44. PHẬT
GIÁO CÓ TRỌNG NAM KHINH NỮ KHÔNG ?
Trong Phật giáo Nam truyền theo Thượng
tọa bộ, vì đặc biệt coi trọng vị trí của Tỳ kheo, cho
nên vô hình chung, hình thành quan niệm trọng nam khinh nữ.
Phật lại hay răn dạy hàng Tỳ kheo sắc đẹp đàn bà là
đáng sợ; nữ sắc là ma, là rắn độc. Thực ra, bản tâm
của Phật không phải là trọng nam khinh nữ, bởi vì sắc
dục là thuộc cả 2 giới tính nam và nữ; đối với nam giới
thì nói nữ sắc là đáng chán bỏ, còn đối với nữ giới,
thì nam sắc lẽ nào không đáng chán bỏ ?
Do đó, trên quan điểm học Phật
chứng quả, thì nam nữ là bình đẳng. Chỉ trừ một hạn
chế là phụ nữ muốn thành Phật thì phải chuyển thành thân
nam giới, còn thì không còn có khác biệt gì hết giữa nam
và nữ, trong việc học Phật chứng quả. Phụ nữ có thể
thành A La Hán, thành Bồ Tát. Thí dụ như Bồ Tát Quán Thế
Âm thường hiện thành thân phụ nữ. Khi chất người phụ
nữ hết sức gần gũi với tinh thần từ bi của Bồ Tát.
Phật cũng thường nói : "Lấy từ bi làm đức hạnh của nữ".
Phụ nữ chỉ thiếu khí phách kiên cường của nam giới, cho
nên trong kinh Phật, phụ nữ không thể làm chuyển luân Thánh
vương thống trị bốn thiên hạ được.
45. PHẬT
GIÁO CÓ PHẢN ĐỐI CHẾ ĐỘ GIA ĐÌNH KHÔNG ? 
Không. Phật giáo quyết không có
miễn cưỡng ép phải thay đổi bất cứ một phương thức
sinh hoạt nào. Xuất gia chỉ là một trong các phương thức
sinh hoạt của Phật giáo, còn gia đình mới là cái nền tảng
để xây dựng Phật giáo. Nếu phản đối sự tồn tại của
gia đình thì Tăng Ni cũng không thể sống được.
Ngược lại, đức Phật vẫn tích
cực khuyến khích nếp sống gia đình hợp lý. Kinh "Thiện
sinh" là bộ Kinh có tác dụng chỉ đạo một nếp sống gia
đình hợp lý, một nếp sống có đạo đức, chính xác giữa
mọi người trong gia đình "Con cái phải biết ơn và hiếu
thuận với cha mẹ. Cha mẹ phải nuôi dạy con cái, giúp con
cái tạo lập gia đình. Học trò phải phụng dưỡng và cung
kính đối với thầy, thầy phải hết lòng dạy dỗ học trò,
phải lựa chọn bạn tốt và thầy giỏi cho học trò; người
vợ phải thương yêu và phục vụ người chồng, phải thành
thực lo toan việc nhà; người chồng phải chăm lo nuôi dưỡng
vợ; người chủ phải chu cấp ăn uống, phải săn sóc người
làm công; người làm công phải hết lòng phục vụ người
chủ. Họ hàng bè bạn đối với nhau phải biết tôn trọng
lẫn nhau; thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, đối đãi nhau với
lòng thành; lấy lời hay mà động viên nhau; người tại gia
đối đãi với người xuất gia nên cung kính mời ngồi, bố
thí cúng dường; người xuất gia nên hướng dẫn người tại
gia tin điều thiện, học điều thiện [trên đây là trích
yếu, không phải là lời văn của kinh]. Ngoài ra, đề nghị
xem bài của tác giả "Làm cư sĩ như thế nào" đăng trong "Học
Phật tri tân" quyển I.
46.
PHẬT TỬ CÓ THỂ KẾT HÔN VỚI NGƯỜI ĐẠO KHÁC? 
Đạo khác hay dị giáo, chữ Anh
là Hrathenism, vốn là một từ khinh bỉ được người theo
đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa dùng để chỉ những người
thuộc dân tộc khác. Ở đây, chúng tôi đổi lại, dùng từ
"Ngoại đạo" và không có ý tứ khinh miệt.
Phật giáo không giống các tôn giáo
khác bị dân tộc hóa hay là gia tộc hóa. Phật giáo không
có thái độ kỳ thị chủng tộc và kỳ thị tôn giáo. Phật
giáo không có bắt buộc Phật tử, trước khi kết hôn với
người nào, phải thay đổi tín ngưỡng của họ theo mình
đã. Thế nhưng, một Phật tử chính tín có tu dưỡng, sau
khi lập gia đình rồi, phải có khả năng thuyết phục người
yêu theo tôn giáo của mình. Đây là điều có căn cứ trong
kinh sách Phật giáo. Có em gái một Phật tử, gả cho một
tín đồ theo lõa thể ngoại đạo (1) người tín
đồ này lúc đầu, kịch liệt bài bác Phật, thậm chí tìm
cách hại Phật. Nhưng cuối cùng, đã rời bỏ lõa thể ngoại
đạo và quy y theo đạo Phật. [Xem "Căn bản mục đắc già,
quyển 7, quyển 8]. Ngoài ra có nữ Phật tử Tu Ma Đề, cũng
gả cho một tín đồ Ngoại đạo là Vê Lan, cô cảm
hóa được chồng mình theo Phật (Tăng nhất A Hàm quyển 22…).
Vì vậy, một Phật tử chính tín,
sống theo tinh thần "đồng sự của bốn nhiếp pháp", không
những không bắt buộc người yêu phải thay đổi tín ngưỡng
rồi mới chịu kết hôn, mà thậm chí, lúc đầu có thể chịu
theo tín ngưỡng của người yêu (đồng sự), rồi sau dần
dần cảm hóa người yêu tin theo đạo Phật.
