8.
PHẬT GIÁO CÓ PHẢI LÀ TÔN GIÁO
CÓ TÍNH THẾ
GIỚI ?
Đúng vậy, Phật giáo là một tôn
giáo thế giới. Vì đức Phật không phải là một vị Thần
bảo hộ cho một dân tộc, mà là một bậc giác ngộ với
trí tuệ bao quát cả vũ trụ, không gì không thấy, không biết
một cách chính xác và thấu triệt, cho nên đức Phật là
thuộc tầm cỡ vũ trụ. Sự giác ngộ của đức Phật bao
trùm cả vũ trụ, ánh sáng từ bi của Phật rọi chiếu khắp
tất cả. Do đó, bản chất của Phật giáo là có tính thế
giới, có tính vũ trụ.
Vì vậy, trong gần hơn hai nghìn
năm trăm năm lại đây, Phật giáo dần dần được truyền
bá khắp các nơi trên thế giới.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, khoảng
ba bốn trăm năm, do trong nội bộ Phật giáo có ý kiến bất
đồng mà hình thành hai hệ phái lớn : Một hệ phái gồm
các bậc tuổi cao, và có tính bảo thủ gọi là Thượng
tọa bộ. Một hệ phái thứ hai gồm những tăng sĩ trẻ
tuổi, có đầu óc tân tiến, gọi là Đại chúng bộ.
Về sau, Thượng tọa bộ được truyền bá hướng về phương
nam, đến Tích lan. Thượng Tọa Bộ dùng tiếng Pali ở phương
nam để ghi chép kinh điển. Vì vậy, về sau cũng gọi Thượng
tọa bộ là Phật giáo theo ngữ hệ Pali. Còn Đại chúng bộ
thì có một nhánh truyền lên phía bắc Ấn Độ, tuy nó không
trực tiếp sản sinh ra Phật giáo đại thừa, nhưng chính trong
những khu vực thịnh hành của Đại chúng bộ, đã xuất hiện
ra Phật giáo đại thừa.
Trên đây chỉ bàn đại khái về
sự phân bố địa lý của Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền.
Nhưng nếu, phân tích sâu hơn các sử liệu, thì thấy Phật
giáo Nam truyền đến Miến Điện sớm nhất lại là Phật
giáo Đại thừa theo văn hệ chữ Phạn. Phật giáo Nam phương
đầu tiên theo đường biển đến Trung Quốc cũng là Đại
thừa giáo. Ngược lại, trong Phật giáo Bắc truyền cũng có
thế lực khá mạnh của Phật giáo Tiểu thừa.
Phật giáo Đại thừa tuy bắt nguồn
từ thời đức Thích Ca Thế Tôn còn tại thế, nhưng sau khi
Phật nhập diệt, lại rất ít được Tăng đoàn Tỷ Khiêu
coi trọng và phát huy. Tình hình này kéo dài đến ba bốn trăm
năm. Sau đó, vì trong nội bộ của Phật giáo Tiểu thừa,
có sự phân phái phức tạp, cho nên mới có yêu cầu Phật
giáo Đại thừa xuất hiện và phát triển, với những nhân
vật đại biểu xuất sắc như Mã Minh, Long Thụ, Vô Trước,
Thế Thân v.v… Phật giáo Đại thừa dùng chữ Phạn để
sưu tập, ghi chép kinh điển cho nên cũng gọi là Phật giáo
văn hệ chữ Phạn.
Phật giáo truyền vào Trung Quốc
từ thời Đông Hán, tương đương với buổi đầu của kỷ
nguyên Thiên chúa.
Đại bộ phận kinh sách Phật giáo
Trung Quốc là do dịch từ kinh Phật chữ Phạn. Tuy Đại thừa
rất thịnh hành trong Phật giáo Trung Quốc, nhưng kinh điển
Tiểu thừa cũng được dịch rất nhiều. Trung Quốc có đầy
đủ những bản dịch của những kinh sách Tiểu thừa quan
trọng.
Từ Ngụy Tấn, Nam Bắc triều đến
Tùy và Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo Trung
Quốc. Có nhiều cao tăng xuất hiện, sự giao lưu giữa Trung
Quốc và Ấn Độ nối tiếp không ngừng. Trong thời kỳ này,
Phật giáo Trung Hoa nở hoa, kết trái, cả Đại thừa và Tiểu
thừa có tới 13 tông phái, sau hợp gọn lại còn 8 tông phái
Đại thừa. Tức là Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Tam Luận
tông, Duy Thức tông, Tịnh Độ tông, Luật Tông, Thiền tông,
Mật tông. Sau thời kỳ Ngũ đại do chính trị suy vi, và hoàn
cảnh xã hội thúc bách, Phật giáo Trung Quốc lánh xa các trung
tâm văn hóa, ẩn vào rừng sâu, tăng sĩ tự cày ruộng lấy
để có thóc ăn, việc nghiên cứu nghĩa lý trong kinh sách không
còn thích hợp. Vì vậy chỉ còn lại một mình Thiền tông
chủ trương bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Trong
thời kỳ giữa nhà Tống và nhà Đường, còn có một số
thiền sư chân tu thực ngộ, có khả năng cảm hóa được
nhiều người, thông qua lời nói và việc làm bình dị và
chất phác của họ, nhưng cũng do đất mà gieo cái nhân xa
cho một loại Phật giáo "ngu muội", khiến cho sau đời Tống
và đời Minh, chùa chiền và tăng sĩ tuy nhiều, nhưng đã không
còn linh hồn nữa, mà chỉ còn trơ cái xác không mà thôi !
