phật đều khuyến khích nhau "Không thêm văn sức,
cốt làm cho dễ hiểu, không dễ mất ý nghĩa cơ bản của
nguyên tắc". Lại viết : "Trong các bộ Kinh do Cưu Ma La Thập
dịch, quan trọng nhất là bộ Đại phẩm Bát Nhã, nhưng lưu
hành nhiều nhất, có ảnh hưởng văn học nhiều nhất lại
là ba bộ Kinh Kim Cương, Pháp Hoa và Duy Ma Cật". Hồ Thích
đặc biệt đề cao Kinh Duy Ma Cật là "tác phẩm nửa tiểu
thuyết, nửa hý kịch, sau khi dịch xong đã gây ảnh hưởng
rất lớn trong giới văn học và giới mỹ thuật". Lại viết
: "Kinh Pháp Hoa tuy không phải là tiểu thuyết, nhưng là cuốn
sách có nhiều ý vị văn học, trong đó có một số truyện
ngụ ngôn, có thể nói là thuộc những truyện ngụ ngôn đẹp
nhất trong văn học thế giới. Và cũng đã tạo ảnh hưởng
không nhỏ đối với nền văn học Trung Quốc". Lại viết
: "quyển "Phật sở hành tán" là kiệt tác của nhà thơ vĩ
đại Mã Minh, dùng văn vần kể lại cuộc đời của Phật".
Thiên cuối cùng của Kinh Hoa Nghiêm, có phẩm "nhập pháp giới"
chiếm hơn 1/4 toàn bộ cuốn Kinh kể truyện Đồng tử Thiện
Tài đi cầu pháp, lần lượt đến thành nọ thành kia, gặp
pháp sư này, pháp sư kia, tạo ra cả một pho trường thiên
tiểu thuyết". [Trích dẫn : "Bạch thoại văn học sử" chương
9 và chương 10]. Chúng ta biết rằng, Hồ Thích không tin Phật,
chúng ta không thể nhất trí được với kiến giải của Hồ
Thích đối với Phật Pháp; nhưng ông ta là một trong những
vị Tổ khai sáng ra phong trào văn học bạch thoại của nước
Trung Quốc cận đại. Ông cho rằng Kinh điển Phật giáo có
giá trị cao quý về loại văn học "nói chuyện". Vậy thì
hãy hỏi "Kinh Phật có thực là khó đọc hay không ? Trừ phi
là anh vốn có thành kiến, còn thì anh không thể trả lời
là khó đọc !
Tuy nhiên, nếu đọc đến các bộ
Luận Đại thừa và Tiểu thừa thì quả là các vị phải
đau đầu nhức óc ! Đặc biệt là các bộ Luận của Đại
thừa Hữu Tông. Trong các bộ Luận của Hữu Tông, có những
danh từ tân kỳ, kết cấu bộ Luận rất chặt chẽ, tư tưởng
thì cao xa thâm thúy, đối với những người thiếu trình độ
Phật học thì những bộ luận đó không khác gì các "thiên
thư" (sách trời) ngay những nhà Phật học đã có kinh nghiệm
học Phật hàng chục năm, nếu không có trình độ tu dưỡng
nhất định về tư tưởng triết học và phương pháp khoa
học, thì cũng chỉ nhìn sách và than thở mà thôi. Cũng như
một người mê đọc tiểu thuyết võ hiệp mà bây giờ chuyển
sang đọc sách Hegen và Kantơ thì không thể đọc "vào được".
Thử hỏi đối với những sách Phật như vậy, có nên đọc
hay không đọc ? Trừ phi anh là một người có trình độ văn
hóa thấp, còn thì anh không thể trả lời "phủ định" được.
Nhiều người cho rằng, kinh sách
đạo Gia Tô dễ đọc hơn, kỳ thực, nếu đọc các sách Thần
học - sách triết học kinh viện của họ, các anh cũng không
hiểu ra sao cả. Các giáo sĩ Gia Tô thời Trung Cổ, với ý
đồ điều hòa thần khải với lý trí con người, nên khoác
lên thần thoại một bộ áo triết học, đặt tất cả mọi
vấn đề trong một tay quyền uy của chúa.
Vấn đề sách Phật khó đọc hiện
nay, tôi cho rằng đó là do tác phong của một số ít người.
