THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
.
ỐC ĐẢO TỰ THÂN
PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM THANH TỊNH
Tác Giả: Ni Sư Ayya Khema - Việt Dịch: Diệu Liên Lý Thu Linh
Dịch từ bản tiếng Anh: Be An Island The Buddhist Practice of Inner Peace 
 Wisdom Publications 1999
Khái Niệm Giải Thoát

Chương 23
Giải Thoát Ngay Trong Giờ Phút Hiện Tại

   Khi nghe hay đọc được hai chữ 'giải thoát' (Niết bàn), ta thường nghĩ rằng đó là điều không thể đạt đưọc.  Điều đó thuộc về một thế giới nào khác, chỉ có những bậc thánh mới có thể chứng  đưọc, còn phàm phu như chúng  ta thì khó thể đạt được. Tuy nhiên ta không cần phải nghĩ về Giải thoát như thế. Hãy thử xét về ba thứ giải thoát: vô tướng, vô tham và không. Sự  giải thoát về hình tướng có thể đạt được bằng cách quán về vô thường  (anica), giải thoát vô tham bằng cách quán về khổ (dukkha) và giải thoát về cái Không bằng cách quán vô ngã (anatta).

   Tất cả chúng  ta đều quen thuộc với khái niệm vô thường, nhưng  giải thoát vô tướng là gì? Giả thử như chúng  ta cảm thấy quyến luyến, trân trọng  một người, một nơi chốn hay một sở hữu nào đó.  Chúng  ta có thể dứt bỏ sự  bám víu đó không? Câu trả lời là chúng  ta có thể dưt bỏ tất cả mọi bám víu, dầu vi tế tới đâu. Bằng cách nhấn mạnh vào yếu tố là mọi thứ đều qua đi trong  thoáng  chốc. Chúng  ta quán sự thật đó trên tất cả mọi sinh vật, nhìn ra được tính vô thưòng  của vạn vật, thì chúng ta mới có thể dứt bỏ được lòng  tin vào sự thường  hằng  của mọi vật. Từ đó có thể dứt bỏ được lòng  bám viú. Nếu chúng  ta có thể quán chiếu như thế với bất cứ điều gì, bất cứ ai, dầu chỉ trong  chốc lát, là ta đã đạt được giây phút giải thoát vô tướng  -giây phút của trực giác biết rằng  không  có vật gì trên thế gian có giá trị vĩnh cửu, tất cả chỉ là những giây phút thoáng qua. 

   Biết được như thế, dù chỉ trong  giây phút ngắn ngủi, cũng  đủ để ta nghiệm đưọc cái mà Đức Phật  gọi là tự do giải thoát.  Tự do thường  được hiểu lầm là khả năng  làm bất cứ điều gì ta muốn làm. Có lẽ chúng  ta cũng  từng thử qua, và biết rằng  đó không  phải là sự thật.  Ngay nếu như ta được tự do để theo đuổi tất cả những  ham muốn của mình, chẳng bao lâu ta cũng  sinh chán, và cảm thấy muộn phiền. Tự do ở đây không có nghĩa là không  bám víu, thơ ờ mà là ta đã tìm đưọc đến sự thật tuyệt đối. Để có thể hiểu rõ hơn, hãy thử trong một phút, từ bỏ tất cả những gì ta coi là sở hữu của mình, những gì ta coi là của báu, quan trọng nhất trong đời.  Ta quán chiếu về chúng cho đến khi tính chất hoại diệt của chúng trở nên thật rõ ràng. Giây phút giác ngộ sẽ đến khi ta có thể nói: 'Tôi không  cần phải sở hữu vật đó, tôi có thể sống  không  cần nó".  Đó là giây phút của sự thật. Ta có thể đạt đưọc những  giây phút đó, nhưng  chúng  không  đến một cách tự nhiên. Chúng  ta phải thực tập quán chiếu về sự bám víu của mình và cố rèn luyện để cởi bỏ chúng ra. Buông  xả, nghe thì dễ làm, và có thể cũng  dễ thật, sau khi nó đã xảy ra.  Nhưng  trước đó, nó đòì hỏi chúng  ta phải tự soi rọi lại mình.