Đương nhiên, hôn nhân là chuyện
lớn cả đời, là nền tảng của hạnh phúc gia đình. Một
Phật tử mới vào đạo, cũng không nên dùng hôn nhân làm
phương tiện truyền giáo, đến nỗi hạnh phúc gia đình bị
tan vỡ. Do đó, điều kiện chủ yếu của hôn nhân không nên
là tín ngưỡng tôn giáo, mà là tình đầu ý hợp giữa hai
bên.
Vì vậy, nếu không nắm chắc được
có thể cảm hóa đối tượng, thì tốt nhất nên chọn một
đối tượng cùng một tín ngưỡng với mình, tổ chức thành
một gia đình Phật hóa. Nếu không do tín ngưỡng bất đồng
mà dẫn tới bi kịch gia đình, là chuyện bất hạnh lớn không
hay.
Có thể nói, tổ chức gia đình
Phật hóa là nhiệm vụ của Phật tử. Nếu chẳng may, vợ
hay chồng không chịu thay đổi mà vẫn giữ vững tín ngưỡng
cũ của mình thì cả hai phải biết nhẫn nhục, tôn trọng
tín ngưỡng của nhau. Vợ chồng là vợ chồng, nhà thờ, chùa
chiền là nhà thờ, chùa chiền; gia đình là gia đình. Nhưng
nói chung, chính tín tốt hơn mê tín; có tín ngưỡng tốt hơn
là không có tín ngưỡng. Bởi vì Phật giáo không phải là
một tôn giáo dân tộc hóa hay gia tộc hóa, mà là một tôn
giáo tự do hóa. Đức Phật không có ngăn cấm người khác
tín ngưỡng ngoại đạo, cúng dường ngoại đạo, thậm chí
còn nói với đệ tử của mình : "Nhà ngươi nên tùy sức
mình mà cúng dường cho ngoại đạo" [Trung A Hàm, quyển 32,
tr. 133]
__________________
(1) Lõa thể ngoại đạo : phái ngoại
đạo tu hạnh không mặc quần áo. Lõa thể là ở truồng.
47.
PHẬT TỬ CÓ PHẢI TIẾN HÀNH HÔN LỄ ĐẠO PHẬT KHÔNG 
Hôn lễ Phật giáo, không thấy có
căn cứ rõ ràng trong ba Tạng Kinh điển. Vì vậy, Phật giáo
không có cường điệu tầm quan trọng của việc tổ chức
hôn lễ Phật giáo. Mọi hôn nhân công khai đều được Phật
giáo thừa nhận. Phật giáo chỉ nghiêm cấm việc tư thông.
Phật giáo gọi tư thông là tà dâm, xem đó là hành vi phạm
tội.
Nhưng trên cơ sở gia đình Phật
hóa, thì hôn lễ Phật giáo là tất yếu. Ít nhất, việc cử
hành hôn lễ Phật giáo chứng tỏ nam nữ kết hôn đều là
đệ tử Tam Bảo và sau kết hôn, gia đình họ cũng sẽ là
gia đình Phật hóa; tức là gia đình giữ 5 giới và 10 thiện;
một gia đình hòa thuận, yên vui.
Vì vậy, các Phật tử chính tín
nên tổ chức hôn lễ Phật giáo và động viên bạn bè thân
thuộc tổ chức hôn lễ Phật giáo.
Vì hôn lễ Phật giáo không có căn
cứ rõ ràng trong ba tạng Kinh điển, cho nên, hiện nay, nghi
thức của nó chưa được thống nhất quy định. Nhưng nghi
thức chủ yếu nên là, hai người cùng quy y Tam Bảo và tuyên
thệ thương yêu tôn trọng nhau, và dưới ánh sáng hào quang
của Tam Bảo, long trọng kết bạn thành vợ chồng, thương
yêu nhau, tương trợ nhau.
Theo quy định của luật Tỳ kheo
thì người xuất gia không được làm môi giới hôn nhân, nhưng
không quy định người xuất gia không được làm chứng cho
hôn nhân, hay có thể làm chứng cho hôn nhân. Nhưng nếu lấy
quan điểm của đạo giải thoát mà cân nhắc, thì người
xuất gia không nên làm chứng cho hôn nhân; tuy nhiên, nếu lấy
quan điểm của đạo Bồ Tát mà suy xét thì vì lý do Phật
giáo hóa xã hội, vị Bồ Tát xuất gia vẫn có thể làm chứng
cho cuộc hôn nhân, như là phương tiện để tiếp dẫn chúng
sinh vào đạo.
48.
PHẬT TỬ CÓ THỂ LY HÔN CHĂNG 
Vấn đề ly hôn cũng không dễ gì
tìm ra căn cứ rõ ràng trong Kinh Phật. Bất quá, Phật giáo
chủ trương sự tốt đẹp của hôn nhân và trách nhiệm của
hôn nhân. Sau khi kết hôn, vợ chồng phải thương yêu nhau,
tôn trọng nhau, mỗi người phải giữ bổn phận của mình,
làm tròn trách nhiệm của mình. Phật giáo nghiêm cấm tà dâm.
Gia đình tan vỡ, phần lớn là do cả vợ lẫn chồng đều
có tư thông với một đối tượng khác. Nếu cả hai biết
giữ gìn nghiêm túc, không tà dâm thì gia đình khó bị tan
vợ. Đối với những cuộc hôn nhân bị tan vỡ, Phật giáo
chủ trương khuyến khích tái hội. Vì vậy mà tuy Luật cấm
Tỳ kheo không được làm môi giới hôn nhân, nhưng lại cho
phép Tỳ kheo giải hóa những cặp vợ chồng ly hôn" [Tứ phần
luật, quyển III]. Bởi vì, sự ly hôn đối với nam cũng như
nữ đều có ảnh hưởng tâm lý không tốt; nhất là đối
với việc giáo dục con cái, cha mẹ phải có trách nhiệm về
mặt đạo đức; Đứng riêng về quan điểm ấy mà xét, có
thể nói Phật giáo phản đối ly hôn.
