1.
LỜI GIỚI THIỆU
Sau khi cho xuất bản quyển sách
"Học Phật quần nghi", Phân viện Nghiên cứu Phật học cho
in tiếp quyển "Phật giáo chính tín" của cùng tác giả là
Pháp sư Thánh Nghiêm, một Hòa thượng - học giả nổi tiếng
người Trung Quốc. Ngài sinh năm 1930 ở Giang Tô, đỗ tiến
sĩ ở Đại học Tokyo năm 1975, sáng lập Viện Nghiên cứu
Phật học Trung Quốc năm 1985. Cũng như trong "Học Phật quần
nghi", ở quyển sách này, tác giả cũng dùng hình thức hỏi
và đáp để trình bày ý kiến của mình. Qua các vấn đề
được đặt ra và lời giải đáp, tác giả muốn chứng minh
Phật giáo là chính tín chứ không phải là mê tín. Đó là
một mục tiêu tốt đẹp mà tất cả Tăng Ni cũng như những
người muốn nghiên cứu Phật giáo đều mong muốn hiểu biết,
nhưng sự chứng minh đó đủ sức thuyết phục hay không thì
còn tùy ở nhận thức của độc giả.
Dầu sao, chúng tôi cũng nhận thấy
rằng trong tập sách này, tác giả đã đặt ra được những
vấn đề khá cơ bản của Phật giáo. Nhưng nếu trong "Học
Phật quần nghi", các vấn đề Phật giáo có tính chất phổ
thông hơn, thì trong quyển sách này, bên cạnh những vấn đề
phổ thông như các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia
đình, có nhiều vấn đề có ý nghĩa thâm thúy về bản thể
luận và nhận thức luận. Vì vậy, đọc quyển sách này,
chúng ta sẽ có những hiểu biết cao hơn, sâu sắc hơn về
Phật giáo.
Tuy nhiên, có một điểm cần chú
ý là khi viết quyển sách này, tác giả nhằm vào độc giả
người Trung Quốc. Vì vậy, Phật giáo được trình bày ở
đây, không những là theo kiến giải riêng trên lập trường
Đại Thừa của tác giả, mà còn được đặt trong bối cảnh
văn hóa - xã hội Trung Quốc, dĩ nhiên là khác với Việt Nam.
Nhưng chúng ta đều biết rằng giữa xã hội Việt Nam và Trung
Quốc, có không ít những điểm gần gũi với nhau, cho nên
phần lớn lời giải đáp của tác giả quả là rất hứng
thú và bổ ích đối với độc giả Việt Nam.
Trong quyển sách này, tác giả cũng
đã đi sâu vào một số vấn đề liên quan đến lịch sử
Phật giáo, đặc biệt là lịch sử Phật giáo Trung Quốc,
chẳng hạn phần nói về các tông phái Phật giáo. Những phần
này rõ ràng là rất cần đối với những nhà nghiên cứu
Phật học Việt Nam.
Tóm lại " Phật giáo chính tín"
là, một quyển sách vừa dễ hiểu, vừa sâu sắc, có thể
đáp ứng nhu cầu hiểu biết về Phật giáo của quần chúng
rộng rãi, đồng thời có thể đáp ứng yêu cầu nghiên cứu
sâu của giới Phật học.
Viết được một quyển sách đồng
thời đáp ứng được cả hai yêu cầu như vậy, Pháp sư Thánh
Nghiêm đã khiến chúng ta ngưỡng mộ trình độ uyên thâm
và quảng bác về Phật giáo của Ngài.
Chính vì những lẽ trên mà Phân
viện Nghiên cứu Phật học đã cho phiên dịch và xuất bản
tập sách này. Trong lúc vội vàng, hẳn là bản dịch còn nhiều
sai sót, kính mong tác giả và độc giả lượng thứ và chỉ
chính cho.
Xin trân trọng giới thiệu quyển
sách với chư vị Tôn túc, Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử cùng quý
vị độc giả trong và ngoài giáo hội.
