17 - NHỮNG
NGƯỜI LÀM CÁC NGHỀ CA HÁT, ĐỒ TỂ, SĂN BẮN, BẮT CÁ, BÁN
RƯỢU CÓ THỂ TIN PHẬT ĐƯỢC KHÔNG
Có thể được. Ân đức của Phật
giáo rộng lớn như biển cả. Chỉ cần có một niềm tín
tâm là có thể vào cửa Phật, trở thành học trò "Tam Bảo".
Tuy vậy, trong giới nhà Phật, có
các giới cấm : Tà dâm, sát sinh, uống rượu cho nên các nghề
sinh sống nói trên đều thuộc về các loại nghề nghiệp
ác, tà, bất chính. Thế nhưng, nhân dân sống ở hải đảo,
nếu không bắt cá thì lấy gì sinh sống ? Thổ dân sống trên
núi, nếu không săn bắn thì sẽ chết đói. Phụ nữ nghèo,
nếu không múa hát thì cũng không biết làm gì để có mức
sống tối thiểu. Nếu thế hệ trước làm nghề đồ tể
hay bán rượu, và tự mình cũng chỉ học được nghề đồ
tể và bán rượu để mưu sinh, và nếu đó là nghề duy nhất
để họ mưu sống thì Phật giáo không có yêu cầu họ phải
bỏ ngay nghề của họ để tin Phật. Nhưng một khi họ đã
tin Phật rồi và tìm cách đổi nghề, thì Phật giáo sẽ tích
cực khuyến khích họ đổi nghề. Bởi vì tôn chỉ của đạo
Phật là khuyến khích mọi người sinh sống bằng nghề nghiệp
lương thiện và chính đáng. Huống hồ, bản thân những nghề
nghiệp của họ là tội ác. Họ tuy không có thụ giới, và
do đó không có tội phá giới, nhưng bản thân nghề nghiệp
của họ, về bản chất, là tội ác.
Thậm chí, do tình hình thực tế
mà có những người không có cách gì đổi nghề được thì
Phật giáo cũng không cho rằng họ phá giới. Bởi vì, bước
đầu tín ngưỡng Phật giáo chỉ là quy y Tam Bảo. Còn thụ
giới, trì giới tuy là điều hy vọng của đạo Phật, và
có rất nhiều công đức, nhưng không được ép buộc. Nếu
không giữ được giới thì đừng có thụ giới. Không có
thụ giới thì cũng không có phá giới, và không có tội phá
giới. Nếu muốn thụ giới, có thể giữ được bao nhiêu
giới thì thụ bấy nhiêu giới. Không phải thụ tất cả.
Thụ giới rồi mà không giữ được thì xin xả giới. Xả
giới rồi mà có làm ác nghiệp cũng không phải là phạm giới.
Sau khi xả giới rồi mà muốn thụ giới lại cũng được.
Nếu không xả giới mà phạm giới thì đó là phạm tội !
Phật giáo bao dung rộng rãi vô cùng.
Có những người tuy không thụ năm giới, nhưng đối với
Tam Bảo sinh ra một niệm tín tâm hay đôi chút lòng kính trọng
thì đã có công đức rất lớn rồi, đã trồng thiện căn
để tương lai thành Phật rồi.
Huống hồ là chịu quy y Tam Bảo
! Sau khi quy y Tam Bảo, chỉ cần đừng có tin theo một tôn
giáo khác, còn không thụ năm giới cũng được. Vì vậy Phật
giáo không cự tuyệt niềm tin và tín ngưỡng của bất cứ
một người nào.
18.
PHẬT GIÁO CÓ TIN Ở SÁM HỐI HAY KHÔNG
Có, Phật giáo đích xác tin ở công
dụng của sám hối.