Thế nhưng, Kinh Phật không có nói
ly hôn là phạm tội. Và nếu, có chuyện tình cảm xung khắc
không thể điều hòa, hoặc có lý do nghiêm trọng như bị
ngược đãi, muốn nhẫn nhục chịu đựng cũng không thể
được thì vẫn phải ly hôn, nhưng nếu chỉ vì lý do thỏa
mãn tình cảm mà ly hôn thì đó là điều không đạo đức,
Phật giáo không thể chấp nhận, cho nên cũng là tội ác,
vì cha mẹ ly dị, người đau khổ thiệt thòi nhất là con
cái.
Theo tục xưa Trung Quốc, người
đàn ông góa vợ có thể lấy vợ khác, gọi là tục huyền,
đó là hành vi hợp với đạo đức. Còn người đàn bà góa
chồng thì phải thủ tiết cả đời mới được ngợi khen.
Quan niệm "thủ tiết" đó thực ra xuất phát từ tập quán
"trọng nam khinh nữ". Ở Ấn Độ thì không như vậy ? Theo
Ấn Độ thì người chồng đi vắng 6 năm liền không có tin
tức, người vợ ở nhà có quyền đi lấy chồng khác. Theo
Kinh Phật khi người đàn ông muốn xuất gia, trước hết phải
để vợ, cho vợ được tư do. Người đàn bà "mất" chồng
phải được quyền tác giá. Đó là điều Phật giáo cho phép
và hợp với đạo đức.
49. PHẬT
GIÁO CÓ CHO RẰNG TRẺ CON CÓ THỂ TIN PHẬT? 
Phật giáo không thừa nhận thuyết
tội nguyên thể của đạo Cơ đốc, vì vậy cũng không
cho rằng, trẻ con là có tội. Nếu trẻ con có tội thì đó
là do ảnh hưởng của nghiệp nhân đời trước, huân tập
vào Thức thứ Tám của nó. Đó là cái mà Phật giáo gọi
là "nghiệp". Trẻ con, không thể vì lý do sinh ra ở đời mà
phải thừa kế "nguyên tội" của tổ tông.
Ở tuổi trẻ con, chưa có đầu
óc phán đoán. Cái nghi thức quy y của tín ngưỡng Phật giáo,
nếu không xuất phát từ ý muốn thật sự của người quy
y, thì không được gọi là quy y. Phật giáo chủ trương, trẻ
con từ 7 tuổi trở lên mới được xuất gia. Nếu từ điều
ấy suy rộng ra thì lễ quy y Tam Bảo chỉ có thể cử hành
đối với trẻ con từ bảy tuổi trở lên, là tuổi đã bắt
đầu có ý chí phán đoán phân biệt.
Nhưng Phật giáo rất tin ở tác
dụng hồi hướng công đức, vì vậy mà khuyến khích Phật
tử, khi con mới sinh, hay là con đầy tháng đầy năm, đều
nên tổ chức bố thí, trai tăng, niệm Phật, tụng kinh, cầu
cho trẻ con được phúc thọ và trí tuệ. [Tăng A Hàm, quyển
25, Ngũ vương phẩm]
50. PHẬT
TỬ CÓ QUAN NIỆM VỀ QUỐC GIA HAY KHÔNG ? 
Phật giáo là tôn giáo theo chủ
nghĩa trọng ân (biết ơn). Có bốn ân : ân cha mẹ, ân chúng
sinh, ân quốc gia, ân Tam Bảo. Hiếu dưỡng cha mẹ, độ khắp
chúng sinh, bảo hộ quốc gia, cung kính Tam Bảo, đều chỉ
có một động cơ là báo ân. Vì vậy một Phật tử chính
tín, phải có ý thức về quốc gia, đó là điều không thể
nào nghi ngờ được.
Phật Thích Ca, sau khi thành đạo,
thường xuyên đi du hóa khắp nơi, rất ít cơ hội trở về
nước cũ Ca Tỳ La Vệ. Nhưng khi Phật về già có vị vua nước
Xá Vệ là Lưu Ly đại vương, để trả mối thù ngày xưa
ông bị dòng họ Thích Ca làm nhục, bèn dùng đạo quân tiến
đánh thành Ca Tỳ La Vệ, thề giết sạch dòng họ Thích Ca
ở Ca Tỳ La Vệ. Đức Phật biết việc này, bèn một mình
ngồi ở gốc cây khô héo, dưới ánh mặt trờ nắng chói
chang, trên đường quân đội của vua Lưu Ly đi qua. Vua Lưu
Ly hỏi : "Sao ngài lại không chịu ngồi trong bóng dâm mát
?". Câu trả lời của Phật rất cảm động : "Bóng mát của
họ hàng thân thuộc còn hơn bóng mát của bất cứ người
nào khác". [Tăng nhất A Hàm, quyển 26, phẩm Đẳng Kiến].
Vua Lưu Ly ba lần tiến quân gặp
Phật, đều phải ba lần lui quân. Đến lần thứ tư, Phật
biết rõ đây là định nghiệp của dòng họ Thích Ca, không
thể xoay chuyển được, bèn thôi không còn ngăn cản đoàn
quân của Lưu Ly vương nữa.
Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc,
có sự kiện đại sư Huyền Trang đi cầu Pháp ở Ấn Độ,
và đã để lại dấu vết huy hoàng của văn hóa Trung Quốc
tại Ấn Độ. Mặc dù đại sư rất được người Ấn Độ
ngưỡng mộ, trọng vọng, nhưng ông luôn luôn nhớ tổ quốc,
hướng về tổ quốc. Khi đại sư Pháp Hiển lưu lại xứ
Tích Lan, có người tặng ông một cái quạt lụa trắng của
Trung Quốc. Ở nước ngoài, thấy được một sản vật Trung
Quốc, ông cảm động đến mức nước mắt chảy đầm đìa.
Lòng yêu tổ quốc như vậy rất đúng với tinh thần Phật
giáo.
