CHƯƠNG
NĂM
BƯỚC
CHÂN THỨ NĂM LÊN ÐƯỜNG THỰC HIỆN
VIỆC
TRỞ VỀ SỰ IM LẶNG:
SỰ
CHUYỂN ÐỘNG TOÀN DIỆN CỦA TÂM THỨC
TRONG
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO MẬT TÔNG CỦA
HÓA
THÂN TÂY TẠNG TARTHANG TULKU
I.
Tư Tưởng Phật Giáo Kim Cang Thừa của Bồ Tát Hóa Thân Tarthang
Tulku
II.
Niềm Tự Do Bên Trong Tâm Hồn
I.
GIỚl THIỆU TƯ TƯỞNG
PHẬT
GIÁO KlM CANG THỪA
CỦA
SƯ TRƯỞNG LẠT MA TÂY TẠNG
BỒ
TÁT HÓA THÂN TARTHANG TULKU
THUỘC
TÔNG THUYẾT HỆ PHÁI CỔ TRUYỀN
NYINGMA
Ở HUÊ KỲ HIỆN NAY
Những
ngày đầu tiên trở lại Los Angeles sau gần hai chục năm, tình
cờ tôi có mua được một số sách của một vị Ðại Lạt
Ma Tây Tạng tên là Tarthang Tulku viết thẳng bằng tiếng Anh
và xuất bản tại Califomia từ khoảng năm sáu năm nay thôi;
cảm giác đầu tiên là một niềm vui mừng không tả khi nhìn
thấy một vị tu sĩ Phật giáo viết văn thuyết giảng Phật
Pháp qua một văn khí hùng mạnh và ngôn ngữ giản dị trong
sáng như lưu ly và những vấn đề trầm trọng nhất của
nhân loại hiện nay đã được đặt ra và giải quyết một
cách triệt để.
Những
quyển sách của sư trưởng Lạt Ma Tarthang Tulku đã ảnh hưởng
sâu đậm mãnh liệt đến thế giới đại học ở Huê Kỳ
và đã được giảng dạy trong gần 40 viện đại học ở
Huê Kỳ và đã được dịch ra tiếng Ðức, tiếng ý, tiếng
Tây Ban Nha, tiếng Nhật, tiếng Hòa Lan, Phần Lan và Bồ Ðào
Nha và nhiều thứ tiếng khác nữa. Chẳng hạn quyển Time,
Space and Knowledge (thời gian, không gian và trí thức) đã được
dùng làm sách thi cử cho sinh viên trong gần 35 trường đại
học Huê Kỳ. Ngay cả đại học đường nổi tiếng ở Ðức,
đại học đường Heidelberg cũng dùng sách này cho sinh viên
học thi trong chương trình giảng dạy về Toán Hình Học và
Thuyết Tương Ðối. Sách của Lạt Ma Tarthang Tulku đã được
cho sinh viên học trong những chương trình bộ môn khác biệt
hẳn nhau như Không gian và Toán học. (Ðại học State U. of
N.Y Oswego) Vật lý học (Đại học Trinity U. Texas), xã hội
học (Ðại học U. of Idaho, Ðại học Salem State College Mass),
Tâm lý học (Ðại học Indiana University, Ohio State U. U. of S
Carolinia) và rất nhiều lãnh vực ngliên cứu học vấn khác
ở đại học (Tôn giáo học, Thần học, Tri thức luận, Quản
trị, Cố vấn nghề nghiệp v.v...).