Phật giáo tin rằng, trừ những
tội cực nặng đã phạm như sát sinh, trộm cắp, tà dâm,
đại vọng ngữ (tự xưng mình là Thánh) phải tùy nghiệp
mà thụ báo, còn các tội khác đều có thể dựa vào phương
pháp do Phật quy định mà tiến hành sám hối.
Tác dụng của sám hối là hoàn
toàn thành khẩn tự mình phản tỉnh, tự mình kiềm chế.
Với tâm tự giác và tỉnh táo, với tâm tự trọng để tẩy
rửa sạch sẽ thân tâm mình, phát nguyện từ nay về sau không
còn tái phạm nữa. Chỉ miễn là có quyết tâm sửa chữa
lỗi lầm và trở thành con người mới, thì sẽ không còn
nhắc tới chuyện cũ nữa, tâm sẽ được bình tịnh, cởi
bỏ được mặc cảm phạm lỗi lầm. Đó chính là tác dụng
của sám hối. Sau khi phạm tội cần phải chân thành bộc
lộ (tùy theo tình tiết nặng nhẹ mà bộc lộ với đông người,
với ba người, với một người hay là với lương tâm của
riêng mình), bộc lộ lỗi lầm của mình, tha thiết hối lỗi,
quyết tâm không còn tái phạm. Nếu không thì bóng dáng của
tội ác sẽ vĩnh viễn in tận trong tâm khảm, trở thành hạt
nhân dẫn tới quả báo trong tương lai. Sau khi sám hối, hạt
giống phát sinh ra quả báo tương lai, cũng sẽ bị tiêu diệt.
Bất quá, mục đích của sám hối
là làm cho tâm mình được trong sạch, không còn phạm lại
tội ác nữa. Nếu cứ thường xuyên phạm tội, lại thường
xuyên sám hối, rồi thường xuyên phạm tội lại, như vậy
sẽ làm mất công dụng của sám hối.
Sám hối của Phật giáo không giống
việc cầu thượng đế xá tội của Gia Tô giáo. Phật giáo
tin rằng không có vị thần linh nào có thể xá tội cho người.
Công dụng của sám hối chỉ là tẩy sạch nội tâm, khiến
nội tâm trở lại thanh tịnh.
19. PHẬT
GIÁO CÓ TIN THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC HAY KHÔNG 
Có tin, Phật giáo không hoài nghi
có tồn tại thiên đường và địa ngục, bởi vì thiên đường,
địa ngục đều cùng nằm trong phạm vi luân hồi, sinh tử.
Phật giáo cho rằng, con người khi chưa thoát khỏi giới hạn
của sinh tử luân hồi thì vẫn có khả năng thực nghiệm
thiên đường và địa ngục, thậm chí có thể nói, mọi người
đều đã từng sống qua ở thiên đường và địa ngục. Sống
theo 5 giới và 10 thiện ở cấp cao thì sẽ sinh ở thiên đường.
Phạm các tội lớn như 10 ác, 5 nghịch thì đọa địa ngục.
Chịu khổ báo hết rồi, chúng sinh ở địa ngục vẫn có
thể sinh lên thiên đường. Ở thiên đường, hưởng phúc
báo hết rồi, chúng sinh ở thiên đường lại có thể xuống
địa ngục. Vì vậy, Phật giáo cho rằng thiên đường tuy
là cảnh giới sung sướng, nhưng không phải là nơi an lạc
cứu kính, địa ngục tuy là cảnh giới khổ, nhưng cũng có
ngày thoát khổ.
Đồng thời, tu thiện nghiệp có
cao thấp khác nhau, cho nên thiên đường cũng có thứ bậc.
Do ác nghiệp cũng có nặng nhẹ khác nhau, cho nên địa ngục
cũng có đẳng cấp.