Giáo dục không được coi trọng, chỉ thực hành những nghi
thức theo đường mòn cũ, có rất ít cao tăng, và phần lớn
tăng đồ đều không có tri thức, tuy gọi là tu hành mà không
hiểu biết thì làm sao cảm hóa được người khác ? Do vậy,
phẩm chất của tu sĩ bị hạ thấp một cách phổ biến, rồi
lại cộng thêm có sự bài bác của Nho gia, khiến cho dân chúng
đến với Phật giáo càng ngày càng không hiểu Phật giáo
là thế nào.
Đến cuối đời nhà Thanh, nhờ
có những cố gắng của cư sĩ Âu Dương Nhân Sơn, sự hướng
dẫn của đại sư Thái Hư, sự nỗ lực hoằng hóa của các
cao tăng như Âu Dương đại sư, Hoằng Nhất, Hư Vân và các
vị như Âu Dương Tiệm v.v… Phật giáo Trung Quốc đã có
cơ may chuyển biến, thế nhưng vì tệ đoan còn nhiều, thay
đổi một lúc cũng không hết cho nên Phật giáo Trung Hoa kể
cả Phật giáo ở Đài Loan cũng vậy, đến nay cũng đang ở
giai đoạn chuyển mình sơ bộ mà thôi.
Phật giáo Nhật Bản là do từ ở
Trung Hoa và Triều Tiên truyền vào (Phật giáo Triều Tiên cũng
do từ Trung Quốc đến), khoảng sau thế kỷ 6 T. L. Cho nên
về bản chất mà nói, Phật giáo Nhật Bản là thuộc về
mô hình của Phật giáo Trung Quốc. Thế nhưng, do trong những
thế kỷ gần đây, nhờ tiếp xúc và vận dụng phương pháp
nghiên cứu của phương Tây cho nên những thành tích nghiên
cứu Phật pháp theo phương pháp mới ở Nhật, không những
vượt quá Trung Quốc mà còn dẫn đầu cả thế giới nữa.
Đấy là do các học giả Nhật Bản không những nắm được
toàn bộ kho tàng quý báu của Phật giáo Trung Quốc, mà còn
biết dựa vào văn chữ Phạn và văn chữ Pali mà truy tìm nguyên
nghĩa trong Phật giáo cơ bản (nguyên thủy), lại thêm biết
sử dụng phương pháp học tập mới, cho nên họ đạt được
những thành tích huy hoàng trong lĩnh vực nghiên cứu Phật
học. Tuy nhiên Phật giáo Nhật về mặt tu trì và giải thoát,
thì còn xa mới đạt tới lý tưởng trong sáng của các nước
theo Phật giáo Nam truyền.
Vào thế kỷ thứ 9, thứ 10 sau khi
Phật nhập diệt ở Ấn Độ thế lực của Bà la môn giáo
trỗi dậy, đả kích mạnh mẽ không thương tiếc vào Phật
giáo. Phật giáo đồ trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ,
cũng theo thế thượng mà chấp nhận quan niệm về Phạm thiên
của Bà la môn giáo (bây giờ gọi là Ấn Độ giáo), và du
nhập quan niệm đó vào Phật giáo Đại thừa. Đấy là nguyên
nhân làm cho Phật giáo vốn là thanh tịnh, lại pha tạp các
nhân tố mê tín của dân gian thế tục, thậm chí cả đến
thuật nam nữ giao hợp trong phòng kín… Đó là thời kỳ gọi
là Mật giáo đại thừa, thời kỳ thứ ba của Phật giáo
Ấn Độ. Ấn Độ giáo biết tiếp thu nhiều ưu điểm của
đạo Phật, biến thành nhân tố làm cho Ấn Độ giáo trở
nên hưng thịnh, còn Phật giáo lại tiếp thu những tín ngưỡng
hạ cấp của Ấn Độ giáo, biến chúng thành những nhân tố
làm cho nội bộ Phật giáo càng ngày càng hủ bại. Do vậy,
vào khoảng cuối thế kỷ thứ 10, trước hai mũi đả kích
của Ấn Độ giáo và Hồi giáo, vừa mới xâm nhập Ấn Độ,
Phật giáo bị tàn lụi đến tuyệt tích… Thế nhưng, như
tài liệu lịch sử chỉ rõ, từ khi đạo Phật bị tiêu vong
ở Ấn Độ, thì thế lực của cả nước Ấn Độ cũng ngày
một bị suy giảm, đời sống nhân dân càng ngày càng khốn
khổ, đất nước Ấn Độ cũng không còn được thống nhất.
Mãi đến năm 1950, Ấn Độ mới giành lại được độc lập
trong tay bọn thống trị người Anh. Nhưng trên nước Ấn Độ
xưa, nay đã xuất hiện thêm các quốc gia có chủ quyền như
Pakităng và NêPan…
Hiện nay, Phật giáo đồ ở Ấn
Độ, được sự bảo hộ của luật pháp và được sự đối
đãi tốt của chính phủ về chính trị, cho nên đã phát triển
nhanh chóng, từ năm 1951 đến nay. Thế nhưng, trong tổng dân
số hơn 400 triệu người Ấn Độ, Phật giáo đồ chỉ chiếm
một số lượng không đáng kể, từ 10 vạn 8000 người tăng
lên 325 vạn mà thôi. Đó là điều đáng lo ngại, bởi vì
có người tố cáo rằng, Ấn Độ hèn yếu là do tín ngưỡng
Phật giáo.