Cách
đây mấy chục năm, những quyển sách bằng tiếng Anh của
D.T. Suzuki viết về Thiền tông Phật giáo đã ảnh hưởng
mạnh mẽ sâu đậm đến bao nhiêu thế hệ học giả tri thức
văn nghệ sĩ Tây phương; sau đó gần mười năm nay thì có
những quyển sách tiếng Anh của vị đại lạt Ma Tây Tạng
thuộc tông phái Kagu tên là Chogyam Trungpa ở Colorado, cũng đã
từng ảnh hưởnh lớn lao mạnh mẽ đến giới trí thức văn
nghệ sĩ Tây phương chẳng hạn như quyển Cutting througth Spritual
Materialism và The Myth of Freedom những thi sĩ nổi tiếng nhất
Huê Kỳ như Allen Ginsberg và Gary Snyder đều là môn đệ của
Lạt Ma Chogyam Trungpa (cách đây năm, sáu tháng khi gặp tôi
tại đại học đường Toulouse ở Pháp, Allen Ginsberg đã không
tiếc lời ca tụng Lạt Ma Chogyam Trungpa như là một vị Phật
sống đại nghệ sĩ). Ngoài Chogyam Trungpa, hiện nay tôi thấy
Tarthang Tulku đang trên đà ảnh hưởng mạnh mẽ sâu đậm
hơn nữa, nhất là với giới giáo sư đại học Huê Kỳ và
những nước Tây phương khác.
Tarthang
Tulku mới đến Hoa Kỳ vào năm 1968 và hiện nay được coi
như “Vị đạo sư có ảnh hưởng lớn nhất ở Hoa Kỳ”
(theo tờ Brain-Mind Bulletin).
Bây
giờ tôi xin giới thiệu sơ lược về tiểu sử của vị Lạt
Ma Tarthang Tulku (chữ Tulku, theo tiếng Tây Tạng có nghĩa là
Hóa thân Bồ Tát hay Bồ Tát Thị hiện, hay nói nôm na là:
một vị đại sư lúc chết hóa thân đầu thai lại trên đời
này để tiếp tục hóa độ chúng sanh thể theo đại hạnh
nguyện Bồ Tát).
Trong
lời Tựa (Preface), Time, Space and Knowledge: (Dharma Publishing 1977),
Tarthang Tulku có in giới thiệu một cách như sau: Tôi sinh tại
A-skyong, miền Trung ở Golok tại Ðông Tây Tạng, cư dân ở
vùng đó đều là dòng dõi của những vị vua đầu tiên của
Tây Tạng thân phụ tôi, Sog-po Tulku một vị Lạt Ma Bồ Tát
hóa thân, đã được huấn luyện trong nhiều truyền thống
tâm linh chính yếu của Tây Tạng và đồng thời cũng là vị
thầy thuốc cho dân làng. Tôi được kỳ vọng nối tiếp truyền
thống gia đình và cũng như bao nhiêu con trẻ trong trường
hợp tương tự như tôi được chăm sóc dạy dỗ rất kỹ
càng Mẹ tôi dạy tôi đọc và viết lúc tôi còn thơ dại,
và từ lúc 6 tuổi cho đến 12 tuổi, tôi được học riêng
với nhiều bậc thầy tài giỏi. Cha tôi cũng là thầy dạy
tôi, ông dạy tôi nhiều kỷ luật khán tâm và chỉ tôi con
đường thâu nhiếp tâm linh; cha tôi quả thực là người đầy
lòng từ bi nhứt mà tôi đã gặp trên đời. Sau đó tôi được
gửi đi tu học ở tu viện Tarthang lúc tôi được 12 tuổi
dưới sự trông nom hướng dẫn của anh tôi. Vì liên hệ mật
thiết với tu viện qua dòng Bồ Tát hóa thân và qua sự trực
thuộc tông hệ của cha tôi với tu viện, tôi được vị trưởng
pháp sư chỉ dạy hướng dẫn đọc tụng bao nhiêu kinh sách
nội điển truyền thống. Ngoài ra tôi lại được học thêm
nhiều lãnh vực đạo lý đặc biệt chỉ thuộc độc nhất
về tông phái Nyingmapa (truyền thống lâu đời và cổ kính
nhất của Phật giáo Tây Tạng); tôi cũng lại được dịp
học thêm những chủ đề đa dạng như văn chương nghệ thuật,
thi ca, thảo bút, và y học. Mặc dù kỷ luật tu học ở tu
viện lúc đó quả thực là quá khó khăn, nhưng sau này tôi
mới thấy được đúng mức tầm quan trọng cái giá trị của
kỷ luật tu học ấy. Khi sự tu học của tôi về Phật Pháp
và thực hành thiền học đang trên đà tăng trưởng thì lúc
17 tuổi tu viện bỗng quyết định gởi tôi đi học với những