-
Giáo
sư HÀ VĂN TẤN
-
Phân
viện phó Phân viện Nghiên cứu Phật học
2. PHẬT
GIÁO CHÍNH TÍN LÀ GÌ
Nội dung cơ bản của Phật giáo,
ở đâu cũng là một, mãi mãi vẫn là một. Phật giáo bắt
nguồn từ đức Phật là bậc đại giác, tức là từ biển
lớn trí tuệ và từ bi của đức Thích Ca Thế Tôn. Phật
giáo tràn đầy trí tuệ, tràn đầy lòng nhân từ, tràn đầy
ánh sáng và sự mát mẻ, sự yên ổn. Phật giáo chính là
giáo lý như vậy và hình thức giáo đoàn xây dựng trên một
niềm tin vào một giáo lý như vậy gọi là Phật giáo.
Chính tín là niềm tin chân chính,
chính xác, là sự tin hiểu chính thống, là sự tin tưởng
và hành trì ngay thẳng, là sự tin tưởng và nương tựa đúng
đắn. Nội dung của chính tín phải bao gồm ba điều kiện
chủ yếu : Thứ nhất là phải có tính vĩnh cửu. Thứ hai
là phải có tính phổ biến. Thứ ba là phải có tính tất
nhiên. Nói cách khác, tức là, quá khứ trước đây là như
vậy, thì hiện tại ở đâu cũng là như vậy và tương lai
cũng sẽ là như vậy. Phàm niềm tin vào một đạo lý hay một
sự việc gì mà không chịu đựng nổi sự thử thách của
ba điều kiện cơ bản nói trên thì không phải là chính tín,
mà là mê tín. Giáo lý của một tôn giáo, mà không chịu đựng
nổi sự khảo nghiệm của thời đại, của hoàn cảnh, không
dẫn tới một cảnh giới mới và tốt đẹp, thì đó là mê
tín, không phải chính tín.
Thế nhưng, phải nói rằng, nền
Phật giáo chính tín, tại các vùng có lưu hành Phật giáo
Đại Thừa, nhất là ở Trung Quốc, đã trở thành sở hữu
riêng của những cao tăng ở ẩn trên núi, và của một số
ít nhân sĩ trí thức. Còn ở trong dân gian, thì Phật giáo
chính tín đến nay vẫn chưa phổ cập được. Dân chúng nói
chung, trong cuộc sống của mình, có một quan niệm tín ngưỡng
pha tạp cả ba giáo Nho, Phật, Lão. Thí dụ, như việc sùng
bái quỷ thần hay là niềm tin người chết biến thành quỷ,
không thể là sản vật của Phật giáo.
3. ĐỨC
PHẬT CÓ PHẢI LÀ CHÚA SÁNG THẾ KHÔNG 
Không phải. Phật giáo chính tín
không có quan niệm Chúa sáng thế. Đức Phật là bậc giác
ngộ trong nhân gian, Ngài tuy thấu rõ tất cả mọi nguyên lý
của thế gian này, nhưng Ngài lại không thể thay đổi trạng
thái vốn có của thế gian này. Đức Phật có thể hóa độ
chúng sinh, nhưng chúng sinh có được hóa độ hay không, còn
phải do bản thân chúng sinh, tự mình nỗ lực mới được.
Đức Phật là vị thầy thuốc giỏi nhất, có thể chẩn đoán
bệnh khổ của chúng sinh và cho thuốc. Nếu uống thuốc của
Phật cho, thế nào chúng sinh cũng khỏi bệnh. Nhưng nếu không
chịu uống thuốc, thì đức Phật cũng chịu bó tay. Đức
Phật là người hướng đạo giỏi nhất, có thể hướng dẫn
chúng sinh vượt ra ngoài biển khổ, nếu chúng sinh chịu để
cho Phật hướng dẫn thì thế nào cũng được độ, nhưng
nếu không chịu, thì đức Phật cũng chỉ biết thương mà
không thể làm gì được.