Phật giáo Tây Tạng tuy có quan hệ
với Trung Hoa, nhưng là do truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ
sang. Phật giáo Tây Tạng tuy cũng là Đại thừa, nhưng chỉ
là một nhánh của mật giáo Đại thừa, do Thượng sư Liên
Hoa Sinh từ bắc Ấn Độ truyền sang. Tây Tạng thời bấy
giờ có nền văn hóa lạc hậu, theo tín ngưỡng đa thần,
cho nên Mật giáo đại thừa thần bí và có nhiều linh nghiệm,
rất được nhân dân Tây Tạng hoan nghênh đặc biệt, bản
thân ngài Liên Hoa Sinh là một vị cao tăng Mật giáo, rất
giỏi pháp thuật thần thông lại càng được người Tây Tạng
hâm mộ. Liên Hoa Sinh vốn là đồng môn với ba cao tăng Mật
giáo đến Trung Hoa vào đời nhà Đường, tức là Thiện Vô
Úy, Kim Cương và Bất Không đều cùng là học trò của Bồ
Tát Long Trí. Vì Liên Hoa Sinh cùng với Phật giáo đồ Tây
Tạng lúc bấy giờ đều mặc áo đỏ, cho nên giáo phái của
họ gọi là Hồng giáo. Đến thời kỳ cuối nhà Nguyên, đầu
nhà Minh, sinh hoạt của tăng sĩ Lạt Ma Hồng giáo rất hủ
bại, do đó mà có đại sư Tô Lạt Ba (Tsong Kha Pa) xuất hiện,
kêu gọi tăng sĩ trở về với nếp sống thanh tịnh, chịu
sự chế tài của Luật Phật. Tông Lạt Ba chủ trương đẩy
mạnh nghiên cứu giáo lý, dùng đạo đức để cảm hóa toàn
dân Tây Tạng. Vì giáo phái ông mặc áo vàng, cho nên gọi
là Hoàng giáo. Mật giáo ở Mông Cổ, Nêpan v.v… đều là
những chi nhánh của Mật giáo Tây Tạng.
Sau khi Phật diệt độ, Phật giáo
Ấn Độ, trên đại thể có thể chia làm ba thời kỳ : Thời
kỳ thứ nhất, từ khi Phật diệt độ cho tới 300 hay 400 năm,
là thời kỳ của Phật giáo Thượng tọa bộ, mà đại biểu
hiện nay là Phật giáo ở các nước như Tích Lan v.v… Thời
kỳ thứ hai, từ 500/600 năm, là thời kỳ của Phật giáo Đại
thừa hiển giáo (tức không phải Mật giáo - hiển là có nghĩa
lý, sách vở chép rõ ràng). Phật giáo các nước hiện nay
như Nhật Bản, Trung Quốc là đại biểu cho Phật giáo Đại
thừa hiển giáo. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ Mật giáo đại
thừa, đại biểu hiện nay là Phật giáo Tây Tạng. Thời kỳ
này bắt đầu từ khoảng 1000 năm sau khi Phật diệt độ.
Hiển giáo thì chú trọng nghĩa lý, văn cú rõ ràng, Mật giáo
thì thiên về giữ gìn nghi thức, trì chú, đặc biệt là tin
tưởng ở sự gia hộ của thần linh.
Nếu diễn đạt một cách khác thì
có thể nói thời kỳ thứ nhất là Phật giáo Thanh văn hóa.
Thời kỳ thứ hai là Phật giáo Bồ Tát hóa. Thời kỳ thứ
ba là Phật giáo Thiên thần hóa. Điều cần thiết hiện nay
là triển khai một thời kỳ thứ tư, thời kỳ Phật giáo
nhân gian hóa.
Phật giáo phương Tây bắt đầu
với triết gia Đức Shopenhauer, tư tưởng ông này mang nặng
sắc thái Ấn Độ, chủ yếu là sắc thái của Áo nghĩa thư
(Upanishads), và của kinh sách Phật giáo thời kỳ đầu. Hiện
nay, các nước Pháp, Anh, Bỉ, Áo, Liên Xô và cả ở Mỹ, Ácgiăng
tin, Ba Tây đều có Phật giáo đồ hoạt động, nhưng Phật
giáo hoạt động mạnh và có tiền đồ nhất là ở hai nước
Đức và Mỹ. Đặc biệt là ở Mỹ, cả Phật giáo Nam truyền,
Bắc truyền và Phật giáo Tây Tạng đều có hoạt động.
Nhưng nếu nói chung cả hai châu Âu và châu Mỹ, và đứng
về mặt nội dung văn hóa mà nói thì Phật giáo Nam truyền
chiếm ưu thế. Đây là do, từ năm 1505 đến năm 1947, Tích
Lan lần lượt bị Bồ Đào Nha, rồi Ha Lan và nước Anh chiếm
làm thuộc địa, và Tăng sĩ Tích Lan dùng các nước phương
Tây này như cái cầu để qua phương Tây truyền giáo, còn
Phật giáo Đại thừa ảnh hưởng tới các nước Âu Mỹ là
công lao chủ yếu của người Nhật Bản. Trong những thế
kỷ gần đây, công việc truyền bá nền văn hóa Phật giáo
Trung Quốc ra nước ngoài, lạc hậu rất nhiều so với các
nước khác, thậm chí so với Tây Tạng cũng còn thua kém. Hiện
nay Hoa kiều ở Mỹ tuy nói là tin theo đại thừa Phật giáo,
nhưng lại không hiểu giáo lý của đại thừa Phật giáo là
gì !
9.
GIÁO LÝ CĂN BẢN CỦA ĐẠO PHẬT LÀ GÌ 
Kinh sách Phật rất nhiều, đó là
điều ai nấy đều biết, vì vậy mà cho đến hiện nay, cũng
không sách nào chỉ rõ, bộ kinh nào hay, bộ kinh nào là tiêu
biểu cho đạo Phật. Ở Trung Quốc, sở dĩ có nhiều tông
phái xuất hiện, nói chung là do lập trường của các tông
phái suy tôn các bộ kinh luận nào là căn bản đối với họ.