   Giây phút giải thoát về sắc tướng  cũng  có thể đạt đưọc bằng một hình thức khác.  Giả dụ, có thể ta có cảm giác khó chịu nơi thân, khiến ta muốn nó biến mất đi. Khi ta thực sự quán về tính vô thường  của cảm thọ nầy -khi ta nhìn thấy được nó chẳng có một thực thể hay thật sự nghiêm trọng, ta có thể buông  xả, không  phản kháng, dầu chỉ trong  giây phút, và nói: "Không  sao. Chỉ là một cảm giác thôi"- lúc đó, ta đã biết thế nào là giải thoát khỏi sắc tướng. Khi chúng  ta thấy rằng  không có gì trường  tồn, tất cả đều chỉ thoáng  qua, trôi đi, chuyển đổi từng  giây phút, chúng  ta sẽ không  còn thấy bị trói buộc. Chúng  ta có thế áp dụng  cách thực hành nầy đối với suy nghĩ, cảm thọ hay những cảm giác nơi thân.

   Bước đầu, ta có thể tập nhận thức về sự bám víu của ta với thân. Thí dụ ta thường quan tâm xem bề ngoài ta có dễ nhìn không, có ăn mặc đàng  hoàng, có khỏe khoắn, ăn ngon, có thỗi mái đủ không. Nhưng  khi ta quán đến bản chất thường hoại diệt của thân, sự bám víu của ta có thể bớt dần đi. Thay vào đó là cảm giác của xả. Ta sẽ không  còn quan tâm, lo lắng nếu ta còn hay mất thân nầy. Đó mới thực sự là giây phút của tự do, giải thoát, nhưng giây phút đó tự nó không  thể xảy đến cho ta. Ta phải luôn tự nhủ mình, từng  giây từng  phút rằng  sự sống  không  phải vĩnh hằng mà chỉ có khi nào nghiệp lực ta còn (kamma-vipaka), và nghiệp lực có thể bỏ ta đi bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại sao Đức Phật khuyên ta hằng  ngày phải tự quán rằng: "Bản chất của thân là tự hoại diệt".  Chúng  ta luôn sống trong trạng thái hoại diệt, ngay giây phút nầy, chứ không phải đợi đến hai mươi năm sau hay khi nào ta đã chuẩn bị sẳn sàng.

   Mọi người đều biết mình phải chết -không  có gì lạ hết. Đức Phật chẳng  bao giờ dạy chúng ta điều gì không tưởng. Chỉ có điều là Ngài đã khuyên chúng ta hãy quán sát những việc đó bằng  con mắt khác.  Phải quán sát thật sâu lắng về sự thật là thân nầy không thể tồn tại mãi, dù chúng ta có cố gắng gìn giữ nó đến đâu, những cố gắng nầy cũng vô ích, hòai công.  Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là ta không nên chăm sóc, bảo vệ thân.  Ta vẫn cần phải tắm rửa, giữ gìn nó sạch sẻ, nuôi dưỡng  nó, thuốc thang nó, nhưng chúng ta cũng chỉ có thể làm được đến thế. Vì thân hoại cũng là chuyện bình thường.

   Giây phút của tri kiến thực sự là giải thoát. Cảm giác được buông  xả, giải  thoát có tác dụng  thật tuyệt vời. Nó giúp ta tu tập rốt ráo hơn vì hiểu rằng  thời gian thôi thúc sau ta -khiến ta không  buông  lung, do dự vì ngoại cảnh hay vì những lời bàn ra tán vào của người chung quanh. Đạt đưọc giải thoát không  phải là một việc ngoài tầm tay của những kẻ phàm phu như chúng ta.  Nếu không, thì giáo lý của Đức Phật sẽ chẳng giúp đỡ đưọc ai.

   Để biết thế nào là giải thoát vô tham cầu, ta có thể quán trên các phiền não, khổ đau phát khởi trong  tâm trí ta mỗi khi ta mong  cầu điều gì đó. Nhưng  khi ta dứt bỏ đưọc lòng  tham cầu, ta sẽ cảm thấy nhẹ nhỏm. Tuy nhiên đau khổ không  chỉ xảy ra khi ta không  đạt thành ước nguyện, nhiều khi là ngược lại. Người xưa đã nói khi ta thật sự mong muốn điều gì đó, ta sẽ đạt được. Nhưng vấn đề là chúng  sanh phần đông  không  biết họ muốn gì, không biết điều gì thật sự mang lại hạnh phúc cho họ. Thật ra khổ đau đã ươm mầm trong  ái dục, khiến ta phải lo âu, sợ hãi.

   Lòng  tham cầu cũng  tạo nên một quá trình tư duy không  nằm trong  giây phút hiện tại, mà ở tương  lai, với niềm hy vọng lòng mong cầu có thể  đưọc thoả mãn.  Dĩ nhiên là tương lai ít khi trở thành điều ta mong  muốn, nhưng vì phiền não là ở ngay lòng  tham cầu, chưa cần biết đến kết quả ra sao, nên chỉ cần dứt bỏ đưọc lòng tham cầu là đã đưọc coi như giải thoát. 