Niên hiệu Thiên Bảo đời Đường,
An Lộc Sơn làm phản. Vì quốc khố cạn tiền, cho nên đại
sư Thần Hội đứng ra, lấy "tiền hương hỏa" giúp cho Quách
Tử Nghi chiêu mộ binh mã, cuối cùng bình định được cuộc
nổi loạn của An Lộc Sơn.
Vua khai sáng triều nhà Minh là Châu
Hồng Vũ lật đổ nền thống trị của người Mông Cổ, lập
ra chính quyền người Hán, thực là một vị anh hùng dân tộc
có đại tài thao lược. Nhưng mọi người đều biết Minh
Thái Tổ là một Phật tử chính tín, khi còn nhỏ, đã từng
xuất gia.
Ở thời cận đại có pháp sư Tôn
Ngưỡng vốn là bạn của Tôn Trung Sơn. Ông cũng là người
cống hiến nhiều cho cuộc cách mạng dân quốc.
Đương nhiên, nếu đứng trên quan
điểm xã hội lý tưởng của Phật giáo mà nói, thì Phật
giáo quyết không phải là chủ nghĩa đế quốc hẹp hòi, mà
là một chủ nghĩa đại đồng thế giới triệt để, thậm
chí một chủ nghĩa đại đồng, bao quát cả vũ trụ vô tận,
vì Phật giáo yêu thương toàn thể nhân loại và tất cả
chúng sinh. Thế nhưng, chủ nghĩa dân tộc lại là nền tảng
của chủ nghĩa đại đồng vũ trụ. Muốn đạt tới mục
đích ấy, thì trước hết phải yêu thương dân tộc mình,
quốc gia mình, nếu không thì sẽ không có cơ sở.
51. PHẬT
GIÁO ĐỒ CÓ THỂ THAM GIA QUÂN SỰ CHÍNH TRỊ ? 
Phật giáo không phải là một tôn
giáo có tính chính trị, cho nên Phật giáo đồ cũng không
có tham vọng chính trị.
Thế nhưng, nguyên tắc của chính
trị là xử lý công việc của số đông người. Phật giáo
đồ là một nhóm, một tập thể trong số đông người đó,
cho nên cũng không thể sinh hoạt tách rời khỏi chính trị
được.
Nên chia chính trị thành chính
quyền và trị quyền. Chính quyền thuộc về nhân
dân, trị quyền thuộc về chính phủ. Phật giáo đồ, ít
nhất cũng có các quyền lợi của chính quyền, như các quyền
tuyển cử, bãi miễn, sáng chế (pháp luật), phúc quyết, Phật
giáo đồ phải được tham gia các quyền lợi đó. Chủ trương
của đại sư Thái Hư ở thời cận đại "vấn chính bất
can chính" là đáng được chú ý (1).
_________________
(1) Ý nghĩa là tham vấn chính trị,
nhưng không can dự chính trị.
Tăng Ni có trách nhiệm tu hành, hoằng
hóa, vì vậy không nên trực tiếp tham gia nắm và chấp hành
chính quyền. Còn nếu chính quyền yêu cầu tham gia ý kiến
về các vấn đề có tầm quan trọng thiết thân, thì nên tham
gia ý kiến. Căn cứ nguyên tắc đó, Tăng Ni nên tham gia các
công việc như bầu cử, ứng cử nghị sĩ, để có thể lấy
ý kiến của Phật giáo đồ cống hiến cho sự nghiệp dựng
nước; nếu không thì quyền lợi của Phật giáo đồ có thể
bị người khác bỏ rơi. Khì đức Phật Thích Ca còn tại
thế, Ngài thường giúp cho quốc vương đại thần nhiều ý
kiến quý báu. Đương nhiên, đối với những người xuất
gia, tha thiết cầu giải thoát sinh tử và 3 giới thì có thể
xả bỏ mọi quyền lợi chính trị. Tuy vậy, trong xã hội
từ nay về sau, dù là ở ẩn trong rừng sâu, cũng khó mà tách
hẳn khỏi mọi sinh hoạt chính trị.
Còn Phật tử tại gia thì đương
nhiên phải tham gia các công tác quân sự, chính trị. Một
người Phật tử tại gia có lý tưởng, có nhiệt tình, có
tinh thần trách nhiệm, phải phục vụ hết sức mình cho nhân
dân quần chúng, trên mọi từng lớp và ở mọi phương diện.
Theo giới luật nhà Phật, Tăng Ni
có thể thuyết pháp cho quân nhận nghe.
52. PHẬT
GIÁO CÓ PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO HÒA BÌNH CHỦ NGHĨA
Theo bản chất của Phật giáo mà
nói, dựa vào lịch sử Phật giáo mà nói thì Phật giáo là
tôn giáo yêu chuộng hòa bình nhất.
Phật giáo chủ trương thuyết từ
bi. Từ là đem lại cái vui cho mọi người, mọi chúng sinh.
Bi là cứu khổ cho mọi người, mọi chúng sinh. Trong thực
tiễn của thuyết từ bi thì không thấy có người nào đáng
giận đáng ghét, mà chỉ có người đáng thương, đáng yêu.