Thế nhưng, giáo lý đạo Phật có
một nguyên tắc căn bản, do đức Thích Ca Thế Tôn chứng
ngộ, đó là đạo lý duyên sinh chi phối vũ trụ và nhân sinh.
Duyên sinh là do nhân duyên sinh ra.
Các hiện tượng vũ trụ và nhân sinh đều do nhiều mối quan
hệ kết hợp với nhau mà sinh ra. Thí dụ, một thiên văn chương,
giải thích một số vấn đề có liên quan đến Phật giáo,
mà đến được tay độc giả, xem ra có vẻ giản đơn nhưng
thực ra, là do những quan hệ nhân duyên cực kỳ phức tạp
: Nguồn gốc của văn tự, tu dưỡng viết văn, hấp thu và
tích lũy tri thức, nhiệt tình và kiến giải của tác giả,
lại thêm sự chế tạo và sử dụng văn phòng phẩm, việc
hiệu đính và in ấn bản thảo, việc ký gửi sách qua bưu
điện, cuối cùng lại phải tính đến hứng thú và tinh thần
của độc giả, mới gọi là hoàn thành nhiệm vụ chuyển
tác phẩm từ tay tác giả đến tay người đọc. Quan hệ nhân
duyên, trong ví dụ nêu ra trên đây là khá thô thiển và dễ
thấy; nếu khảo sát thêm một bước nữa thì mỗi một quan
hệ lại kéo theo nhiều mối quan hệ khác. Hiện tượng quan
hệ này liên quan đến quan hệ khác, tức là nhân duyên. Một
sự việc xuất hiện là do nhân duyên hội tụ. Sự vật tiêu
vong là do nhân duyên ly tán. Như vậy gọi là duyên sinh, duyên
diệt.
Chính vì vạn sự vạn vật trong
vũ trụ đều là duyên sinh duyên diệt, đều biến hóa vô
thường, cho nên tất cả mọi hiện tượng đều là hư huyễn,
tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ
thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không
phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng, thì
là không giả. Phật giáo gọi đó là "duyên sinh tính không".
Phật giáo sở dĩ bị người ta
đánh giá là cửa không (không môn), chính là vì lẽ đó. Thế
nhưng, đối với nghĩa không của đạo Phật, người ta lại
hiểu lầm rất nhiều. Bởi vì "không" của đạo Phật có
nghĩa là không có sự vật nào là cố định, không biến đổi;
sự vật đó không phải "thực tại" chứ không phải là không
tồn tại. Đại đa số người đều cho rằng không có
nghĩa là không có gì hết. Thực ra, Phật giáo thông qua sự
phân tích quan hệ duyên sinh mà giải thích đạo lý "không
có thực thể". Cũng như một chiếc xe hơi, nếu lấy con mắt
của nhà hóa học mà phân tích thì chiếc xe hơi là "không
thực tại". Chiếc xe hơi là do một số nguyên tố và quan
hệ kết hợp lại mà thành. Nhưng, xét trên hiện tượng,
khi chiếc xe hơi còn chưa bị thải bỏ, chưa bị đưa vào
lò để nấu lại, thì chiếc xe hơi vẫn là chiếc xe hơi.
Do đó, khi Phật giáo giảng lý "duyên
sinh tính không" là chú trọng mặt phân tích bản chất mà
nói, để cảnh tỉnh chúng ta đang sống trong cảnh giới hư
vọng, đừng có bị danh lợi vật dục làm cho mê hoặc, biến
thành vật hy sinh của danh lợi vật dục. Như vậy gọi là
xem xét để phá bỏ, để phóng hạ. Cái xem xét để phá bỏ
là hiện tượng hư huyễn. Cái cần phóng hạ (buông bỏ) là
lòng tham danh, lợi, vật dục, chứ không phải phủ định
sự tồn tại của hiện tượng. Vì vậy, Phật giáo tuy nói
bản thể là không, nhưng vẫn không thể tồn tại tách rời
khỏi hiện tượng hư huyễn được. Bởi nếu chưa có khả
năng giải thoát khỏi sinh tử, thì vẫn nằm trong vòng tạo
tác và chịu báo của nghiệp lực. Nghiệp lực tuy cũng là
hư huyễn nhưng vẫn có khả năng lôi kéo sinh mạng tiến hay
thoái trong các cõi sống, được vui hay chịu khổ.
Ở đây, không được quên rằng,
tất cả mọi hiện tượng hư huyễn, đều do nghiệp lực
của chúng sinh cảm hóa mà hình thành; do vậy, nếu thấu rõ
được đạo lý duyên sinh tính không, thì sẽ không còn bị
huyễn cảnh mê hoặc, không còn bị cái huyễn cảnh lôi kéo
chi phối, sẽ được tự do, tự tại. Đó tức là giải thoát
khỏi sinh tử. Một con người không còn bị ngoại cảnh chi
phối, trói buộc, thì người đó sẽ không còn tạo nghiệp
dẫn tới sinh tử, mà có thể giải thoát khỏi sinh tử, tự
chủ đối với sinh tử.
Đó tức là giáo lý căn bản của
đạo Phật.
10. GIÁO
ĐIỀU CĂN BẢN
CỦA ĐẠO
PHẬT LÀ GÌ 
Đứng về nguyên tắc mà nói, đạo
Phật không có giáo điều nếu nói có giáo điều thì đó
là giới luật.
Thế nhưng, giới luật của đạo
Phật không phải xuất phát từ mệnh lệnh, từ ý chí của
Thần Thánh như ở các tôn giáo khác, vì vậy cũng không có
bao hàm tính chất thần bí như ở các tôn giáo khác. Giới
luật của đạo Phật, dựa vào yêu cầu của chân lý, và
có tính chất đơn thuần lý tính.