đạo sư khác ở những vùng xa xôi ở Tây Tạng. Tôi đã là
khách tăng của khoảng bốn mươi đại tu viện và đã được
thụ giáo với rất nhiều đại sư lão luyện và đã được
học qua những dạng thái tổng quát của những truyền thống
thiền định ở từng nơi trung tâm tu viện. Lúc tôi lớn tuổi
hơn nữa, tôi lại được tiếp tục tu học sâu thẳm hơn
và bao nhiêu là lãnh vực đạo lý triết lý và hành trì được
mãi mở rộng thêm ra, và tôi được dịp may hy hữu - hy hữu
ngay cả ở Tây Tạng là được thụ giáo riêng với những
bậc đại sư chứng ngộ, những bậc trao truyền trực tiếp
những truyền thống đạo lý bằng khẩu truyền và kinh truyền,
những hệ phái gần như mất hẳn ở Tây Tạng. Vị đạo
sư chính yếu của tôi. Khentse chokyi Lodro, là một trong những
vị đại lạt ma được kính phục nhứt trong toàn thể đất
Tây Tạng, vừa nổi tiếng về sự liễu đắc mênh mông của
Ngài, vừa được mọi người biết đến lòng từ bi sâu thẳm
bát ngát của ngài. Sự hiểu biết của tôi quả thực là
có giới hạn; nhưng nhờ vào lòng thương quảng đại của
những sư phụ tôi, tôi mới có được khả năng hiểu biết
đại khái tầm vóc liễu đắc vô hạn nơi những sư phụ
tôi. Và nguyện ước lớn nhất của tôi là giữ gìn và chia
xẻ với mọi người khác những gì tôi đã được nơi những
giáo lý sâu thẳm này. Vừa học xong trải qua bao nhiêu năm
mãnh liệt tu hành thì cảnh hỗn loạn của Tây Tạng lúc đó
khiến tôi cần phải lìa bỏ Tây Tạng làm kẻ tỵ nạn vượt
biên di tản lúc 25 tuổi. Năm 1963, nhờ sự giúp đo che chở
của chính phủ Ấn Ðộ, tôi được biệt phái dạy học về
triết lý Phật Gìáo ở đại học đường Sanskrit (Phạn ngữ)
ở Benares, Ấn Ðộ.
Rồi
sau đó, Tarthang Tulku dạy học trên sáu năm ở đại học Benares
và năm 1968 vị đại lạt ma Bồ Tát hóa thân lên đường
qua Huê Kỳ cùng với vợ. Năm 1973, ngày thành lập tu viện
Phật giáo Nyingma ở Berkeley tại Califomia và rất nhiều giới
trí thức Mỹ trong nhũng ngành như Tâm lý học, Khoa học và
những khoa học nhân văn đã đến Phật học viện Nyingma Institute
of Berkeley để nghiên cứu khảo học.
Từ
khoảng sáu bảy năm gần đây Tarthang Tulku đã cho xuất bản
khoảng chừng năm sáu quyển sách bằng tiếng Anh để truyền
bá Phật Pháp cho giới học giả trí thức Tây phương như
những quyển sau đây:
Time, Space, And Knowledge, A New Vision of Reality (Dharma Publishing,
Emeryville, Califomia, 1977).
Gesture of Balance (Dharma Publishing, Oakland, Califomia 1977).
Operress Mind (Dharma Publishing, Oakland, Califomia 1978).
Kum Nye Relaxation (Dharma Publishing, Berkeley, California 1978).
Skillful Means (Dharma Publishing, Berkeley, Califomia 1978).
Quyển
sách sâu sắc nhất của Tarthang Tulku là Time, Space, and Knwoledge
gồm ba trăm lẽ sáu trang. Phạm vi của tập sách không cho
phép tôi trình bày giới thiệu quyển này. Nơi đây tôi chỉ
xin giới thiệu độc giả quyển Skillful Means (Phương Tiện
Thiện Xảo) gồm 136 trang, quyển này đã được tôi dịch
ra trọn vẹn chữ Việt nhan đề “Phương Tiện Thiện Xảo”
do nhà Xuất bản Thanh Văn xuất bản tại Califomia năm 1993,
gồm 225 trang và quyển “Phương Tiện Thiện Xảo” của Tarthang
Tulku thì rất giản dị dễ hiểu cho mọi trình độ trí thức
của Phật tử và có thể coi đây là những bài thuyết pháp
mà mọi người đều có thể áp dụng mỗi ngày trong đời
sống. Dưới đây, tôi xin dịch chương thứ nhất của quyển
sách này nói về sự TỰ DO NỘI TẠI (lnner Freedom) trang 3-9.