Thiên đường của Phật giáo chi
làm 28 cõi Trời, thuộc 3 giới. Có sáu cõi Trời Dục giới,
gần gũi với cõi người. Cao hơn nữa, có 18 cõi Trời thuộc
Sắc giới. Và ở trên Sắc giới, có 4 cõi Trời thuộc Vô
sắc giới. Trên sự thực, làm người mà tu thiện nghiệp
chỉ có thể sinh ở 6 cõi trời và Dục giới. Trong các cõi
Trời thuộc Sắc giới, trừ cõi trời Tịnh cư thiên ở Sắc
giới, còn thì tất cả các cõi trời khác đều là những
cảnh giới thiền định, do tu thiền mà đạt được.
Địa ngục trong Phật giáo, lớn
nhỏ có rất nhiều, không kể xiết, do khổ báo của chúng
sinh ở địa ngục có khác biệt, chủ yếu phân thành 3 loại
địa ngục lớn : Căn bản địa ngục, cận biên địa
ngục và cô độc địa ngục. Loại địa ngục thường được
nói tới trong kinh Phật là căn bản địa ngục. Căn bản địa
ngục lại chia thành tám địa ngục đại nhiệt (nóng
dữ) và tám địa ngục đại hàn (lạnh giá). Chúng sinh,
tùy theo tội ác đã phạm mà đọa vào các cấp địa ngục
khác nhau. Người thế gian nói rằng, người làm ác bị quỷ
sứ ở địa ngục bắt trói nhưng thực ra, lên thiên đường
hay xuống địa ngục, đều do nghiệp lực thúc đẩy, dắt
dẫn. Nghiệp lực hướng lên các cõi trời thì được sinh
lên các cõi trời để hưởng phúc. Nghiệp lực hướng xuống
địa ngục, thì đọa xuống các địa ngục để chịu khổ.
20.
PHẬT GIÁO TIN CÓ DIÊM VƯƠNG KHÔNG 
Về đại thể mà nói, Phật giáo
tin có Diêm Vương. Vì trong nhiều kinh Phật, có nói tới Diêm
Vương (như kinh Thiên sứ quyển 12 Trung A Hàm).
Nhưng Diêm Vương không phải là
do Phật giáo đầu tiên phát hiện ra; Phật giáo chỉ tiếp
thu và "Phật giáo hóa" quan niệm về Diêm Vương của tôn giáo
Ấn Độ cổ đại.
Trong sách Vệ Đà xưa, vũ trụ được
chia thành 3 giới là Trời, Hư không và Đất. Thiên giới có
Thiên Thần. Hư không giới có Hư không thần; Địa giới có
Địa thần. Khái niệm tam giới (dục giới, sắc giới, vô
sắc giới) của Phật giáo có thể đã chịu ảnh hưởng của
thuyết 3 giới của tôn giáo Ấn Độ cổ đại. Sách Vệ Đà
gọi Diêm Vương là Yama (Dạ Ma). Dạ Ma vốn là một thiên
thần, về sau biến thành ông tổ đầu tiên của loài người,
và cũng là người chết đầu tiên, nhưng lại sống ở trên
cõi trời. Vì vậy, sách Rig-veda (Lê Câu Phệ Đà) nói, sau
khi con người chết, phải lên Trời trình diện với thần
Dạ Ma và ông thần Tư pháp là Baluna. Về sau, sách Atharvaveda
(A Thát Bà Phệ Đà) nói Thần Dạ Ma cải quản những người
chết, và có quyền phán xử đối với người chết. Thần
Dạ Ma ở trên trời có điểm giống với thượng đế của
Gia Tô giáo; đến Phật giáo thì có sự phân biệt giữa thần
Dạ Ma ở trên cõi Trời (tức cõi Trời thứ 3 của Dục giới)
với vua Diêm Vương ở địa ngục.