Giới luật căn bản của đạo Phật
là 5 giới, 10 điều thiện, 8 giới, và 10 giới của người
xuất gia, giới luật của Tỷ khiêu, Tỷ khiêu ni, ngoài ra
lại còn có giới luật bồ tát của đại thừa. Nhưng tất
cả đều lấy 5 giới 10 thiện làm nền tảng. Các giới luật
khác đều chỉ dựa vào 5 giới 10 thiện mà nâng cao lên hay
là phân biệt chi tiết thêm mà thôi. Vì vậy, nếu giữ gìn
được hoàn thiện 5 giới, 10 thiện, thì chấp hành các giới
luật khác sẽ cũng không khó khăn gì lắm.
Năm giới là : không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
Mười thiện là dựa trên 5 giới
rồi mở rộng, đi sâu thêm, đồng thời ngăn làm ác và khuyến
khích làm điều thiện. Nay lập biểu đồ như sau :
NĂM GIỚI
1. Không sát sinh : từ bỏ sát sinh
tức cứu sinh
2. Không trộm cắp : từ bỏ trộm
cắp tức bố thí
3. Không tà dâm : từ bỏ tà hạnh
tức giữ phẩm hạnh
3 thiện nghiệp về thân
4 thiện nghiệp về khẩu
3 thiện nghiệp về ý
= 10 thiện nghiệp.
Nói tóm lại, yêu cầu của đạo
Phật về mặt giới luật là tránh mọi điều ác, làm mọi
điều lành. Phàm tất cả những việc gì có hại đối với
thân tâm, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại, cho đến
tất cả mọi loại hữu tình, đều năm trong phạm vi cấm
đoán của 5 giới, 10 thiện, và chúng ta gắng hết sức tránh
không làm. Nếu không có hại mà có lợi thì ra sức làm. Làm
ác là phạm giới, không làm điều thiện cũng là phạm giới.
Thế nhưng, Phật giáo là soi sáng.
Nếu phạm giới mà không biết thì tuy có làm mà không phải
là phá giới. Nếu vô tâm mà phạm giới, thì tuy là có phạm
đấy nhưng không mắc tội phá giới. Nếu cố ý phạm giới,
thì dù có không phá giới cũng vẫn mắc tội. Nếu phụ nữ
bị cưỡng dâm, chỉ miễn là không cảm thấy khoái lạc của
dâm dục, thì tuy là bị làm nhục cũng không phải là phạm
giới, cũng vẫn là trong sạch. Phạm giới phải có đủ ba
điều kiện tâm, cảnh, sự, mới gọi là mắc tội phá giới.
11. TIN
ĐẠO PHẬT CÓ PHẢI ĂN CHAY KHÔNG 
Không phải. Tuy đạo Phật khuyến
khích ăn chay, nhưng không phải Phật tử nào cũng bắt buộc
phải ăn chay. Ăn chay là một nét đặc sắc của Phật giáo
đại thừa, là phát xuất từ lòng từ bi đối với tất cả
mọi loài hữu tình. Vì vậy, ở các nước Phật giáo Nam truyền,
kể cả Tỷ khiêu xuất gia cũng không ăn chay. Các Lạt Ma ở
Tây Tạng cũng không ăn chay. Nhưng bản thân họ không sát
sinh.
Bởi vì, điều giới thứ nhất
của 5 giới là không sát sinh. Sau khi tin Phật mà thực hành
việc ăn chay là chuyện tốt nhất. Nhưng vì có khó khăn về
gia đình và xã giao mà không ăn chay được cũng không sao.
Thế nhưng, không được tự mình sát sinh hay là chỉ huy người
khác sát sinh. Còn nếu mua thịt, cá về nhà ăn thì không có
hại gì.
12.
THÁI ĐỘ CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI UỐNG RƯỢU, HÚT THUỐC
VÀ CỜ BẠC NHƯ THẾ NÀO 
Trong giới luật nhà Phật, không
có giới cấm hút thuốc. Thậm chí, để phòng ngừa các loại
bệnh nhiệt đới. Phật cũng cho phép Tỷ khiêu hút thuốc.
Thế nhưng, vì lý do phong tục và uy nghi, Phật giáo đồ Trung
Quốc trước nay vẫn chủ trương không hút thuốc. Tuy vậy,
các loại ma túy và các chất kích thích, có hại cho thân tâm,
Phật giáo đều cấm chỉ, vì vậy cấm uống rượu là một
trong 5 giới. Bản thân uống rượu không phải là tội ác;
nhưng sau khi say rượu, con người có thể bị kích thích làm
các tội ác. Từ đó suy ra thì biết, Phật giáo cũng cấm
không được hút thuốc phiện, dùng cocain. Cờ bạc có tác
dụng xấu hao thần, tốn của, khuynh gia, bại sản, cho nên
trong kinh Phật, có răn Phật tử không được cờ bạc (Kinh
Thiện sinh - Trường A Hàm). Đồng thời bản thân cờ bạc
là một hành vi bịp bợm. Thậm chí, cờ bạc dẫn tới các
tội ác như giết người, trộm cắp, phỉ bảng, nói ác v.v…
Vì vậy Phật giáo tuyệt đối cấm chỉ cờ bạc.
13.