Do đó, đức Phật không phải có
địa vị Chúa sáng thế, cũng không muốn quần chúng sùng
bái Ngài trên hình thức. Nếu thực hành được những lời
dạy của Phật, thì cũng không khác gì thấy Phật, kính lễ
Phật. Bằng không thì tuy thấy Phật trước mặt đó, cũng
không khác gì không thấy Phật.
Như vậy, đức Phật đã không phải
là Chúa sáng thế, cũng không phải là một ông Thần chủ
tể. Đức Phật chỉ có thể dạy cho chúng sinh phương pháp
thoát khổ được vui. Đức Phật tuy bản thân mình đã thoát
khổ được vui, nhưng không thể thoát khổ và được vui thay
cho chúng sinh.
Đức Phật là nhà giáo dục vĩ
đại, là bậc đạo sư cho loài Người và loài Trời, nhưng
không phải là nhà huyễn thuật hay ma thuật, và Ngài không
thể mị dân với khẩu hiệu "chuộc tội thay cho chúng sinh".
Ngài dạy rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm
đối với bản thân mình : "Trồng dưa thì được dưa, trồng
đậu thì được đậu".
4.
ĐỨC PHẬT LÀ GÌ ? 
Phật hay nói đủ hơn là Phật -
đà, dịch âm từ ngữ Sanskrit cổ đại. Từ Phật bao hàm
các nghĩa : Tự mình giác ngộ, giác ngộ cho người khác và
giác ngộ - thấy biết tất cả, không gì là không thấy biết,
không lúc nào là không thấy biết. Vì vậy mà Phật còn có
các danh hiệu "Nhất biến tri" hay là "Chính biến tri".
Phật-đà, nói ngắn hơn là Phật,
nguyên là Thái tử Tất Đạt Đa, sinh tại thế giới này,
cách đây 2589 năm (T. L năm 623 trước công nguyên) ở thành
Ca Tỳ La Vệ (Ấn Độ). Sau khi thành đạo, thì có danh hiệu
là Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca là giòng họ, Mâu Ni là danh hiệu
chung, chỉ các bậc Thánh thời cổ đại ở Ấn Độ, và có
nghĩa là tĩnh lặng. Đó là vị giáo chủ của đạo Phật.
Thế nhưng, căn cứ vào giáo lý
do Phật Thích Ca giảng dạy, chúng ta biết rằng, tại thế
giới này, từ thời xa xưa đã có những vị Phật ra đời,
và trong một tương lai rất xa sau này cũng sẽ có các vị
Phật khác xuất hiện. Và hiện nay, tại các thế giới khác
trong 10 phương, cũng đang có nhiều Phật tồn tại. Như vậy,
theo đạo Phật, thì Phật không phải chỉ có một vị có
một không hai mà trong quá khứ, hiện tại và trong thời vị
lai, có vô lượng vô số Phật. Hơn nữa, Phật giáo còn cho
rằng, tất cả chúng sinh, tất cả các loài hữu tình, dù
hiện nay có tin hay không tin Phật, đều có khả năng thành
Phật trong tương lai. Phật giáo cho rằng Phật là chúng sinh
đã được giác ngộ, còn chúng sinh là Phật chưa giác ngộ.
Đứng về mặt cảnh giới mà nói, phàm thánh tuy khác nhau,
nhưng đứng về bản chất mà nói, Phật tính là bình đẳng,
Phật hay chúng sinh đều có Phật tính như nhau không khác.
Nói tóm lại, Phật giáo không sùng
bái Phật như là vị Thần, cũng không xem Phật như là Chúa
sáng theᬠvì vậy, cũng có thể nói Phật giáo chủ trương
vô
thần luận.
5. VŨ
TRỤ VÀ SINH MỆNH LÀ TỪ ĐÂU ĐẾN
Phật giáo đã bác bỏ quan niệm
có một Chúa sáng thế, nhưng vũ trụ tồn tại là không
thể hoài nghi, sinh mạng tồn tại là không thể phủ định.