Diêm Vương có quyền thẩm vấn,
xét xử những người đã chết. Địa vị của Diêm Vương
ở địa ngục tương đương với địa vị của Thượng Đế
ở trên các cõi Trời. Phật giáo đã không sùng bái Thượng
Đế, tất nhiên cũng không sùng bái Diêm Vương. Đồng thời,
tuy rằng đạo Phật tùy theo thế tục, để phương tiện giáo
hóa chúng sinh mà cũng tin có Diêm Vương tồn tại, nhưng về
bản chất, không thừa nhận Diêm Vương có tính độc lập,
cho nên có bộ phái Phật giáo cho rằng Diêm Vương và ngục
tối đều do cảm ứng của nghiệp lực chúng sinh mà tồn
tại, là do tâm thức của chúng sinh ở địa ngục hiện ra
(duy thức hiện).
Lại nói, Phật giáo chính tín cũng
không tin rằng, người ta chết rồi, bị Diêm Vương xử tội;
chỉ thừa nhận có các cõi sống như cõi Địa ngục và cõi
quỷ có quan hệ với Diêm Vương. Còn việc Diêm Vương sai
ngục tốt đến bắt bớ người sắp chết, chỉ là truyền
thuyết dân gian. Trên quan điểm duy thức, Phật giáo cũng không
bác bỏ truyền thuyết đó, đó là do tâm thức biểu hiện,
cho nên sách Phật cũng chép những truyện tương tự như thế.
Đời nhà Thanh, ông Kỷ Hiểu Lam
trong sách bút ký của ông nói rằng, tin nhưng không hiểu chuyện
Diêm Vương và ngục tối. Ông nói thế giới rất to lớn,
có người ở trong nước ở ngoài nước, ở phương Đông
và phương Tây, vì sao chỉ có tin tức về người Trung Quốc
từ ở cõi âm trở về, không thấy có những người khác
? Phải chăng cõi âm của Trung Quốc và cõi âm của ngoại
quốc là 2 thế giới khác nhau ? Thực ra, nếu ông Kỷ Hiểu
Lam hiểu được đạo lý "Duy thức biểu hiện" của Phật
giáo thì sẽ hết nghi. Trong nội tâm của người Trung Quốc,
chỉ tồn tại mô hình cõi âm của người Trung Quốc mà thôi,
làm sao có thể hiện ra mô hình cõi âm của Liên hiệp quốc
được !
21.
PHẬT GIÁO CÓ TIN CÔNG DỤNG CỦA LỄ CẦU SIÊU
CHO VONG LINH HAY KHÔNG 
Không cần phải nói, Phật giáo
tin tưởng ở tác dụng của cầu siêu. Thế nhưng, tác dụng
ấy có giới hạn nhất định. Cầu siêu chỉ là một sức
mạnh thứ yếu, không phải là sức mạnh chủ yếu. Vì thời
gian chủ yếu để tu thiện làm thiện là thời gian khi người
đang còn sống. Sau khi người chết rồi, chính người sống
tổ chức lễ cầu siêu cho người chết và hồi hướng công
đức tu thiện làm thiện của mình cho người chết. Kinh Địa
Tạng cho biết, lợi ích của lễ cầu siêu có bảy phần,
thì sáu phần thuộc về người còn sống (tức là người
tổ chức lễ cầu siêu) còn chỉ có một phần lợi ích thuộc
về người đã chết.
Đồng thời, Phật giáo chính tín,
đối với phương thức lễ cầu siêu, có quan niệm hơi khác
với tập tục dân gian. Nói siêu độ là nói độ thoát cõi
khổ, siêu thăng đến cõi vui, là dựa vào cảm ứng của nghiệp
lực tu thiện của bạn bè, gia thuộc người chết, chứ không
phải do một mình tác dụng tụng kinh của tăng ni. Đó là
sự cảm ứng do phối hợp nghiệp thiện của người tổ chức
siêu độ và sự tu trì của người tụng kinh (chú 3).