II.
NIỀM TỰ DO BÊN TRONG TÂM HỒN
Mỗi
khi bản chất nội tại chúng ta được thực sự tự do thì
chúng ta tìm thấy ngay bên trong tâm hồn chúng ta cả một kho
tàng phong phú: tình thương, tình yêu, niềm vui sướng thảnh
thơi và sự thanh bình thoải mái trong tâm thức. Ta có đủ
tâm hồn để thưởng thức vẻ đẹp tưyệt vời của đời
sống, đón nhận từng mỗi một kinh nghiệm xảy đến ta,
mở rộng trái tim ra cho từng kinh nghiệm ấy và tận hưởng
trọn vẹn kinh nghiệm ấy. Thể hiện những phẩm chất này
trong tận đáy lòng chúng ta quả là niềm tự do vĩ đại nhất
khả dĩ đạt được trên đời này.
Tuy
thế thực ra chúng ta có thể tự nhận niềm tự do nội tại
này đến được mức độ nào ? Thực ra chúng ta có thể cởi
mở đón nhận thế nào đối với những ý tưởng và cảm
giác sâu thẳm nhất của chúng ta. Ðối với bản chất
tích cực của bản thể nội tại chúng ta ? Dù có những lúc
chúng ta cảm nhận niềm giàu sang nội tâm này, thế mà chúng
ta lại thường khi dong bỏ sự phong phú ấy ra ngoài tâm hồn
và chỉ nuôi dưỡng hứng khởi trong lòng mình những cảm
giác bất mãn, bất đắc chí, tế nhị kín đáo.
Ðôi
lúc chúng ta cũng không để cho chúng ta được yêu đời hạnh
phúc thoải mái mà phải bị vướng bận đâu đó cảm thức
tội tình nào đó, hoặc là chúng ta cảm nhận sự hài lòng
thỏa dạ mà không phải cảm thấy hoài nghi và xao xuyến.
Chính những cảm giác này đã đưa đẩy chúng ta ra ngoài nguồn
tài nguyên nội tại của chúng ta, khiến cho chúng ta hướng
nhìn ra ngoài để lấp đầy sự trống rỗng tâm tư. Bị lôi
kéo vào những biến cố hấp dẫn sôi động xẩy ra chung quanh,
chúng ta cứ mải miết đeo níu chúng, tưởng rằng những thứ
ấy sẽ đem sự thỏa mãn đến cho chúng ta. Những lúc chúng
ta chỉ tập trung mọi tinh lực ra bên ngoài tâm hồn mình thì
chúng ta dễ đánh mất bỏ quên những thông điệp nội tại
phát ra từ những cảm quan từ những ý tưởng, rung cảm và
trực nhận. Không có đủ được sự hiểu biết nội tại
này và niềm tự do phát khởi từ đó thì thái độ của chúng
ta đối với những kinh nghiệm của chúng ta trở nên nông
cạn, và trực thức chúng ta càng mất đi sự sâu thẳm và
trong sáng. Dù ngay lúc ta có thể thành công trong đời sống,
chính sự xa lìa ra khỏi bản chất thực thụ của chúng ta
sẽ làm cho ta mất đi một căn bản cơ sở nội tại lành
mạnh khả dĩ dựng lập cuộc đời mình một cách vững chắc.