Phật giáo cho rằng, những nguyên tố tạo thành vũ trụ có
tính chất vĩnh hằng. Cũng như những nhân tạo ra sinh mạng
cũng có tính vĩnh hằng. Nói cách khác, vật chất tạo ra vũ
trụ là bất diệt, mà tinh thần cấu thành sinh mạng cũng
là bất diệt. Vĩnh hằng nghĩa là vốn là như vậy, không
có sinh ra và hủy diệt. Tình hình thực tế của vũ trụ và
sinh mạng là như vậy.
Phật giáo cho rằng, sự biến hóa
của vũ trụ, sự lưu chuyển của sinh mạng, là do nghiệp
lực của chúng sinh tạo thành.
Nghiệp lực (sức mạnh của nghiệp)
chính là những hành vi thiện hay ác của chúng sinh, chúng giống
như màu sắc vậy, một cách liên tục không ngứt đoạn, huân
nhiễm tâm thức của chúng sinh, là chủ thể của sinh mạng,
rồi lại từ ở trong tâm thức, theo ngoại duyên (điều kiện
bên ngoài) mà hiện hành bộc lộ, cũng như hạt giống gieo
trong đất, nhờ có các ngoại duyên là ánh sáng, độ ẩm
và không khí mà sinh trưởng. Đó là cái mà sách Phật gọi
là hiện hành của nghiệp. Hiện hành của nghiệp chính là
kết quả tạo ác của nghiệp. Đó là ý tứ của câu : "thiện
ác đáo đầu chung hữu báo", nghĩa là thiện hay ác cuối cùng
đều có quả báo.
Nghiệp có thể do cá nhân một mình
làm ra, cũng có thể do cá nhân cùng với nhiều người khác
cùng làm; có những nghiệp tuy là do cá nhân riêng mình tự
làm, nhưng làm tương tự như nhiều người khác làm. Có những
nghiệp tuy cùng với nhiều người khác làm, nhưng sự tham
gia lại nhiều ít khác nhau.
Do vậy, có thể chia ra hai loại
nghiệp là "cộng nghiệp" (nghiệp cùng làm) và "bất cộng
nghiệp" (nghiệp không cùng với người khác làm).
Vì là cộng nghiệp cho nên dẫn
tới quả báo giống nhau. Trái đất này là do cộng nghiệp
của vô số chúng sinh tạo ra trong quá khứ và hiện tại mà
hình thành. Do cộng nghiệp khác nhau mà có những thế giới
khác nhau. Trong vũ trụ, có vô số lượng chúng sinh sống trong
vũ trụ này. Vì vậy, nếu trên hỏa tinh có chúng sinh thì
hình dáng của chúng sinh đó không nhất thiết giống hình
dáng người sống trên trái đất chúng ta. Ngoài ra, còn có
những tinh cầu không có người ở, thậm chí cũng không có
sinh vật nữa, nhưng sự tồn tại của chúng là cần thiết
đối với cuộc sống của chúng sinh ở các tinh cầu có sinh
vật ở. Nói cách khác, sự tồn tại của vạn vật trong vũ
trụ bao la này đều có lý do, có nguyên nhân tồn tại của
chúng. Thí dụ, trên mặt trời không thể có sinh vật tồn
tại, thế nhưng nếu không có mặt trời, thì sinh vật trên
trái đất này cũng không thể tồn tại. Hiện nay, khoa học
chưa có thể chứng minh được sự tồn tại của nhiều hiện
tượng và sự vật. Còn đạo Phật thì giải thích đó đều
là do cảm ứng của nghiệp lực của chúng sinh.
Còn về sự tồn tại của sinh vật
(cũng tức là sinh mạng) trên địa cầu này, thì Phật cho
rằng đều do biến hóa mà thành, và điều này đúng đối
với sinh vật đơn bào cũng như đối với con người là loại
sinh vật cao cấp. Khi địa cầu mới hình thành, thì con người
đầu tiên xuất hiện là từ ở cõi trời Quang âm thiên
là
cõi Trời thứ sáu thuộc cõi Sắc giới bay tới, nhưng sau
vì ăn phải một loại thực vật thiên nhiên trên địa cầu
này, thân thể trở thành nặng nề không bay được nữa, rồi
vĩnh viễn định cư ở trên địa cầu này (Theo kinh Thế kỷ,
kinh Đại lâu khôi, kinh Khởi thế v.v…). Trên thực tế, đó
cũng là do nghiệp báo của chúng sinh thuộc loài Trời đó.