TIN PHẬT GIÁO CÓ PHẢI XUẤT GIA HAY KHÔNG 
Không phải. Tôn chỉ của đạo
Phật tuy là giải thoát khỏi sinh tử và xuất gia là phương
pháp tốt nhất để thoát khỏi sinh tử. Thế nhưng, xuất
gia mà không thực tu, hay là tu không đúng phép thì vị tất
thoát khỏi sinh tử. Không xuất gia, mà vẫn tu trì thì vị
tất không thoát khỏi được sinh tử. Phật giáo Tiểu thừa
coi trọng mục tiêu giải thoát. Người tại gia có thể tu
chứng quả Thánh thứ ba (đệ tam quả). Quả thứ ba tuy chưa
phải là ra khỏi ba giới, nhưng không trở lại luân hồi sinh
tử nữa. Người chứng quả Thánh thứ ba, sau khi chết, sẽ
sinh lên cõi trời Tịnh cư thiên của Sắc giới, và
ở đó, sẽ chứng quả Thánh thứ tư là A La Hán và được
giải thoát. Vì vậy, người tại gia tu chứng quả Thánh thứ
ba, cũng đã gần với cảnh giới giải thoát rồi.
Còn nếu đứng trên quan điểm Đại
thừa mà xét thì để hóa độ chúng sinh, các vị Bồ tát
tùy theo loại chúng sinh mà ứng hiện, thường làm người
tại gia. Vì vậy mà trong số các vị đại bồ tát danh tiếng,
ngoài 2 ngài Di Lặc và Địa Tạng, còn thì đều là người
tại gia. Ở Ấn Độ có hai vị cư sĩ là Trưởng Lão Duy Ma
Cật và phu nhân Thắng Man, đều có thể thay Phật mà thuyết
pháp. Vì vậy những Phật tử thực hành đạo Bồ Tát chân
chính, không nhất định phải xuất gia. Người xuất gia có
địa vị cao quý trong Phật giáo, đó là vì lý do người xuất
gia phải chủ trì giáo đoàn, giữ vững cho Phật giáo tồn
tại và hoằng dương Phật pháp. Ngoài ra, còn có lý do ứng
xử đạo đức trong nội bộ giáo đoàn nữa. Nói một cách
khác rõ ràng hơn, tăng ni xuất gia là xương tủy của Phật
giáo, người tại gia là da thịt của Phật giáo. Đừng về
bản thể thì nói xuất gia là quan trọng, đứng về tác dụng
thì nói tại gia là quan trọng. Vì vậy, người tin Phật có
thể xuất gia, nhưng không phải bắt buộc phải xuất gia.
14. TÍN
ĐỒ ĐẠO PHẬT CÓ MẤY ĐẲNG CẤP 
Đứng về bản chất mà nói, đạo
Phật chủ trương bình đẳng. Người nào cũng có quyền lợi
tin Phật, người nào cũng có khả năng thành Phật. Thế nhưng,
xét về thứ bậc tu hành mà nói, và vì trì giới luật có
cao thấp khác nhau, nghe đạo có sau trước khác nhau, cho nên
nam nữ Phật giáo đồ chia thành chín cấp bậc như sau :
Cận sự nam, cận sự nữ, cận
trụ nam, cận trụ nữ, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỷ khiêu,
Tỷ khiêu ni.
Nam nữ thụ tam quy, ngũ giới (thập
thiện) gọi là cận sự nam, cận sự nữ. Người tại gia
mà giữ tám giới và ở trong chùa, gọi là cận trụ nam, cận
trụ nữ. Nam nữ xuất gia giữ 10 giới gọi là Sa di và Sa
di ni. Nam nữ xuất gia giữ đầy đủ giới luật (cụ túc)
gọi là Tỷ khiêu và Tỷ khiêu ni. Thức xoa ma na là cấp trung
gian giữa Sa di ni và Tỷ khiêu ni. Thời gian làm Thức xoa ma
na kéo dài 2 năm. Mục đích là để xét xem Sa di ni có khả
năng trở thành tỷ khiêu ni hay không và đã quen với nếp
sống xuất gia hay chưa ?
Còn người đã thụ Bồ tát giới
thì không thể xếp loại đẳng cấp được. Bất cứ người
ở đẳng cấp nào và kể cả loại bàng sinh nữa, đều có
thể thụ trì Bồ tát giới.
15. TRỞ
THÀNH MỘT TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO
NHƯ THẾ NÀO 
Các giáo phái cũ hay mới của đạo
Thiên Chúa đều coi trọng lễ rửa tội. Có chịu lễ rửa
tội mới được trở thành tín đồ của đạo Thiên chúa.
Cũng tương tự như các ngoại đạo ở Ấn Độ coi trọng
việc tắm rửa ở sông Thánh (sông Hằng) để xóa bỏ mọi
tội ác.
Muốn trở thành Phật tử, muốn
gia nhập Phật giáo chính tín, thì phải qua nghi thức "Ba quy
y" (tam quy). Tính quan trọng của nghi thức này cũng giống như
các nghi thức đăng quang của vua, nhậm chức của Tổng thống,
vào đảng của đảng viên. Là một loại nghi thức bày tỏ
sự trung thành, một sự chấp nhận tha thiết, một sự mong
cầu khao khát, một sự chuyển đổi mới, một sự quy ngưỡng
chân thành. Vì vậy mà Phật giáo xem lễ quy y là cực kỳ
trọng yếu. Nếu không có quy y thì tuy là có lễ Phật tin
Phật, nhưng chỉ là một loại học sinh dự thính, không phải
là học sinh chính khóa. Nghi thức quy y có một tác dụng rất
lớn đối với tâm lý tín ngưỡng có kiên định hay không
kiên định.
Trong nghi thức tam quy có mời một
vị Tăng hay Ni làm chứng và thuyết minh nội dung của ba quy
y như sau :
Con là … suốt đời xin quy y Phật,
suốt đời xin quy y Pháp, suốt đời xin quy y Tăng (đọc ba
lần).
Con là … quy y Phật rồi, dù có
bỏ thân mạng này, cũng không quy y thiên ma ngoại đạo.
Con là … quy y Pháp rồi, dù có
bỏ thân mạng này, cũng không quy y ngoại đạo tà thuyết.