Do đó, Phật giáo chính tín cho rằng,
chủ thể của công việc cầu siêu không phải là tăng ni mà
là gia thuộc của người chết. Gia thuộc người chết, trong
giờ phút lâm chung, nếu biết đem các đồ vật ưa thích của
người sắp chết, cúng dường Tam Bảo, bố thí kẻ nghèo,
và làm cho người sắp chết hiểu rõ, đó là làm công đức
hộ cho anh ta, thì sẽ có tác dụng rất lớn đối với vong
linh người chết. Đó là do sự cảm ứng của một niệm thiện
nghiệp, do tâm người lúc lâm chung được an ủi, nhờ vậy
mà nghiệp thức của người chết hướng tới cõi lành. Đó
không phải là mê tín, đó là đạo lý tâm thiện hướng tới
cõi thiện. Nếu khi người thân đã chết mà con cháu, gia thuộc
có lòng thành kính thiết tha, tổ chức trai tăng, bố thí,
làm điều thiện lớn, tỏ lòng hiếu thảo khẩn thiết cũng
có thể có cảm ứng, giúp cho vong linh được siêu linh cõi
thiện. Thế nhưng, tác dụng không bằng việc làm khi người
đang còn sống, chưa chết. Khi người con có lòng hiếu chí
thành, như khi Bồ Tát Địa Tạng, để cứu mẹ mà phát lời
nguyện đại bi, nguyện vì để cứu mẹ mà đời đời kiếp
kiếp sẽ cứu độ chúng sinh ra khỏi biển khổ. Dựa vào
sức mạnh của lời nguyện vĩ đại ấy, mà cảm thông được
với người chết, giúp người chết giảm bớt hay trừ bỏ
được tội ác. Đó không phải là mê tín, mà là sự cảm
thông của lòng hiếu vĩ đại, của tâm nguyện vĩ đại, khiến
cho tâm lực và nguyện lực của người siêu độ hòa nhập
và cảm thông với nghiệp lực của người siêu độ, cả
2 thông suốt cùng một khí, nhờ vậy, mà người chết được
siêu độ. Vì vậy đối với Phật giáo chính tín, con cái
gia thuộc nếu muốn cứu độ người chết, thì nên làm các
việc như cúng dường Tam Bảo, bố thí kẻ nghèo, chứ không
nhất thiết phải mời Tăng Ni đến tụng kinh. Tăng Ni khi được
cúng dường, thì chỉ chú nguyện cho thí chủ mà thôi. Vì
Tăng Ni tụng kinh là công việc làm hàng ngày của họ trong
các khóa lễ, tụng kinh là một phương pháp tu hành, mục đích
của tụng kinh không phải là để siêu độ người chết.
Thí chủ cúng dường chư Tăng là để cho chư Tăng có thể
tu hành và đạt mục đích của tu hành. Phật giáo tuy có nói
tụng kinh để siêu độ người chết, nhưng đó là hy vọng
mọi người đều tụng kinh. Chỉ trong trường hợp mình không
biết tụng kinh hay là tụng kinh quá ít, mới thỉnh Tăng Ni
tụng kinh thay cho mình. Thực ra, chức năng của Tăng Ni là
duy trì đạo Phật ở thế gian, lấy Phật pháp để hóa độ
chúng sinh, chứ không phải chuyên làm việc siêu độ cho người
chết. Công đức của tụng kinh là nhờ ở lòng tin Phật pháp
và tu hành Phật pháp, cho nên không phải chỉ có Tăng Ni mới
tụng kinh, lại càng không phải chỉ khi có người chết mới
tụng kinh. Hơn nữa, thời hạn siêu độ tốt nhất là trong
vòng 49 ngày. Bởi vì, Phật giáo tin rằng, chỉ trừ những
trường hợp như người có phúc nghiệp lớn, chết thì tái
sinh ngay ở sáu cõi trời Dục giới, hay là những người tu
định có kết quả, khi chết thì tái sinh ở các cõi trời
Thiền định, hay là người có ác nghiệp nặng, chết thì
đọa địa ngục lập tức; còn thì đối với người bình
thường mà nói, chết xong còn trải qua thời gian 49 ngày chờ
đợi cho nghiệp duyên chín mùi mới quyết định tái sinh ở
cõi nào. Nếu trong thời gian này mà con cái, thân nhân biết
lấy công đức cúng dường Tam Bảo, bố thí kẻ nghèo để
hồi hướng cầu siêu độ thì người chết, nhờ công đức
thiện nghiệp ấy cảm ứng hỗ trợ mà được sinh lên cõi
thiện (Trời, Người) và được siêu độ. Nếu để qua 49
ngày mới tổ chức cầu siêu thì chỉ có thể tăng thêm phúc
đức cho người đó, chứ không thể ảnh hưởng gì đến
hướng tái sinh của họ nữa.
Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ, trong
trường hợp người thân bị chết oan, chết thê thảm, do
oan trái chưa trả cho nên có thể sinh ở cõi quỷ, và tiếp
tục vòi vĩnh, đòi hỏi đối với người. Thông thường,
người ta gọi đó là quỷ ám. Trong trường hợp đặc biệt
này, thì cần có tụng kinh siêu độ (nghĩa là thuyết pháp
cho quỷ nghe để cho quỷ rõ hướng đi). Nhờ Phật lực giúp
cho vong linh tái sinh ở cõi thiện. Phật giáo thường gọi
cõi quỷ là "ngã quỷ" (quỷ đói), cho nên thường dùng mật
pháp (như trì chú biến thực, thí thực) để giúp đỡ, tạo
ra tác dụng lớn, đặc biệt là đối với loại quỷ lành.
Công việc Phật sự đặc biệt này, các tôn giáo khác, kể
cả Thần giáo đều không biết.
Đương nhiên, những điều nói trên
đây đều là nói theo lập trường đạo Phật. Ở Trung Quốc,
người mời Tăng Ni đến tụng kinh siêu độ, đôi khi không
phải là Phật tử mà lại là "nho gia chính cống". Như gần
đây, có ông Đường Quân Nghị vốn là một tân nho danh tiếng,
khi mẹ ông chết, ông qua Hương Cảng làm Phật sự, và đặt
linh vị mẹ tại chùa Phật. Ông than rằng, trong việc này,
triết học của ông tỏ ra bất lực. Ông vẫn giữ quan niệm
"tế như tại" (tế người chết như là tồn tại trước mặt)
của Nho gia để tự an ủi mình. Những trường hợp như vậy
rất nhiều. Khuyến khích họ làm việc đó theo đúng quan niệm
Phật giáo thực ra không phải là dễ. Và đó cũng là một
vấn đề lớn đặt ra cho Phật giáo vậy.
22.
PHẬT GIÁO CÓ TIN LÀ CÔNG ĐỨC CÓ THỂ HỒI
HƯỚNG CHO NGƯỜI KHÁC HAY KHÔNG
Phật giáo tin tưởng vững chắc
rằng, công đức do mình tu tập, có thể hồi hướng cho người
khác được hưởng.
Hồi hướng là chuyển từ phía
mình, sang phía người khác. Đó là một sự cảm ứng tâm
lực. Tâm lực của mình, thông qua nguyện lực của chư Phật,
Bồ Tát mà đạt tới đối tượng của sự hồi hướng. Cũng
như ánh sáng mặt trời, thông qua vật phản xạ như tấm gương,
mảnh kinh loại, mà được khúc xạ, chiếu dọi vào các góc
tối tăm. Ở trong nhà cũng vậy. Các góc tối ở trong nhà
tuy không trực tiếp được ánh sáng mặt trời chiếu đến
nhưng vẫn tiếp thu được ánh sáng mặt trời phản chiếu.