Vì vậy, Phật tử xem chiến tranh là chuyện tàn nhẫn hết
sức. Phật tử thà hy sinh, cống hiến sinh mạng của mình
để cảm hóa kẻ cường bạo, giành lấy hòa bình, còn hơn
là chấp nhận chiến tranh. Trong lịch sử, Phật giáo đã từng
bị bức hại bởi tôn giáo khác hay là bạo quyền chính trị,
nhưng Phật tử hoặc là ung dung chết vì đạo, chứ không
dùng bạo lực chống đối lại. Trong thời Phật Thích Ca,
vua Lưu Ly vương nước Xá Vệ đem quân tiêu diệt giòng họ
Thích Ca. Người trị vì xứ Ca Tỳ La Vệ lúc bấy giờ là
em của Phật Thích Ca, tên là Ma A Nam, vốn là một Phật tử
thuần thành. Về mặt quân sự mà nói, lực lượng võ trang
của Ca Tỳ La Vệ có thể chống lại thậm chí đẩy lùi quân
đội của Lưu Ly vương. Nhưng họ không muốn đổ máu, họ
mở cửa thành đầu hàng. Nhưng Lưu Ly Vương vì sự đầu
hàng ấy mà tha chết cho dòng họ Thích Ca. Trong tình hình đó,
Ma A Nam yêu cầu Lưu Ly Vương cho phép ông trẫm mình dưới
nước. Trong thời gian trẫm mình, thi thể chưa nổi lên thì
những người thuộc dòng họ Thích Ca có thể bỏ trốn, quân
của Lưu Ly Vương không được bắt giết họ. Chỉ sau khi
thi thể ông nổi lên, mới bắt giết họ, Lưu Ly Vương đồng
ý. Nhưng sau khi Ma A Nam nhảy xuống nước thì người ta chờ
mãi mãi rất lâu không thấy thi thể nổi lên. Còn những người
dòng họ Thích Ca thì trốn sạch hết. Về sau, Lưu Ly Vương
cho người nhảy xuống nước mò tìm thấy Ma A Nam đã cột
tóc mình vào rễ cây dưới nước, khiến cho thi thể không
nổi lên được. Như vậy, để tránh chiến tranh đổ máu,
dòng họ Thích Ca đã đầu hàng và để cứu dòng họ Thích
Ca khỏi bị diệt vong, Ma A Nam đã chịu hy sinh mạng sống
của mình. Việc này, khiến cho Lưu Ly Vương cảm động, ra
lệnh đình chỉ việc tàn sát dòng họ Thích Ca (Tăng Nhất
A Hàm, cuốn 26, Đẳng Kiến phẩm).
Câu chuyện kể trên có thể minh
họa Phật giáo thật sự là tôn giáo hòa bình.
Tuy nhiên, trong kinh Phật, cũng từng
có sự tích thần Kim Cương nổi giận, hủy diệt bọn quỷ
quái tà ma. Nhưng sự tích này chỉ có giá trị biểu trưng
sức mạnh tinh thần của công phu tu hành, không phải là chuyện
thực tế.
Thế nhưng, hành động của các
vị Bồ Tát có thể linh hoạt, dựa vào căn tính khác nhau
của chúng sinh và yêu cầu khác nhau của hoàn cảnh thời thế.
Ví dụ trong kinh Hoa Nghiêm Ngài Thiện Tài Đồng Tử trong 53
lần tham vấn, cũng gặp vị Bồ Tát tham gia chiến tranh, thực
hành những hình phạt khốc liệt v.v… Trong 33 hóa thân của
Bồ Tát Quan Thế Âm, có hóa thân làm đại tướng quân. Trong
giới bổn Du già Bồ Tát có nói : nếu có trường hợp gặp
bọn gian ác vì tham tiền của mà giết hại nhiều người
hay giết các bậc đã chứng quả Thánh Đại hay Tiểu thừa,
và để tránh cho bọn này khỏi đọa địa ngục vô gián vì
tội giết người như vậy, vị Bồ Tát có thể ra tay giết
bọn này trước, thà để một mình mình đọa địa ngục
còn hơn. Phật giáo chấp nhận những trường hợp giết người
như vậy, xuất phát từ tình thương người, chứ không xuất
phát từ lòng giận, lòng tham.
53. PHẬT
GIÁO CÓ CHỦ TRƯƠNG THUYẾT TÍNH NGƯỜI VỐN THIỆN 
Đó là một vấn đề tranh luận
trong Nho gia Trung Quốc : Mạnh Tử nói bản tính người là
thiện, Tuân tử nói bản tính người là ác. Dương Hùng chủ
trương bản tính người là thiện, ác lẫn lộn. Công Tôn
Tử chủ trương tính người không phải thiện không phải
ác.
Vậy thì, nói cho cùng, chủ thuyết
nào tương đối đúng ? Người đời sau, nói chung, đều thiên
về chủ thuyết của Mạnh Tử, vì Khổng Mạnh là Nho gia chính
thống.
Do đó, cũng có thể nói Phật giáo
cũng chủ trương bản tính người là thiện. Vì Phật nói
"chúng sinh đều có đầy đủ đức tướng và trí tuệ của
Như Lai. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính". Đó là căn
cứ của chủ trương bản tính người là thiện của Phật
giáo.
Trên thực tế, có thể nói Phật
giáo, về bản chất không thuộc về tính thiện luận và tính
ác luận.
Chúng sinh đều có Phật tính. Đấy
là tính thiện luận. Nhưng từ thời vô thủy đến nay, vì
bị vô minh che lấp, nên chưa thành Phật được, đó là tính
ác luận. Vì rằng, người chủ trương tính thiện luận có
thể nhờ phóng ác mà trở nên thiện. Người chủ trương
tính ác luận có thể đoạn trừ ác mà trở nên thiện. Quan
điểm có khác nhau nhưng cùng nhằm vào một mục đích. Vì
vậy Phật giáo có thể quay bên trái, bên phải đều được,
vì đều cùng một nguồn tất cả. Nếu đứng về căn bản
mà nói, Nho gia nói người bản tính là ác hay là thiện, đều
chỉ hạn chế nhìn bản tính của người trong một đời,
từ khi con người mới chào đời bằng tiếng khóc oe oe. Họ
không thể cứu xét được hành vi, tức là nghiệp của con
người đó trong đời sống quá khứ, cũng không thể cứu
xét được hành vi thiện ác của con người đó trong đời
sống vị lai. Mạnh Tử vì thiên trọng lý tính, cho nên chủ
trương bản tính người là thiện. Tuân tử coi trọng sự
chuyển biến của vật tính, cho nên nói bản tính người là
ác. Thật ra, cả hai đều chỉ thấy một bên; thấy bên này
mà không thấy bên kia. Về điểm này mà nói, Phật giáo không
phải là tính thiện luận, cũng không phải là tính ác luận.