Phúc báo ở cõi Trời đã hưởng hết rồi thì phải đọa
xuống địa cầu này tùy theo nghiệp mà chịu báo. Cũng như
những con người hay chúng sinh sống trên địa cầu này cũng
vậy, do cộng nghiệp mà chiêu cảm địa cầu này thì phải
sinh ở địa cầu này mà chịu báo. Chịu báo hết rồi, cũng
tùy theo nghiệp của mình đã tạo hay đương tạo mà vãng
sinh ở các cõi sống khác để tiếp tục chịu báo. Đồng
thời lại do bất cộng nghiệp, cho nên tuy là cùng sinh ra trên
địa cầu này, nhưng địa vị cao thấp của mỗi chúng sinh
lại khác nhau. Có chúng sinh là côn trùng, có chúng sinh là
loài người. Và giữa người và người cũng có người sang
kẻ hèn, người sống thọ, kẻ chết yểu.
Trên thực tế, cộng nghiệp đồng
thời cũng là một dạng của bất cộng nghiệp. Vì sao ? Nếu
đứng trên góc độ địa cầu mà nói thì địa cầu và cuộc
sống ở địa cầu là do cộng nghiệp của chúng sinh ở đây
mà hình thành. Nhưng nếu đem đối chiếu với chúng sinh ở
một cõi sống khác, trên một hành tinh khác, thì chính là
do bất cộng nghiệp mà có sự khác biệt giữa cuộc sống
ở hành tinh đó với cuộc sống trên địa cầu chúng ta. Nói
cộng nghiệp là một dạng của bất cộng nghiệp, ý tứ là
như vậy. Thế nhưng ngược lại, cộng nghiệp cũng là một
dạng của bất cộng nghiệp. Thí dụ, nói chúng sinh ở trên
địa cầu này là do cộng nghiệp. Thế nhưng loài người ở
Phi châu có da đen, loài người ở Á châu có da vàng. Đó lại
là do người ở Phi châu và người ở Á châu có bất cộng
nghiệp mà thành ra như vậy. Nhưng vì cả hai giống người
đó đều cùng sống trên một quả địa cầu, cho nên cũng
lại do cộng nghiệp làm người mà sinh ra như thế. Từ đó
mà suy ra, mới hiểu được vì sao, trong cùng một quốc gia,
thậm chí trong cùng một gia đình, vẫn có rất nhiều khác
biệt trong phẩm chất, tính cách và cảnh ngộ giữa người
và người với nhau. Tất cả muôn vàn sai biệt đều là do
cộng nghiệp và bất cộng nghiệp tạo thành.
Đó là lối giải thích của Phật
giáo đối với sự tồn tại của vũ trụ và sinh mạng.
6. BỒ
TÁT LÀ GÌ
Bồ - tát là dịch âm từ chữ Phạn,
và là lược dịch. Nếu dịch âm đầy đủ là Bồ-đề-tát-đỏa.
Bồ-đề nghĩa là giác. Tát-đỏa là hữu tình. Bồ-tát nghĩa
là giác hữu tình. Hữu tình là sinh vật có tính tình và tình
ái, cũng gọi là động vật. Bồ tát là loài hữu tình có
giác ngộ. Giác ngộ về nỗi khổ của tất cả chúng sinh,
đồng tình và thông cảm với nỗi khổ đó, và phát nguyện
cứu thoát chúng sinh ra khỏi những nỗi khổ đó. Vì vậy
mà ở đời, hễ thấy ai hay thương người, hay bố thí, và
cứu giúp người trong cơn khổ nạn, thì nói người ấy có
tâm Bồ tát.
Bồ tát hiểu theo đúng nghĩa, rất
khác với quan niệm Bồ tát trong dân gian. Bồ tát là người,
sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha,
thậm chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người.