Đồng thời, tuy có hồi hướng
công đức cho người khác nhưng bản thân công đức của mình
không bị hao hụt gì hết. Trong kinh Phật, có nêu ví dụ :
Một cái đèn sáng, có thể dùng để châm sáng cho nhiều cái
đèn khác, nhưng ánh sáng của cái đèn thứ nhất vẫn không
bị giảm bớt.
Do đó, các Phật tử chính tín,
một khi làm nên một công đức gì đều nên phát nguyện hồi
hướng đến hết cả chúng sinh cùng được hưởng. Đó cũng
là một biểu hiện tự nhiên của lòng từ bi.
23. PHẬT
GIÁO CÓ TIN LUÂN HỒI LÀ CHUYỆN CHÍNH XÁC CÓ THỰC HAY KHÔNG 
Phật giáo trả lời khẳng định.
Phật giáo cho rằng tất cả chúng sinh, trừ các bậc đã giải
thoát khỏi sinh tử (các vị A La Hán của Tiểu thừa giáo)
hay là các bậc đã tự chủ đối với sinh tử (các bậc thánh
Bồ Tát của Đại thừa), còn thì tất cả đều ở trong vòng
sinh tử luân hồi.
Luân hồi là trôi dạt, nổi lên
chìm xuống trong vòng sinh tử, chứ không giống như cái bánh
xe quay vòng. Phạm vi luân hồi bao gồm sáu cõi sống, Phật
giáo gọi là 6 đạo, kể từ trên xuống là cõi Trời, cõi
Người, cõi Tu La (thần đạo), cõi súc sinh, cõi quỷ, cõi
địa ngục. Sáu cõi này là phạm vi luân hồi sinh tử của
những chúng sinh sống giữ 5 giới 10 thiện hay là phạm 10
ác, 5 tội nghịch (là giết cha, giết mẹ, phá hòa hợp Tăng,
giết A La Hán, làm chảy máu Phật). Năm giới, 10 thiện chia
thành 4 phẩm (thượng, trung, hạ) : sinh làm loài trời, loài
người, A-tu-la. Mười ác, 5 tội nghịch cũng chia làm 3 phẩm
(thượng, trung, hạ) : sinh làm súc sinh, làm quỷ, hay là ở
nơi địa ngục. Làm nghiệp thiện thì sinh ở 3 cõi trên, làm
nghiệp ác thì sinh ở 3 cõi dưới. Trong mỗi cõi sống như
vậy, hưởng hết phúc, hay là chịu hết tội báo là chấm
dứt một kỳ sinh tử, mở ra một kỳ sinh tử khác. Luân chuyển
trong sáu cõi sống như vậy, sống rồi chết, chết rồi lại
sống một đời khác, như vậy gọi là luân hồi.
Đặc biệt, Phật giáo tin rằng,
phạm vi luân hồi sinh tử tuy là có 6 cõi, nhưng cõi người
là chủ đạo, vì chỉ ở cõi người, chúng sinh vừa có thể
gieo các nhân thiện hay ác nghiệp, vừa chịu quả báo. Còn
ở các cõi sống khác, chúng sinh chỉ có một chiều hướng
phúc báo, không có cơ hội tạo nghiệp mới. Còn ở 3 cõi
khổ, súc sinh, quỷ đói, địa ngục thì chúng sinh một chiều
chịu quả báo khổ, không có năng lực phân biệt được thiện,
ác. Chỉ có ở cõi Người, chúng sinh vừa thụ quả báo vui,
vừa chịu quả báo khổ, lại có thể phân biệt được thiện,
ác. Phật giáo cho rằng, nghiệp lực tạo tác, chủ yếu diễn
ra trên bình diện tâm thức. Nếu trên bình diện tâm thức,
không có cơ hội, hay không có năng lực phân biệt thiện,
ác thì không có tạo nghiệp. Vì vậy mà Phật giáo rất coi
trọng trách nhiệm của hành vi thiện, ác nơi cõi người.