Vì Phật giáo xem xét chúng sinh là từ thời vô thủy đến
nay, cho đến khi đạt mục đích tối hậu là thành Phật.
Còn đối với con người trong một đời sống hiện tại,
thì khó luận đoán là thiện hay ác, vì có Phật tính là thiện,
lại có vô minh là ác. Khi có Phật tính, đã có vô minh rồi.
Trong sinh tử là vô minh, thoát khỏi sinh tử là Phật tính.
Vật tính thì xuất phát từ vô minh, Lý tính thì nẩy mầm
từ Phật tính. Đấy là một chủ thể, nhưng có 2 mặt. Do
đó, nói bản tính người là thiện, cố nhiên là không đúng,
nhưng nói là ác, lại cũng không đúng. Nếu xem xét con người
trong một đời thì khi mới lọt lòng mẹ, đã có thiện có
ác rồi; nếu hướng về thiện là thiện, nếu hướng về
ác là ác (chú 10).
Nếu vậy thì phải chăng Phật giáo,
giống như thuyết của Dương Hùng chủ trương thiện ác lẫn
lộn. Cũng không phải. Phật giáo chủ trương vô minh phiền
não có thể dần dần bị hàng phục và đoạn trừ. Khi đoạn
hết vô minh thì Phật tính sẽ hiển lộ đầy đủ. Đó gọi
là đoạn phiền não, chứng Bồ Đề, liễu sinh tử, nhập
Niết Bàn. Ở cương vị phàm phu trong vòng sinh tử, phiền
não là ác, Phật tính là thiện; Một khi đã chứng đạo Bồ
Đề, đã nhập Niết Bàn thì căn bản, không thể nói có ác
và thiện; vấn đề thiện ác là quan niệm thuộc pháp thế
gian; còn trong pháp cứu thế, không có thiện và ác. Thiện
khác với ác; có thiện thì tất phải có ác; vì vậy, mục
đích của Phật giáo là đã không nói ác, cũng không nói thiện.
Thực ra, vấn đề thiện ác ở trong thế gian cũng không có
giá trị tuyệt đối. Thí dụ, thuốc độc có thể giết chết
người nhưng cũng có thể cứu sống người. Thuốc hay có
thể cứu sống người, cũng có thể giết chết người. Vì
vậy, Phật và Bồ Tát là bậc Thánh, đối với bản thân
các Ngài, đã không thể nói thiện hay ác, mà các Ngài quan
hệ với chúng sinh, cũng giữ tâm bình đẳng, không phân biệt
thiện, ác. Có như vậy, mới độ khắp chúng sinh được.
Thiện ác bất quá là do chúng sinh ngã chấp mà có; Thế nhưng,
chủ thuyết Phật giáo khác với thuyết của Công Tôn Tử
cho rằng không có thiện, ác. Bởi vì, ở cương vị phàm phu
trong thế gian thì phải phân biệt có thiện, có ác. Chỉ sau
khi xuất thế, mới nói không có thiện, không có ác.
Chính vì quan niệm thiện ác của
Phật giáo không có tính chất vĩnh hằng, cần phải xóa bỏ,
cho nên nếu miễn cưỡng đặt tên cho chủ thuyết Phật giáo
thì có thể nói đó là thiện ác giải thoát luận.
54.
PHẬT GIÁO CÓ BAO NHIÊU TÔN PHÁI 
Đây là một vấn đề không thể
né tránh được. Vì rằng, Phật Pháp tuy chỉ có một vị,
nhưng do trình độ căn cơ của người tiếp thu cao thấp khác
nhau, thời đại và hoàn cảnh sống cũng không đồng nhất,
cho nên có sự giải thích khác nhau về Phật Pháp. Trong Kinh
có câu : "Phật dùng một viên âm để thuyết pháp, chúng sinh
tùy loại mà hiểu lời Phật giảng. Ý tứ là : nếu đứng
ở lập trường của Phật mà xét thì Pháp môn nào cũng dẫn
tới Niết Bàn. Nhưng đứng ở góc độ các đệ tử Phật
mà nói thì mỗi người đều có pháp môn sở trường của
mình. Như 13 vị đệ tử nổi danh của Phật, mọi người
đều có tính cách đặc thù nổi bật riêng, đều có bạn
đạo riêng của mình [Tạp A Hàm 16 tr. 447]. Đây có thể nói
là dấu hiệu sớm sủa nhất của phân tông, phân phái trong
Phật giáo.
Trong thời gian - 500 năm sau khi đức
Phật nhập Niết Bàn, chỉ riêng ở Ấn Độ, Phật giáo Tiểu
thừa đã chia thành 20 bộ phái. Đôi khi chỉ vì một điểm
bất đồng rất nhỏ, cũng tách thành một bộ phái riêng,
Phật giáo Tiểu thừa, chia thành nhiều bộ phái, cho nên không
có được chuẩn mức thống nhất do sự nghiệp giáo hóa của
mình. Phật giáo Đại thừa Không Tông của Mã Minh và Long
Thụ cũng nhân cơ hội này mà hưng khởi ở Ấn Độ.
Vào khoảng 1000 năm sau khi Phật
Niết Bàn, Duy Thức Hữu Tông của Vô Trước, Thế Thân, Thanh
Biện, Hộ Pháp được thành lập. Từ đó, Phật giáo Đại
thừa ở Ấn Độ chia thành Không, Hữu hai tông. Sau đó ít
lâu, Mật giáo lại hưng khởi, đem Phật giáo Đại thừa chia
thành Hiển giáo và Mật giáo, đem Không tông và Hữu tông
nhập vào Hiển giáo.