Ðiều đó sẽ đưa dần ta đến những cảm giác kín đáo
khó nhận về nỗi bất an trùng điệp của đời sống, và
đời sống có thể tự do bắt đầu trở thành trống rỗng
và vô nghĩa. Lúc chúng ta không tìm nhận được lương thực
khởi phát từ sự hiểu biết bản chất mình một cách đàng
hoàng thì chúng ta thường quay đi tìm kiếm những kẻ khác
để được vui sướng thỏa mãn. Nhưng vì chúng ta không thực
sự biết được điều gì đang mất mát trong đời sống mình,
cho nên ta không thể trao đổi cảm thông những nhu cầu chúng
ta một cách rõ ràng trong sáng và do đó chúng ta chỉ cảm
nhận lòng mình đầy sự bực dọc bất mãn đau đớn xót
xa. Càng lúc ta càng rơi tuột vào những cảm giác bất mãn
thì càng lúc lại càng cầm thấy nghẽn tắt tâm thần và
bất an, bất ổn định tâm tư: những tiếp xúc liên quan,
giao thiệp với cuộc đời trở nên chua đắng và chúng ta
không thể nào làm việc phục vụ một cách hữu hiệu được.
Chúng ta không còn thấy tự do thoải mái và bị đóng nhốt
bưng bít trong tâm tư vì mình đã đánh mất sự trực thức
linh động (awareness) bị lôi kéo vào những chu kỳ dường
như bất tận, những chu kỳ xao xuyến khắc khoải bàng hoàng
sảng sốt và đầy sự bất hạnh vô phúc. Chúng ta phải bị
đi quẩn quanh lòng vòng cứ tìm mãi sự tràn đầy tâm thức,
mà chẳng bao giờ tìm thấy được, và chính sự tìm kiếm
này trở nên khuôn thước định mẫu của đời sống mình.
Chúng
ta sống trong một thế giới di động, quá ư nhanh chóng và
mọi sự đều thôi thúc bức ép ta chạy đuổi cho kịp lúc.
Phần đông chúng ta không muốn sống như vậy nhưng chúng ta
vẫn bị kẹt buộc vào những yêu sách mà xã hội đã đặt
để trên đời sống chúng ta. Trên mặt ngoài, chúng ta có
vẻ như tự do, nhưng bên trong tâm hồn chúng ta phải đau đớn
chịu đựng bao nhiêu căng thẳng áp lực giằng co do nhịp
bước vội vã nhanh chóng đời sống áp đảo trên số phận
mình .
Chúng
ta di động quá nhanh chóng, chúng ta sống quá vội vã hấp
tấp đến nỗi chúng ta không còn đủ thời gian để thưởng
ngoạn đánh giá đích thực bản thân mình, chúng ta đã dánh
mất liên lạc trực tiếp với những phẩm chất tích cực
cao quí và sức mạnh nội lực khởi phát từ đó. Những chướng
ngại ngăn cản cho việc thoải mái tự do trong tâm hồn thường
được tạo thành ngay từ lúc bé nhỏ. Lúc chúng ta còn con
nít, chúng ta còn biết cảm nhận thế nào với những sự
vật, và chúng ta ít khi lưỡng lự chia xẻ bộc phát cảm
giác mạnh cho kẻ khác. Nhưng sự bức ép áp lực do gia đình
bạn bè gây ra khiến cho ta phảỉ chịu thủ thế với những
thiên kiến hẹp hòi và những khuôn khổ thiển cận để thích
ứng theo những gì thiên hạ người đời trông ngóng mong đợi
nơi mình. Khi những ý tưởng cảm giác tự nhiên của mình
bị hất hủi không ai hăng hái đón nhận, không được nuôi
dưỡng phấn khởi thì rnình dễ đánh mất sự liên lạc mật
thiết với những cảm quan của mình, giòng phát lưu giao thông
giữa thân tâm mình bị nghẽn tắc ngăn chặn; mình không còn
biết được hiểu được những gì mình thực sự cảm nhận.
Khi những khuôn thức chà đạp bức áp càng trở nên mạnh
mẽ và cố định thì những cơ hội để tự khai diễn đạo
đạt cuộc đời mình càng lúc càng sút giảm đi. Chúng ta
trở thành quá quen thuộc với những khuôn mòn sáo cũ, công
thức ước lệ thích ứng, đến nổi lúc trở nên lớn tuổì,
chúng ta cứ để những khuôn mòn sáo cũ này thống trị đời
sống chúng ta; thế là chúng ta trở nên kẻ xa lạ đối với
bản thân mình.