Ví như có một số nhà Phật học, đọc sách xưa không thể
tiêu hóa được, họ không động não, chỉ làm các việc sao
đông chép tây, rồi cũng viết thành bài văn mà chính bản
thân họ cũng hiểu không rõ, thì làm sao người đọc lại
có thể hiểu được ! Điều may là theo chỗ tôi khảo sát,
loại văn chương đó ngày nay đã bớt nhiều. Bởi vì, loài
người gọi là bác cổ nhưng không thông kim, ngày nay cũng
tự thấy mình đã đến tuổi về hưu rồi !
Còn các bài luận văn học Phật
học, có tính tư tưởng là nhằm phục vụ cho việc nghiên
cứu, cho nên không thể đòi hỏi tác giả phải viết như
sách Tây du ký hay Thủy Hử được. Tuy nhiên, giới Phật giáo
của Nhật Bản cận đại, đã thử dùng danh từ triết học
tây phương để truyền đạt tư tưởng Phật giáo, nhưng cũng
không thể Tây phương hóa toàn bộ, nếu không thì sẽ không
thành ra Phật giáo nữa và đánh mất bộ mặt Phật giáo.
Nói chung lại, đứng về phương
thức truyền bá mà nói, Phật giáo hoàn toàn tán thành văn
nghệ hóa và thông tục hóa. Nếu đứng về mặt nghiên cứu
tư tưởng lý luận mà nói thì Phật giáo không thể không
đòi hỏi phải thâm thúy, phải tinh mật. Do đó, chúng ta cố
nhiên phải đề cao sự thông tục, nhưng cũng không được
trách cứ sách Phật khó đọc.
61. PHẬT
TỬ KHÔNG ĐƯỢC ĐỌC SÁCH CÁC TÔN GIÁO KHÁC? 
Về nguyên tắc, không những không
cấm mà còn khuyến khích nữa ! Vì Phật giáo tin rằng tín
ngưỡng Phật giáo rất hợp với lý tính. Một người đã
tin theo đạo Phật và có trình độ nhận thức sâu sắc phần
nào đối với Phật Pháp, thì dù có muốn chuyển sang tin theo
một đạo khác cũng không được. Vì vậy, dù cho các tôn
giáo khác có tuyên truyền thế nào, một Phật tử chính tín
cũng đủ sức chịu đựng thử thách, niềm tin của Phật
tử đó không hề bị lung lay. Hơn nữa, Phật giáo không phải
là tôn giáo có tín ngưỡng độc đoán. Phật giáo không phủ
nhận chân giá trị của những tôn giáo khác. Vì nhu cầu độ
thế, pháp môn Phật giáo chia làm 5 thừa : nhân thiên thừa
(pháp môn của loài Trời và loài người) là nền tảng của
cả 5 thừa, là pháp môn chung cho tất cả pháp môn, cũng là
pháp thiện chung cho tất cả mọi tôn giáo và triết học.
Vì vậy, Phật giáo vẫn khẳng định giá trị của Kinh sách
các tôn giáo khác, tất nhiên là Phật giáo không tán thành
những bộ phận giáo lý của họ có tính võ đoán, mê tín,
không phù hợp tình lý.
Đồng thời, một Phật tử chính
tín phải là một người truyền bá Phật pháp. Kỹ thuật
hoằng dương Phật pháp là hết sức trọng yếu đã giúp những
người thuộc các tôn giáo khác chuyển sang tin theo đạo Phật,
giúp những người đang do dự phân vân giữa tín ngưỡng Phật
giáo và các tín ngưỡng khác, giúp cho tri thức về tôn giáo
học so sánh. Nếu không nói lên được điểm ưu việt của
tín ngưỡng Phật giáo so với các tín ngưỡng khác, thì làm
sao thuyết phục được người khác vui vẻ và chân thành tin
theo đạo Phật ? Chính vì vậy, một Phật tử "lý tưởng"
phải được trang bị nhất định về kiến thức đối với
các tôn giáo khác (chú 13).
Đương nhiên, đối với một người
mới bước đầu tin Phật, thì việc nghiên cứu giáo lý các
tôn giáo phải là không cần thiết. Vì vậy mà Phật giáo
chủ trương, người học Phật đã giỏi có thể bỏ ra 1/3
thời gian để đọc sách ngoại điển. Nếu không thì công
phu học nội điển còn chưa đủ, còn thời gian đâu để
đọc kinh sách các tôn giáo khác ?