Sau khi Phật giáo truyền vào Trung
Quốc, lúc đầu cũng không chia thành tôn phái. Về sau, do sự
nghiệp phiên dịch dần dần thịnh vượng, số kinh Phật được
dịch ra chữ Hán rất nhiều, và cũng do các nhà Phật học
Trung Quốc tiến hành phân loại và tôn phái đối với Phật
Pháp, cho nên mới có tông phái xuất hiện ở Trung Quốc. Nhưng
tông phái Phật giáo được thành lập đầu tiên ở Trung Quốc
là Tam luận tông và Tứ luận tông dựa vào các bản dịch
của Cưu Ma La Thập đời Đông Tấn. Đó là những tông phái
hưởng ứng với Đại thừa Không tông ở Ấn Độ. Nhưng
tông phái này, đến thời đại sư Gia Tường mới được
thành lập hoàn chỉnh. Đồng thời, dựa vào bộ luận "Thành
Thực" của Tiểu thừa mà lập ra "Thành Thực tông", dựa vào
bộ luận "Câu Xá" thuộc Hữu Bộ mà lập ra "Câu Xá Tông".
Dựa vào Niết Bàn mà lập "Niết Bàn tông". Dựa vào bộ "Nhiếp
Đại thừa luận" mà có "Nhiếp Luận tông". Từ khi ngài Đại
Ma từ Ấn Độ đến, truyền tâm ấn của Phật, mà có Thiền
tông, Đời Đường, có Đạo Tuyên chuyên môn truyền bá bộ
"Luật tứ phần" mà thành lập Luật tông ở Nam Sơn. Với
nội dung bộ Kinh Pháp Hoa được tổng hợp và triển khai mà
có Thiên Thai Tông với Đại sư Trí Khải. Với pháp sư Huyền
Trang đi cầu pháp ở Ấn Độ về, giới thiệu các bộ "Duy
Thức luận" mà Pháp tướng tông được thành lập. Với nội
dung bộ Kinh Hoa Nghiêm được tổng hợp và triển khai, Hoa
Nghiêm tông được thành lập với đại sư Hiền Thủ. Với
đại sư Tuệ Viễn tổ chức "Bạch Liên Đạo pháp môn niệm
Phật", Tịnh Độ tông được thành lập. Sau đó có 3 cao tăng
Mật giáo được đứng đầu là Thiện Vô Úy, dân Trung Quốc
vào năm Nguyên niên đời nhà Đường. Các vị này dịch nhiều
bộ kinh mật giáo mà thành lập nên Mật tông ở Trung Hoa.
Tổng cộng lại, Trung Quốc có 13
tông phái. Trong số này có 2 tông Câu Xá và Thành Thực là
thuộc về Tiểu thừa; dư còn lại đều thuộc về Đại thừa
Phật giáo.
Về sau, do quan hệ ảnh hưởng lẫn
nhau, hoặc mâu thuẫn hoặc hòa hợp, mà từ 13 tông ban đầu,
thu lại chỉ còn 10 tông phái : Niết Bàn tông nhập vào Thiên
Thai tông; Địa Luận tông nhập vào Hoa Nghiêm tông; Nhiếp
Luận tông nhập vào Pháp Tướng tông;
Biểu đồ sau đây liệt kê các
tông phái, và nêu mối quan hệ giữa chúng với hai bộ phái
lớn Không Tông và Hữu Tông.
xx
Qua sự giới thiệu của tông phái
như trên, Phật giáo Trung Quốc nhìn chung mà nói là hưng thịnh.
Nhưng từ cuối nhà Đường trở đi, Tiểu thừa không còn
được coi trọng. Tam Luận và Duy Thức đã không còn người
nghiên cứu. Mật tông xuất hiện ở Trung Quốc như Hoa ưu
đàm. Sau pháp nạn Đường Võ Tông, niên hiệu Hội Xương
thứ 5, Mật tông chuyển từ Trung Quốc sang Nhật, không còn
có dấu vết tại Trung Quốc nữa. Hoàn cảnh địa lý và bối
cảnh xã hội Trung Quốc khiến không thể giữ gìn giới luật
một cách thật nghiêm túc được, vì vậy mà Luật tông, không
khác gì người thở thoi thóp, còn cũng như mất. Thịnh nhất
chỉ có Thiền tông. Sau Lục Tổ Huệ Năng, Thiền tông chia
làm 5 phái. Trong 2 phái này thì phái Lâm Tế và phái Tào Động
phát triển hơn cả. Tất cả Tăng Ni Trung Quốc hiện nay, hầu
hết thuộc 2 phái này. Về mặt hiển dương giáo lý thì chỉ
có hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm hoạt động cầm chừng.
Đến hai thời đại Tống và Minh, có một số cao tăng chủ
trương kết hợp Thiền và Tịnh cùng tu, như Ngài Vĩnh Minh
Diên Thọ (Từ năm thứ hai Đường Ai Đế đến Tống Thái
Tổ nguyên niên), vì vậy mà Phật giáo Trung Quốc cận đại,
ngoài Thiền và Tịnh Độ ra, không còn có gì khác nữa (chú
11).
Từ cuối nhà Thanh đến những năm
đầu Dân quốc, do có nhiều kinh sách Phật được đưa từ
Nhật Bản trở về Trung Quốc, cho nên có hiện tượng các
tông Tam Luận, Duy Thức, Luật, Mật v.v… hồi sinh trở lại
ở Trung Quốc. Đáng tiếc là, hàng mấy trăm năm lại đây
ở Trung Quốc không có giáo dục và bồi dưỡng nhân tài có
hệ thống. Việc Phật giáo Trung Quốc có tiếp tục được
vận may hưng thịnh lại hay không, là còn chờ đợi ở nỗ
lực chung của chúng ta.
Ngoài Trung Quốc ra, Phật giáo ta,
các vùng khác trên thế giới, cũng có nhiều tông phái : như
Phật giáo Nam truyền ở Thái Lan chia thành Đại tông phái
và Pháp tông phái. Mật giáo Tây Tạng chia thành Hoàng giáo,
Hồng giáo, Bạch giáo, Hắc giáo. Phật giáo Nhật Bản cũng
giống như Phật giáo Trung Hoa, nhưng có Tịnh độ chân tông
và Nhật liên tông là đặc sắc. Hòa thượng Ấn Thuận, gần
đây có bình giá đạo Phật Nhật Bản như sau :
"Phật giáo kiểu Nhật Bản không
phải là gia đình được Phật giáo hóa, mà là Phật giáo
bị gia đình hóa; không phải là Phật giáo tại gia, mà là
Phật giáo xuất gia bị biến chất [Hải Triều Âm], quyển
34, số tháng 7 bài "Phương châm xây dựng Phật giáo tại gia".