Làm
thế nào có thể trở lại va chạm trực tiếp, bắt lại liên
lạc mật thiết với chính tâm hồn mình ? Chúng ta có thể
làm gì để trở nên thực sự tự do? Lúc mà chúng ta có thể
bắt đầu nhìn ngó vào bản chất nội tại mình một cách
rõ ràng minh bạch thì lúc ấy chúng ta mới có được cái
nhìn quán xuyến về sự phát triển tâm thức khả dĩ giải
phóng mình trưởng thành lớn mạnh. Sự sáng tỏ minh bạch
này là bước đầu của sự tự hiểu biết bản thân và điều
sáng tỏ này có thể được phát triển một cách đơn giản
bằng cách ngắm nhìn sự vận hành hoạt động hành vi của
tâm thức và nhân thể chúng ta.
Chúng
ta có thể thực hành sự quan sát nội tại nầy bất cứ ở
nơi nào, ở bất cứ mọi hoàn cảnh nào, với bất cứ những
gì ta đáng làm, bằng cách trực thức, tỉnh thức với từng
tư tưởng và từng cảm giác tiếp nối sau đó. Ta có thể
cảm nhậy với cách thức hành động của mình tác độrg
thế nào đến tư tưởng mình, thân thể và giác quan mình.
Khi mình làm như thế thì mình lại mở lại được con đường
thông thương giữa thân xác và tâm thức mình, và đạt được
một sự trực thức linh động hẳn lên về thực tính bản
chất mình, mình trở nên quen thuộc thân thiết lại với phẩm
chất cao quý cửa tính thể nội tại của mình. Thân xác và
tâm thức mình bắt đầu hỗ trợ nâng đỡ lẫn nhau và đem
lại một tính chất tràn trề sinh khí cho mọi cố gắng nỗ
lực của mình. Chúng ta được bước vào một tiến trình
học hỏi về bản thân một cách sống động thân tình, và
sự tự hiểu biết này tăng trưởng tinh khí thần vào tất
cả mọi hành động, hành vi của mình.
Khi
mà chúng ta quan sát bản chất nội tại của mình một cách
ý tứ đàng hoàng thì ta sẽ thấy rõ mình đã đè nén chận
áp, đến độ nào, đã đóng khép bưng bít cảm giác và thực
tính bản chất mình đến độ nào. Từ đó mình mới có thể
bắt đầu cởi mở ra nhưng cảm giác này và giải phóng tinh
khí thần mà chúng ta đã nén giữ lại trong ta. Với tâm thức
trầm lặng thanh bình và tư thái trung thực trực tính không
lường gạt dối trá, với việc chấp nhận bản chất thực
sự của mình, mình trưởng thành lớn mạnh trong niềm tin
tưởng vào cuộc đời sẽ học được những phương cách
mới mẽ và tích cực hơn để nhìn thẳng vào bản tính mình.
Khi
những trực nhận nội tại mình trở nên rõ ràng và thông
suốt hơn thì sự tập trung tư tưởng sẽ giúp đỡ mình điều
khiển tỉnh lực mình về hướng đi cần thiết. Sự tập
trung tư tưởng này không có tính cách cưởng bách; nó rất
thong dong bình thản và gần như vô tâm thoải mái tình cờ.
Sự quan tâm chú ý của mình được tập trung một cách nhẹ
nhàng thú vị, chứ không cứng nhắc khó chịu. Mình có thể
phát triển sự tập trung tư tưởng tâm thần hưng động này
bằng cách chỉ làm một việc cho một lúc một cách thấu
đáo dâng hiến tất cả tinh thần chú ý mình vào những gì
mình đang làm, vừa trực thức, tỉnh thức với từng chi tiết
liên hệ. Giữ gìn trì thủ sự tập trung tư tưởng tâm thần
mình vào một việc làm duy nhất cho đến khi được hoàn tất,
và cứ như thế tiếp tục làm tròn bổn phận trong việc kế
tiếp và cứ như vậy tiến triển mãi trong tiến trình. Ta
sẽ tìm thấy sự sáng suốt minh bạch và nhập kiến của
mình được sâu thẳm thêm lên và trở thành một cái gì tự
nhiên trong bất cứ hành động hành vi nào của mình.