62. PHẬT
GIÁO CÓ CHO RẰNG NGƯỜI THEO TÔN GIÁO KHÁC LÀ CÓ TỘI KHÔNG 
Không phải. Phật giáo tuy xếp tất
cả các tôn giáo không phải Phật giáo đều là "Ngoại đạo",
[ý tứ là không hướng nội để cầu minh tâm kiến tính mà
hướng ngoại để cầu sự gia hộ của quỷ thần] nhưng Phật
giáo không có phủ định chân giá trị của các tôn giáo khác,
Phật giáo phân chia các tôn phái theo 5 thừa, như trong một
bài trước đã giới thiệu sơ lược. Năm thừa đó đều
là thiện. Nhân thừa và thiên thừa, tuy là ở trình độ thấp,
chưa thoát khỏi sinh tử, nhưng đã thực hành năm giới, mười
thiện. Nếu đánh giá theo quan điểm Phật giáo, thì ngoài
Phật giáo ra, tất cả các tôn giáo khác đều thuộc phạm
vi của nhân và thiên thừa, đều nỗ lực làm điều thiện
để được sinh thiên hoặc làm người, và người theo các
tôn giáo khác tất nhiên không thể xem là người có tội được.
Do đó, Phật giáo chính tín, tuy
vẫn tự tin về giá trị tôn giáo của mình, thế nhưng không
kỳ thị, không xem thường giá trị tôn giáo của các tôn
giáo khác, và muốn cùng với các tôn giáo khác, xây dựng
nếp sống, thiện hướng tới sinh thiên hoặc tái sinh làm
người. Phải chăng như vậy còn tốt hơn là đi bè bạn với
những kẻ phá hoại cuộc sống an lành của loài người hay
sao !
Vì vậy, Phật giáo tuy vẫn khuyến
cáo tín đồ các tôn giáo khác, nhưng Phật giáo không bao giờ
dùng thủ đoạn để bài xích các tôn giáo khác. Lịch sử
thế giới hơn 2500 năm nay đã chứng minh điều đó.
63. QUAN
NIỆM KHỔ CỦA ĐẠO PHẬT CÓ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI QUAN NIỆM
TỘI CỦA ĐẠO CƠ ĐỐC HAY KHÔNG ? 
Nói chung, một số các học giả
không có tín ngưỡng tôn giáo đều có quan niệm như vậy.
Họ cho rằng, Phật giáo cũng tốt, Cơ đốc giáo cũng tốt
vì cả hai đều khuyến khích làm thiện. Và trên cơ sở hai
tôn giáo đều khuyến khích người làm thiện, họ bèn suy
luận cho rằng quan niệm kho半 trong
đạo Phật cũng như quan niệm tội trong đạo Cơ đốc
vậy.
Bởi vì, Phật giáo nói cuộc sống
sinh tử trong ba giới là biển khổ. Mọi cảm thụ của chúng
sinh đều là khổ. Cho nên mục đích của tu hành là thoát
khổ. Cơ đốc giáo nói nhân loại đều là kẻ có tội, do
2 tổ tiên loài người là A Đam và Eva, không nghe lời cảnh
cáo của Thượng đế đã ăn quả cấm sinh mạng và trí tuệ
của vườn Imen [Hymen] do đó mà loài người bèn có sinh mạng
và trí tuệ, nhưng đồng thời cũng đắc tội với Thượng
đế. Thượng đế bèn phạt con cháu của A Đam và Eva phải
đời đời chịu khổ. Đó gọi là cái tội tổ tông (Nguyên
tội) do ông Tổ đầu tiên của loài người để lại cho con
cháu. Tín đồ đạo Cơ đốc tín ngưỡng Thượng đế đã
phái người con độc nhất của Thượng đế xuống trần,
chịu chết trên Thánh giá để chuộc tội cho những người
tin Thượng đế.