Đó chính là đặc sắc của Phật giáo Nhật Bản.
Cuối cùng, tôi xin nói thêm một
câu : Sự phân tông, phân phái trong Phật giáo chỉ là một
vấn đề chi tiết phân loại, không phải là sự thay đổi
trong tư tưởng cơ bản. Chính vì vậy, trong tương lai không
xa, một nền Phật giáo thống nhất sẽ xuất hiện trên thế
giới này.
55. DUY
THỨC CÓ PHẢI LÀ DUY TÂM KHÔNG 
Không phải. Duy thức luận tuy xem
tinh thần là chủ thể, nhưng không phủ định vật chất,
cũng không phủ định hiện tượng khách quan. Còn nếu phải
phủ định, thì sẽ phủ định đến chỗ "không" triệt để.
Ngay cả thức cũng không còn, thì làm sao nói duy thức được.
Kỳ thực, nếu bàn tới duy tâm
luận trong triết học, và nếu loại trừ duy vật luận ra
thì hầu hết các triết phái còn lại đều thuộc duy tâm
luận. Như Ba con, Locke, Hume v.v… đều thuộc
chủ quan duy tâm luận [Bồi căn, Lạc Khắc, Humô v.v…] Hegel
(Hách Cách Nhĩ) là duy tâm luận khách quan, Kant (Khang Đức)
là duy tâm luận ý chí. Thiềm mẫu sĩ là duy tâm luận
kinh nghiệm. Béc kơ nây (Berkeley - Bách cách lâm) là duy tâm
luận trực giác. La Tố là duy tâm luận hoài nghi (Sự phân
loại đối với duy tâm luận như trên dựa vào bài "Pháp tướng
duy thức học Khái luận" của đại sư Thái Hư).
Nói chung lại, bất kể là loại
duy tâm luận nào các triết gia đều đưa ra một tiêu chí
làm cơ sở lập luận của họ, và với cơ sở đó, họ khó
tránh khỏi sai lầm lấy cục bộ hay bộ phận làm toàn diện
hay toàn bộ. Thuyết duy tâm luận hoài nghi có quan điểm tương
đối "thoáng" hơn, nhưng nó không thể vạch ra được con đường
quy kết cứu kính, cho nên cũng không tránh làm cho người ta
bàng hoàng phân vân.
Còn duy thức luận Phật giáo thì
thế nào ? Tuy nói "3 giới là duy thức" vạn sự vạn vật
trong ba giới đều là biến tướng của thức thứ tám, đều
là tướng phần, là hiện hành của thức thứ tám, nhưng không
phủ định sự tồn tại của chúng sinh ở bên ngoài tự ngã
chúng ta. Nói ba giới là duy thức là nói mọi hiện tượng
trong ba giới đều do thức thứ tám của chúng sinh trong ba
giới tập thể biến hiện ra, tức là biến tướng của cộng
nghiệp của chúng sinh trong ba giới.
Thức thứ tám không những chỉ
cho tâm thức hiện tại, mà còn chỉ cho tâm thức bị nghiệp
huân tập từ thời vô thỉ đến nay, vì vậy mà cũng gọi
là nghiệp thức. Hiện hành của nghiệp thức chính là tướng
phần của thức thứ tám, là hiện tượng ba giới, là thế
giới trong đó chúng ta đang cư trú. Thế giới của chúng ta
về vật chất là do thức thứ tám của chúng sinh cùng loại
biểu hiện ra. Các chúng sinh hỗ tương duyên vào nhau, tức
là cũng do thức thứ tám của chúng sinh cùng một loại biểu
hiện ra.
Vũ trụ quan của duy thức luận
được gọi là "A lại gia duyên khởi" A lại gia thức là dịch
âm từ chữ Phạn của Thức thứ tám : A lại gia thức có
nghĩa là Tạng thức, nó chấp chứa, tàng trữ tất cả mọi
hạt giống của Nghiệp. Khi hạt giống của Nghiệp hiện hành
thì tức là nghiệp kết thành quả báo; cho nên quả báo đó
cũng là do thức biểu hiện. Đó là đứng về bản thể sự
vật mà nói. Còn nếu đứng về mặt hiện tượng của sự
vật mà nói thì đó là "Nghiệp cảm duyên khởi". Bởi vì,
quả báo - hiện tượng do Thức thứ Tám biểu hiện, thực
tế là do nghiệp lực của từng chúng sinh tạo ra. Nếu đứng
về phương pháp mà nói, thì dù là A lại gia duyên khởi hay
là Nghiệp cảm duyên khởi cũng đều là nguyên lý cơ bản
của Phật pháp là "duyên sinh luận". Mục đích tối hậu của
Phật pháp chỉ là một chữ "không" mà thôi, vì Phật pháp
không cần thiết lập một ngẫu tượng siêu hình nào hết,
do đó mà cũng không phạm sai lầm lấy cục bộ làm toàn thể.
Do duyên sinh mà suy thành không, ngã cũng không, pháp cũng không,
vì vậy không làm người ta phải phân vân bàng hoàng. Đối
với các nhà triết học khác nói chung, chữ "ngã", chữ "tôi"
là không thể xóa bỏ được, chữ "pháp" (sự vật) lại càng
không thể xóa bỏ được. Bởi vì nếu họ xóa bỏ cái mà
họ chấp là ngẫu tướng cơ bản của họ, thì họ sẽ không
khác gì mất nơi nương tựa, mất chỗ đứng, trở thành lạc
lõng !
Vì vậy, không thể đem so sánh duy
thức luận Phật giáo với bất cứ một loại triết học
duy tâm nào !