Cùng
với khả năng tập trung tư tưởng tâm thần lớn mạnh thêm
lên thì sự thức tỉnh tâm ý phát hiện ra một sự trực
thức về mỗi sắc thái vi tế của từng tư tưởng từng
cảm giác, từng hành động thể hiện. Sự thức tỉnh tâm
ý (Mindfulness) là sự hòa hợp của sự tâm trung tâm tưởng
sự sáng suốt tâm trí và sự trực thức càng được tác
động thể hiện đối với ngay cả những chi tiết bé nhỏ
nhất của mọi kinh nghiệm. Thiếu mất sự tỉnh thức tâm
ý (mindfulness) dù mình có tập trung tâm thức hay sáng suốt
đi nữa thì đó cũng chỉ là như đứa con nít xây dựng lâu
đài trên cát mà không biết rằng thủy triều sẽ cuốn trôi
sạch mất đi sự tỉnh thức tâm ý giữ vững cho bất cứ
những gì ta làm đều được làm đến tận cùng khả năng
tinh lực của ta. Ta có thể phát triển sự tỉnh thức tâm
ý mình bằng cách tập trung sự sáng suốt và thông minh mình
vào việc mình đang làm.
Chỉ
thử giản dị quan sát mình làm việc thế nào trong một công
việc bổn phận đơn sơ nhất. Mình bắt đầu như thế nào
? Mình tiến hành thế nào ? Ta có thực sự hiểu biết những
gì ta muốn làm không ? Ta có ngó tới đằng trước cứ điểm
ta đang muốn đạt tới ? Hãy nhìn kỹ những hiệu quả hành
động ta từ một cái nhìn thẩm thấu lớn rộng đồng thời
quan sát mọi chi tiết của hành động mình. Mình có trực
thức về những hiệu quả của mỗi bước vận hành mình
đang đi ?
Khi
mình khai triển sự tỉnh thức tâm ý, mình trở nên có khả
năng nhận xét những sơ suất lơ đễnh trong việc trực thức
đã tác động ảnh hưởng thế nào đến nhịp điệu, tiết
điệu công việc mình. Lúc mình làm việc với tất cả sự
thức tỉnh tâm ý những cử động vận hành của mình đều
được xuôi chảy nhịp nhàng đẹp đẽ và những tư tưởng
mình trở nên trong sáng và được sắp xếp trật tự đàng
hoàng và những cố gắng nỗ lực mình trở nên rất hữu
hiệu. Vì nhờ mình đồng điệu sâu thẳm với từng giai đoạn
việc làm của mình và với hậu quả của từng hành động
cho nên mình cũng có thể tiên đoán ngay cả những kết quả
của việc làm. Ta trở nên trực thức về duyên do động lực
thúc đẩy những hành động của ta, và học cách nắm lấy
ngay bất cứ khuynh hướng quên lãng hay lầm lẫn. Lúc mà chúng
ta trở nên thuần thục trong việc tỉnh thức tâm ý chúng
ta có thể đi sâu vào sự hiểu biết bản năng ta và những
hành động ta.
Việc
phát triển sự trong sáng, sự tập trung tâm thần và sự thức
tỉnh tâm ý có thể giáo dục ta trong mọi đường hướng
không thể thấy xảy ra trong một lớp học, vì đối tượng
của sự thẩm sát ở đây là chính bản chất nội tại của
ta mỗi một bước tiến của tiến trình dẫn đến sự tự
trị lớn rộng hơn lên, dẫn đến một phẩm chất chính xác
tinh tế quán triệt khả dĩ hỗ trợ nâng đỡ thêm nữa sự
tự khám phá bản thân. Sức mạnh và sự trực thức đạt
được theo cách ấy giúp ta kiểm soát hướng đi và mục đích
đời sống mình. Tất cả mọi hành động của chúng ta phản
ảnh lại một mềm vui sướng tự nhiên, và đời sống cùng
việc làm mang chứa một phẩm chất nhẹ nhàng thỏa thích,
khả dĩ tiếp liệu nuôi dưỡng ta trong tất cả mọi việc
ta làm. Cuộc đời trở thành một nghệ thuật, một sự hiển
đạt việc tương hành ứng đáp luân lưu của thể xác ta,
tâm thức ta và cảm quan ta đối với mỗi một kinh nghiệm
trong đời sống ta. Ta có thể tin cậy nơi chính ta để thành
tựu những nhu cầu nội tại nhất của ta, và như thế ta
trở thành thực sự tự do giải thoát.