Trên thực tế, cái khổ mà Phật
giáo giảng, rất khác với cái tội của đạo Cơ đốc. Cái
khổ mà Phật giáo giảng là do nghiệp báo của chúng sinh tự
làm ra; nghiệp báo đó do chúng sinh phải chịu, nó bắt nguồn
từ vô minh từ thời vô thỉ đến nay. Đó là trách nhiệm
của cá nhân mỗi người, không có can hệ gì tới Thượng
đế; cũng không liên quan gì đến tổ tông; chúng sinh do phiền
não vô minh làm cho mê hoặc bèn tạo ra nghiệp sinh tử, do
nghiệp sinh tử mà chịu khổ sinh tử. Trong khi chịu khổ sinh
tử, lại bị mê hoặc. Như vậy, do bị vô minh mê hoặc mà
tạo nghiệp, do có tạo nghiệp mà chịu khổ, rồi lại do
khổ mà sinh mê hoặc. Ba khâu Hoặc, Nghiệp, Khổ kết lại
với nhau thành vòng sinh tử luân hồi quay mãi không thôi. Vì
mê hoặc là hạt giống của khổ nghiệp giống như ánh nắng,
không khí và nước làm cho khổ trở thành kết quả của hoặc
và nghiệp. Và khổ quả là cái ma chúng sinh thực sự cảm
thụ. Vì vậy mà Phật giáo gọi dòng chảy sinh tử là cõi
khổ hay biển khổ. Cũng vì vậy mà Phật giáo yêu cầu chúng
ta vượt qua dòng chảy sinh tử đó, thoát khỏi vòng ràng buộc
đó của sinh tử. Sống chết tự do, sống chết tự chủ,
không sống không chết đó chính là cảnh giới giải thoát.
Bất quá, Phật giáo cầu giải thoát,
không phải dựa vào sự cứu tế của Phật và Bồ Tát, Phật
và Bồ Tát chỉ dạy cho chúng ta phương pháp giải thoát chứ
không thể giải thoát thay cho chúng ta. Đó là điểm khác với
đạo Gia Tô nói Jesu chuộc tội cho tín đồ tin ở chúa. Bởi
vì Phật giáo không chấp nhận thuyết chúng sinh vì bị Thượng
đế trừng phạt mà có tội, lại càng không chấp nhận tội
của tổ tông trở thành tội của con cháu; cũng như "tội
không can đến vợ con". Thượng đế không chuộc thay người
cũng như "tội ăn không làm anh no được". Phật giáo giảng
phương pháp thoát khổ cơ bản là ba môn học vô lậu; giới,
định, tuệ. Giới là việc đáng làm, không buông thả cũng
không lười biếng; Tuệ là trí sáng suốt, thấy rõ phương
hướng, nỗ lực tinh tấn, do vậy, sự thoát khổ của Phật
giáo quyết không giống với sự cầu xin thượng đế chuộc
tội của Cơ đốc giáo.
Ở đây, nhân tiện bàn luôn vấn
đề này; nhiều người cho rằng Phật quá nhấn mạnh mặt
khổ của cuộc đời; đó là thái độ có phần thiên lệch
chán đời; bởi vì trong đời người, có khổ mà cũng có
vui. Lại có thể dùng biện pháp để cải tạo hoàn cảnh
sống của con người bớt khổ thêm vui. Vì vậy họ cho rằng
cách nhìn của Phật giáo là sai lầm. Về điểm này, Phật
giáo giải thích như sau : Nếu đứng trên lập trường một
đời người mà nói thì Phật giáo không đòi hỏi con người
phải thừa nhận "có cảm thụ là có khổ". Thực ra, Phật
giáo nói đời khổ, là nói theo kết luận của đức Phật,
quan sát đời người với trí tuệ và lòng bi của Ngài. Chúng
ta là phàm phu, không phải là Phật, chúng ta rất khó thấy
ra được sự thật đó. Cũng như một người gặp thấy một
con chó đang ăn phân, thì cảm thấy ghê tởm. Nhưng bản thân
con chó khi ăn phân lại cảm thấy ngon lành, thích thú. Nếu
chúng ta giải thích cho chó biết ăn phân là thiếu vệ sinh,
thì con chó sẽ quay đầu lại sửa chúng ta với giọng bất
bình !
Phật đứng trên bờ con sông sinh
tử mà nhìn chúng sinh đang chìm đắm trong con sông sinh tử,
thấy ở nơi chúng sinh chỉ có khổ không có vui. Dù là có
vui, thì cũng như người gãi ngứa, khi gãi thì thấy thích,
sau khi gãi thì thấy đau !