Bồ tát không phải là thần Thổ Địa, cũng không phải là
thần Thành Hoàng mà tượng bằng gỗ, tượng bằng đất được
thờ phục ở khắp đền miếu. Chúng sinh trước khi thành
Phật tất yếu phải trải qua một quá trình làm Bồ tát.
Muốn làm Bồ tát trước hết phải có tâm nguyện lớn, chủ
yếu là bốn lời nguyện : "Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành".
Nghĩa là : "
-
Phát lời nguyện độ thoát cho vô
số lượng chúng sinh;
-
Phát lời nguyện đoạn trừ vô số
lượng phiền não;
-
Phát lời nguyện học tập vô số
lượng pháp môn;
-
Phát lời nguyện thành tựu Phật đạo
vô thượng".
Mọi người từ khi mới phát tâm cho
đến khi thành Phật đều được gọi là Bồ tát, vì vậy
mà có phân biệt Bồ tát phàm phu và Bồ tát hiền thánh. Các
Bồ tát được nói tới trong các kinh Phật thường là các
vị Bồ tát hiền thánh. Quá trình làm Bồ tát chia làm 52 vị
(cấp bậc), trong số này chỉ có 12 vị Bồ tát hiền thánh,
tức là từ Sơ địa đến Thập địa (địa vị
1 - 10), lại thêm hai vị nữa là Đẳng giác và Diệu
giác. Thực ra, Bồ tát đạt tới vị Diệu giác đã
là Phật rồi. Còn ở ngôi vị Đẳng giác là vị Đại Bồ
Tát sắp thành Phật. Các vị Bồ tát mà nhân dân rất quen
thuộc như Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền,
Địa Tạng v.v… đều là những vị Đẳng giác Bồ tát.
7. VÌ
SAO GỌI LÀ ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA 
Trong thời Phật tại thế, vốn
không có phân biệt Tiểu thừa và Đại thừa. Phật pháp là
một vị thuần nhất. Chỉ do đối tượng thuyết pháp không
giống nhau cho nên nội dung và cảnh giới thuyết pháp cũng
khác nhau mà thôi.
Đối với những người có trình
độ thấp, Phật chỉ giảng đạo lý làm người, giảng năm
giới, mười điều thiện gọi là nhân thiên thừa. Đối
với nhưng người nhàm chán thế gian, Phật giảng phương pháp
thoát ly sinh tử, gọi là Thanh văn tiểu thừa. Đối
với những người có trình độ cao, có tâm nguyện nhân độ
thế, thì Phật giảng giáo lý Đại thừa bồ tát.
Trên sự thực, Phật pháp chia làm
năm thừa : Nhân thừa (tức là Phật giáo của nhân gian), Thiên
thừa (Phật giáo cho loài Trời), Thanh văn thừa, Độc giác
thừa và Bồ tát thừa.
Tu theo 5 giới và 10 điều thiện
ở bậc cao (thượng phẩm) thì sẽ được sinh lên các cõi
Trời. Tu theo 5 giới 10 điều thiện ở bậc trung bình (trung
phẩm) thì sẽ được sinh làm người. Tổng hợp cả hai lại
gọi chung là con đường loài Người và loài Trời. Hàng Thanh
văn nhờ nghe pháp tu hành mà được giải thoát khỏi sinh tử.
Hàng Độc giác không nghe pháp, không có thầy mà tự mình
giác ngộ, được giải thoát khỏi sinh tử. Tổng hợp cả
hai lại gọi chung là con đường giải thoát của Nhị thừa.
Con đường Bồ tát là pháp môn
vừa cầu giải thoát, vừa không tách rời con đường loài
Người và loài Trời, do đó con đường Bồ tát đại thừa
là con đường tổng hợp cả hai con đường giải thoát và
con đường loài Người và loài Trời.