Sự
tự do nội tại cho ta dùng được trí thông minh ta một cách
khôn ngoan; chỉ một lần học được cách sử dụng trí thông
minh ấy, thì chúng ta không thể bao giờ đánh mất sự sáng
suốt và lòng tin tưởng nó mang đến cho ta. Niềm tự do và
sinh lực tràn trề này đều ở trong tầm tay ta. Lúc ta trực
thức được những khả tính phát trỉển niềm tự do nội
tại, ta có thể bắt đầu cởi mở đón nhận sự vui sướng
khỏe mạnh và thỏa mãn bao quanh ta. Việc tự hiểu biết mình
sẽ xui khiến ta được nhập kiến sâu thẳm hơn nữa, được
thông cảm hiểu biết nhiều hơn nữa và một cảm trạng thanh
bình tâm thức. Ta sẽ lớn mạnh lành khỏe trong thể xác cũng
như tinh thần, công ăn việc làm ta, gia đình và những giao
tế ta trong đời sống trở nên có ý nghĩa hơn nữa. Ta sẽ
có thể thành tựu những mục đích vạch sẵn một cách dễ
dàng thư thái. Lúc ta đạt được niềm tự do nội tâm ta
sẽ khám phá một niềm vui sướng khoái cảm sâu thẳm và
trường cửu trong tất cả những việc làm của mình.
Tôi
đã dịch trọn chương đầu của quyển Skillful Means (Phương
Tiện Thiện Xảo). Bản dịch này thì khác với bản dịch
đã xuất bản năm 1993, và đó là lần dịch đầu tiên vào
năm 1983; (Bản dịch đã xuất bản năm 1993 đã được tôi
dịch vào sáu năm sau, 1989). Thực ra những gì Tarthang Tulku
thuyết giảng ở đây cũng chẳng có gì gọi là mới lạ.
Ðạo lý ngàn đời của nhân loại quanh đi quẩn lại cũng
mấy điều vô cùng giản dị, nhưng nếu chúng ta có đủ sự
thức tỉnh tâm ý bén nhạy thì chính đôi điều vô cùng giản
dị ấy sẽ chuyển hóa đời sống ta một cách toàn triệt.
Ðời sống con ngưòi càng lúc càng trở nên khó khăn, thỉnh
thoảng đâu đây được nghe lời bình dị đi thẳng vào trực
thức đời sống thì chúng ta cảm thấy những gì cao siêu
nhất thật ra chỉ là những gì mình đã vô tình quên lãng
một cách vô ý thức trong những mong đợi bất tận của ý
thức điên đảo.
Sự
giải thoát tự do từ bên trong tâm hồn chỉ xuất hiện khi
nào chúng ta đánh thức lại từng cử chỉ, từng ý tưởng
nhỏ nhặt nhất thoáng hiện trong lòng, từng cảm giác tế
nhị, kín đáo len lỏi trong tâm thức ta, từng hành động
hành vi vô tình nhất, từng hơi thở mong manh, từng cái nhìn,
từng dáng đi, từng lời nói vô nghĩa nhất... mỗi giây phút
trong đời sống đều bất ngờ mới lạ; tất cả mọi tuyệt
vọng đều phát khởi từ sự đánh mất cảm nhận thức tỉnh
về sự chuyển hóa liên tục của vũ trụ và của tâm thức,
khi mà chúng ta bình thản lắng lòng đi sâu vào sự im lặng
sâu thẳm của thể tính.
Hãy
nghe lời nhắc nhở vô cùng đơn giản sau đây của Tarthang
Tulku trong lời Tựa quyển sách: “Thực ra không hề có giới
hạn nào đối với những gì ta có thể thành tựu được
trên đời này, nếu ta thực sự biết đoán nhận tán thưởng
tất cả những cơ hội mà đời sống đã cung hiến cho ta”.