Con là … quy y Tăng rồi, dù có
bỏ thân mạng này, cũng không quy y tà sư ngoại đạo.
Nghi thức tam quy giản đơn nhưng
long trọng, mục đích chủ yếu là làm cho người tín đồ
mới toàn tâm, ý quy y Tam Bảo, nương tựa vào Tam Bảo, có
được niềm tin trong sáng và vững vàng. Phật là Phật Đà,
Pháp là lời dạy của Phật, Tăng là người xuất gia, hoằng
dương Phật Pháp. Nhờ nương tựa vào ba đối tượng lớn
đó mà ngay hiện tại được thân tâm an lạc, sau này được
chứng quả vô thượng là giải thoát sinh tử và thành Phật.
Vì vậy gọi là Ba ngôi báu (Tam Bảo), và tín ngưỡng Phật
giáo có nghĩa là quy y ba ngôi báu.
16. PHẬT
TỬ VÌ SAO LẠI PHẢI TÍN NGƯỠNG TAM BẢO 
Đúng vậy, tín ngưỡng Tam Bảo
là nội dung rất riêng biệt của Phật giáo. Các tôn giáo
thần quyền, hoặc là chỉ tin Thượng đế, (như đạo Do Thái,
đạo Hồi), hoặc là tin chúa cha, chúa con và chúa Thánh Linh
(như đạo Cơ Đốc) hoặc là sùng bái thêm Thánh Mẫu nữa
(như Đạo Thiên Chúa). Phật giáo vì là vô thần, cho nên không
sùng bái Phật như Thần linh, cũng không xem Phật là có một
không hai, lại càng không xem Phật là chúa sáng tạo vạn vật
và xá miễn tội ác cho nhân loại. Phật giáo xem Phật cũng
như học sinh đối với thầy giáo. Thầy giáo có thể dạy
học sinh, giúp học sinh thay đổi phẩm cách, tăng trưởng
tri thức, tu dưỡng thân tâm, nhưng không thể học tập thay
cho học sinh, lên lớp, nghe giảng thay cho học sinh được.
Vì vậy, tín ngưỡng Phật giáo
mang tính chất thuần lý tính, thuần luân lý. Sự sùng bái
Phật Đà giống như lòng hiếu kính của con cái đối với
cha mẹ, xuất phát từ lòng biết ơn. Một Phật tử chính
tín, sùng bái Phật, quyết không phải là để được phúc
tránh họa, nguyện lực của Phật có thể do sức mạnh tâm
lý của người cầu nguyện mà phát sinh cảm ứng linh nghiệm,
nhưng đó chủ yếu là do bản thân người cầu nguyện. Nếu
định nghiệp của mình đã chín muồi và hiện hành thì dù
có cầu nguyện mấy, Phật cũng không làm gì được. Nếu
biết dựa vào chính Pháp của Phật giảng mà hành động,
như bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, nỗ lực, tu định, phát
huệ thì có khả năng thay đổi nghiệp lực quá khứ, tội
nặng nhưng chịu quả báo nhẹ; tội nhẹ thì được khỏi
quả báo; bởi vì, nghiệp lực hiện hành thụ báo, cũng giống
như hạt giống nẩy mầm và sinh trưởng, phải nhờ vào sự
hỗ trợ của nhiều nhân duyên. Một hạt giống nhờ có các
điều kiện thuận lợi như ánh nắng, không khí, nước, đất,
phân bón và công phu của nhà nông, mà sinh trưởng nhanh chóng.
Trái lại, nếu thiếu những trợ duyên đó hay thậm chí không
có những trợ duyên đó thì hạt giống sẽ sinh trưởng chậm,
thậm chí không nẩy mầm được. Phật giáo xem việc tạo
nghiệp thiện, ác và thụ báo cũng theo một đạo lý như vậy.
Tính vĩ đại của đức Phật không phải ở chỗ Phật tạo
ra vạn vật và xá tội cho chúng sinh. Vì về căn bản, không
có ai xá tội cho ai được - Quan niệm xá tội của tôn giáo
thần quyền chỉ là sản vật hỗn hợp của thần quyền và
độc tài. Đức Phật tự mình đã chứng ngộ đạo lý giải
thoát và đem đạo lý giải thoát đó giảng cho mọi chúng
sinh đều rõ, dựa vào đạo lý ấy mà tu hành và cũng được
giải thoát, đạt tới quả vị Phật, không khác gì Phật.
Vì vậy mà tín đồ Phật giáo,
đôi khi không ưa gọi mình là Phật giáo đồ, mà ưa tự xưng
là học trò Tam Bảo ! Bởi vì người khai sáng ra Phật giáo
tuy là đức Phật, nhưng điều mà Phật giáo coi trọng là
Pháp chứ không phải là Phật. Vì Phật không thể giải thoát
thay cho người được, còn Pháp thì có thể giúp cho người
tự giải thoát. Sùng bái Phật là sùng bái ân đức của Phật
đã chứng ngộ và thuyết pháp. Đức Phật, trải qua ba vô
lượng kiếp, tu hành đạo Bồ Tát mà chứng ngộ được đạo
lý giải thoát, và sau khi chứng ngộ, đã thuyết giảng tường
tận đạo lý ấy cho chúng ta. Ân đức ấy có thể nói là
vĩ đại và cao quý hơn hàng nghìn trăm vạn lần ân đức
thế gian, mà không chỉ là hơn trăm vạn lần, thực ra ân
đức ấy không thể ví dụ được, nghĩ bàn được.