Chính vì, nhân chủ yếu tạo nghiệp
là ở cõi người, cho nên chúng sinh tái sinh lên cõi Trời,
hay là đọa xuống các cõi ác đều có cơ hội đọa xuống
hay thăng lên, chứ không có chuyện đọa xuống vĩnh viễn
hay là thăng lên vĩnh viễn.
Chúng sinh ở cõi Người, tạo nghiệp
nhân có thiện có ác, có nghiệp nặng, có nghiệp nhẹ. Con
người trong cuộc đời tạo ra nhiều nghiệp khác nhau, hoặc
thiện, hoặc ác, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc nặng, hoặc nhẹ.
Do đó mà cơ hội chịu báo cũng trước, sau khác nhau. Do đó
một người, khi thọ mạng một đời hết, có thể bị chi
phối bởi ba lực hấp dẫn, dẫn người ấy đi tái sinh. Một
là tùy theo trọng lượng của nghiệp trong một đời, nếu
nghiệp thiện có tỷ trọng lớn hơn nghiệp ác, thì người
ấy sẽ tái sinh vào cõi thiện; nếu tỷ trọng của nghiệp
sinh thiện nặng hơn nghiệp sinh làm người, thì người ấy
sẽ sinh thiên, tức là sinh lên các cõi Trời. Nếu nghiệp
ác chiếm tỷ trọng lớn hơn nghiệp thiện, thì người ấy
phải bị tái sinh ở các cõi ác; nếu nghiệp địa ngục nặng
hơn nghiệp làm súc sinh, thì người ấy phải bị sinh ở địa
ngục, trước là chịu quả báo của nghiệp nặng rồi sau
mới lần lượt chịu quả báo của những nghiệp nhẹ hơn.
Thứ hai là tùy theo tập quán. Một
người trong đời, không làm nghiệp thiện lớn, cũng không
làm nghiệp ác lớn, nhưng trong đời lại có một thói quen
đặc biệt mạnh mẽ, và khi chết, họ sẽ tái sinh theo hướng
của thói quen đó. Vì vậy tu thiện, học Phật, chủ yếu
là dựa vào sự nỗ lực hàng ngày.
Thứ ba là tùy niệm, hướng tái
sinh được quyết định bởi tâm niệm của người lâm chung.
Khi lâm chung mà có tâm niệm ác liệt như sợ hãi, lo lắng,
tham lam, giận dữ v.v…, thì sẽ rất khó tránh được tái
sinh vào cõi ác. Vì vậy mà Phật giáo khuyên đối với người
hấp hối sắp chết, hay vừa mới chết, gia thuộc bà con không
được khóc, mà nên thay mặt người thân (sắp chết hay mới
chết) làm các việc tu phúc, bố thí, và nói cho người thân
đó biết là làm công đức vì họ, thay cho họ. Đồng thời
kể lại cho họ biết mọi việc thiện người ấy đã làm
trong đời, làm cho tâm của người ấy được an ủi, vui vẻ.
Mọi người nên lớn tiếng niệm danh hiệu Phật, làm cho người
ấy nhất tâm nghĩ tới công đức Phật, cõi nước Phật.
Nếu không phải là ác nghiệp nặng, thì tâm niệm của người
sắp chết có thể giúp cho người ấy khỏi phải đọa xuống
cõi ác, hơn nữa, có thể tâm lực của người sắp chết,
cảm ứng được với nguyện lực của chư Phật, Bồ Tát
mà được vãng sinh sang cõi Phật. Đó là nguyên nhân chủ
yếu của chủ trương Phật giáo tổ chức trợ niệm danh hiệu
Phật cho người lâm chung, sắp chết.
Tín ngưỡng dân gian cho rằng người
chết biến thành quỷ không đúng với thuyết luân hồi của
nhà Phật, vì rằng cõi quỷ chỉ là một trong 6 cõi sống,
và khi chết người ta chỉ có 1/6 khả năng sinh vào cõi quỷ.