Tu theo 5 giới và 10 điều thiện
trong con đường loài Người và loài Trời thì vẫn còn là
phàm phu. Người tu hành, chứng đạo giải thoát không còn
luân hồi sinh tử nữa, mới gọi là bậc Thánh. Vì chỉ lo
lắng cho bản thân mà cầu Phật pháp để được giải thoát,
không có tâm nguyện quay trở lại cứu độ chúng sinh, cho
nên gọi là Tiểu thừa. Con đường Bồ tát gọi là Đại
thừa, vì rằng vị Bồ tát, trên thì cầu đạo Phật vô thượng
để giải thoát khỏi sinh tử, dưới thì phát nguyện độ
thoát vô lượng chúng sinh để cùng thoát khỏi biển khổ
sinh tử.
Về mặt phân bố địa lý mà nói,
thông thường gọi Phật giáo Bắc truyền theo văn hệ
Sanskrit, lấy Trung Hoa làm trung tâm, bao gồm các nước như
Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Tây Tạng, Việt Nam thì gọi
là Phật giáo Đại thừa. Còn Phật giáo Nam truyền dùng
kinh điển thuộc văn hệ Pali, lấy nước Tích Lan làm trung
tâm và bao gồm các nước như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia,
thường được gọi là Phật giáo Tiểu thừa.
Thực ra, đó chỉ là sự phân biệt
của riêng Phật giáo Bắc truyền, còn Phật giáo Nam
truyền thì không công nhận sự phân biệt đó. Đấy là
do, trong Luật tạng của Hữu Bộ, quyển 45 và Tạp A Hàm quyển
28 trang 69 đều có ghi danh từ Đại thừa để chỉ những
người tu theo Bát chính đạo và Tạp A Hàm quyển 26
trang 204 dùng danh từ đại sĩ chỉ cho những người tu hạnh
Bốn
nghiếp pháp. Tăng nhất A Hàm cuốn 19 cũng nói rõ sáu độ
thuộc về Đại thừa. Phật giáo Bắc truyền, trong lĩnh
vực lý luận, có phần phát huy hơn Phật giáo Nam truyền,
thế nhưng về mặt thực tiễn sinh hoạt thì Phật giáo Bắc
truyền không phải tất cả theo Đại thừa, và Phật giáo
Nam
truyền cũng không phải tất cả đều theo Tiểu thừa.
Phật giáo Trung Quốc, ngoài việc ăn trường trai ra, cũng không
có gì xuất sắc hơn Phật giáo Nam truyền. Phật giáo
Trung Quốc do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang và
lối học nói suông chuyện thanh cao (huyền học tham đàm) cho
nên cũng bị lớp sĩ phu đời Ngụy Tấn đối đãi như là
một thứ huyền học để tiêu khiển. Lý luận của các tông
phái ở Trung Quốc như Thiên Thai Tông và Hoa Nghiêm Tông đều
có chịu một phần ảnh hưởng của học phong này. Chính vì
vậy, có một học giả Nhật Bản cận đại, ông Mộc Thôn
Thái Hiền phê bình Phật giáo Trung Quốc là loại Phật giáo
học vấn, không phải là Phật giáo thực tiễn. Phê bình như
vậy, không phải là không có lý do. Trên sự thực, cấu trúc
tư tưởng của Hoa Nghiêm Tông và Thiên Thai Tông đều xuất
phát từ cảnh giới chứng ngộ của các cao tăng Trung Hoa,
chứ không có y cứ đầy đủ trong tư tưởng lý luận của
Phật giáo Ấn Độ. Do đó, có thể nói tinh thần Đại thừa
chân chính của Phật giáo Trung Quốc, cho đến nay vẫn chưa
phổ cập đến dân gian Trung Quốc, chứ còn nói gì làm nơi
quy tụ của tín ngưỡng dân gian Trung Quốc ! Vì vậy mà có
người nói, Phật giáo Trung Quốc về tư tưởng là Đại thừa,
về hành vi là Tiểu thừa.
Chân Thành Cảm Ơn Thầy
Thích Nguyên Tạng, Tu
Viện Quảng Ðức
Ðã Gửi Tặng Thư Viện Hoa Sen Phiến Bản Vi Tính Quyển Sách
Này (Tâm Diệu)