Thế nhưng, sự truyền bá Phật
Pháp, lại phải dựa vào các cán bộ của Phật, tức là tăng
sĩ. Trong hàng tăng sĩ có Bồ tát tăng như Văn Thù, Di Lặc,
Quan Âm, Địa Tạng v.v… có Thanh Văn tăng như các vị A La
Hán : Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp v.v…, có
phàm phu Tăng như tất cả mọi Tỷ khiêu, Tỷ khiêu ni, giữ
giới thanh tịnh, tu học chính pháp và thuyết pháp độ sinh.
Vì tăng si có khả năng đem đạo lý giải thoát của Phật,
giảng giải truyền bá cho chúng ta, cho nên ân đức của tăng
sĩ cũng là vô lượng.
Việc hoằng dương Phật Pháp không
phải là sự nghiệp của riêng tăng sĩ. Phật tử tại gia
cũng hoằng dương Phật Pháp; trụ trì Phật Pháp thì phải
là người xuất gia, nói trụ trì Phật Pháp có nghĩa là đại
biểu cho Phật Pháp, tượng trưng cho Phật Pháp, khiến Phật
Pháp an trụ được ở thế gian này. Người bình thường,
gặp một người xuất gia thì liên tưởng ngay đến Phật
giáo, nhưng nếu gặp một Phật tử tại gia thì không có ngay
ấn tượng đó (trừ phi là người Phật tử tự mình nói
ra, nhưng ít có trường hợp Phật tử tự xưng mình là Phật
tử, khi gặp một người lạ).
Vì vậy, khai sáng ra Phật giáo là
Phật Đà. Trọng tâm của Phật giáo là Pháp. Phật giáo an
trụ ở thế gian là tăng chúng. Chính vì lẽ đó mà Phật
giáo gọi Phật, Pháp, Tăng là ba của báu. Tam Bảo, chủ yếu
là Pháp bảo, giúp cho người lìa khổ được vui. Pháp bảo
do Phật tự chứng và thuyết giảng, và do tăng chúng giữ
gìn truyền bá, cho nên đều gọi là Tam Bảo. Khi Phật còn
sống, Phật giáo lấy Phật làm trung tâm, làm nơi quy ngưỡng.
Sau khi Phật diệt độ, Phật giáo lấy tăng chúng làm trung
tâm làm nơi quy ngưỡng. Quy y Tam Bảo là để học Pháp bảo.
Muốn học Pháp bảo thì phải được Tăng bảo hướng dẫn,
kể cả 2 mặt trao truyền tư tưởng và nêu gương sáng trong
hành vi. Vì vậy mà sau khi Phật diệt độ, đối tượng cúng
dường Tam Bảo nặng về Tăng Bảo. Lại vì Phật giáo chủ
trương "Y pháp bất y nhân" (dựa vào pháp, không dựa vào người)
coi trọng việc truyền bá và quy y Phật Pháp, cho nên thường
xem hành vi sinh hoạt của tăng sĩ là chuyện cá nhân của họ.
Chỉ miễn là tăng sĩ có kiến giải đúng đắn, có khả năng
thuyết pháp, thì dù có phạm cấm giới, cũng vẫn được
người thế tục cung kính cúng dường. Đó là yêu cầu về
mặt đạo đức, cũng như câu "Trong thiên hạ, không ai là
không phải cha mẹ chúng ta". Cũng như ông thầy dạy tiểu
học, chưa từng học đại học, nhưng học sinh tốt nghiệp
đại học không thể phủ nhận ông thầy xưa của mình ở
cấp tiểu học.
Vì vậy, đối với một Phật tử
chính tín, sùng bái Phật bảo là vì Pháp bảo; và để tiếp
thu được Pháp bảo thì phải sùng bái Tăng bảo. Sùng bái
Bồ tát cũng là cung kính đối với Tăng. Đối với các bậc
Thánh tăng Đại Bồ tát, tất nhiên phải cung kính cúng dường.
Đối với phàm phu tăng có trì giới thanh tịnh và biết thuyết
pháp cũng phải cung kính, cúng dường. Ngay đối với những
tăng sĩ không giữ giới thanh tịnh, nhưng có kiến giải đúng
đắn, biết thuyết pháp cũng phải cung kính cúng dường (vì
điều quan trọng là có kiến giải đúng đắn và biết nói
chính pháp). Sự thực, trong thời đại cách Phật diệt độ
đã xa, Thánh Tăng rất khó gặp. Đối tượng kính tăng thường
là phàm phu tăng, tỷ khiêu và tỷ khiêu ni. Trong kinh cũng nói
cúng dường Thánh Tăng và cúng dường phàm phu Tăng không có
khác biệt, đều có công đức vô lượng, không thể nghĩ
bàn được.
Phật giáo tuy là cao minh vĩ đại,
nhưng hai chữ "Tam Bảo" có thể bao quát hết. Do đó, tin Phật
giáo tức là tin Tam Bảo, kính ngưỡng Tăng bảo. Vào thời
Phật còn tại thế hay hiện nay, ở các nước như Thái Lan,
Miến Điện, Tích Lan được xem là chuyện đương nhiên. Nhưng,
ở Phật giáo Trung Quốc, quan niệm kính tăng trước nay chưa
hình thành một tập tục phổ biến, do phẩm cách của tăng
ni không đồng đều, cao tăng chỉ chiếm số ít trong tăng
chúng mà thôi. Người lớp trên thì kính trọng đạo đức
và học vấn của cao tăng. Người lớp dưới thì mù quáng
sùng bái cao tăng như thần linh. Do tập tục kính ngưỡng cao
tăng, cho nên sinh ra tệ nạn có một số tăng sĩ, giả dối
và làm chuyện bậy bạ, vẫn được sùng bái như thần linh.
Đó là những quan niệm đòi hỏi phải gấp được sửa đổi,
làm một Phật tử chính tín thì không được có quan niệm
như vậy (chú 2).