   Khi chúng  ta quyết chí buông  bỏ lòng  ham muốn vật chất, cảm giác thoải mái, nhẹ nhỏm sẽ làm gia tăng  sức mạnh nội tâm. Tâm ta sẽ trở nên thuần thục hơn, biết quay lưng  lại với những  thói quen buông  lung  cũ, do  đó tạo ra trong  ta một cảm giác hoàn toàn tự tin nơi chính bản thân. Chúng  ta càng  buông bỏ đưọc nhiều tham cầu, tâm ta càng  thêm mạnh mẽ. 'Sức mạnh' ở đây hoàn toàn không  hàm chứa ý nghĩa có sức mạnh hơn người khác, ở đây chỉ là sự mạnh mẽ hơn đối với bản thân. Điều đó khiến ta hiểu vì sao từ con người của Đức Phật phát ra bao sức mạnh, nhưng  mọi người vẫn thấy muốn đến gần với Người. Điều đó có thể ví như một nhà máy phát điện, từ đó phát ra năng  lượng  cho mọi người.  Chúng ta cần thực tập những giây phút giải thoát khỏi tham cầu, ái dục. Có thể là ăn uống, giải trí, mua sắm, du lịch, tri thức hay phiếm luận. Bất cứ là gì, ta cố gắng  buông  bỏ chúng, nhận thức đưọc rằng ta thực  sự không  cần đến chúng. Hành động  buông  xả các tham cầu đòi hỏi chúng  ta rất nhiều ý chí, quyết tâm. Nhưng  khi thực hiện được, tâm ta sẽ cảm thấy thật an lạc.

    Muốn có được sự giải thoát về tánh không, ta cần dứt khoát dọn sạch mọi chất chứa trong lòng, biết rằng  chúng  chẳng có giá trị tuyệt đối nào. Tâm càng  bớt chất chứa, càng  được thêm sảng  khoái. Thường  trong  đầu ta chứa đầy ấp bao nhiêu thứ, khiến cuộc sống  của ta thêm nặng  nề, phiền não. Tâm Không  không  có mặt của các hành (suy nghĩ và toan tính). Trong  một phút giây nào đó, hãy thử buông  bỏ mọi tâm hành, ta sẽ cảm giác nhẹ nhỏm làm sao, và đó là cảm giác của sự giải thoát về tánh không. Rồi hãy để các suy nghĩ  toan tính trở lại trong  đầu, ta sẽ thấy rõ ràng  được sự khác biệt là thế nào. Lập tức buồn bực nổi lên, mà thông  thưòng  ta sẽ không  ý thức đưọc vì đã quá quen thuộc với tâm chất chứa đủ các tâm hành. Ta chỉ biết được sự khác biệt nầy nếu như ta có thể nhận thấy được sự nặêng nề, vướng  bận, chộn rộn của các suy tưởng, sánh với những  giây phút vắng  bặt vọng  tâm.  Đó có thể là lần đầu tiên ta mới cảm nhận được bao nặng  nề ta vẫn cưu mang.

   Tất cả mọi chướng ngại dù vi tế đến đâu cũng  đều do vọng  tưởng  phát khởi. Chúng  ta tự đồng  hoá với quá trình tư duy liên tục của mình, rồi từ đó phát sinh ra hành động.  Tuy nhiên không  phải tất cả mọi suy tưởng của ta đều dẫn đến hành động. Nếu ta ngắm vẻ đẹp của buổi hoàng  hôn hay lắng  nghe âm nhạc dịu êm, ta không  cần phải hành động  hay phản ứng, mà chỉ cần tiếp nhận chúng. Không cần phải có phản ứng hay hành động gì với các tư duy của ta, nếu không, điều đó lại tạo ra những vấn đề mới nữa.  Dầu trong tình huống  nào, nếu ta đồng  hoá với quá trình tư duy của mình, ta dễ tạo ra xung đột, nội kết. Vì một khi ta bắt đầu có ý kiến, lập trường, kỳ vọng, lập tức sẽ có ý kiến phản bác ta, tranh cãi sẽ khởi lên rồi nước mắt sẽ rơi vì những  chuyện không  đâu. 

   Tất cả mọi thiền sinh đều biết rằng  các vọng  tưởng  khởi lên trong tâm chẳng có giá trị gì. Khi ta cần chú tâm quán niệm, các vọng tưởng chỉ làm chướng  ngại ta. Nhưng  ngay cả khi ta không  đang  hành thiền, chúng cũng gây chướng  ngại. Không  có gì khác biệt. Tâm là tâm. Ta có thể chứng  nghiệm cảm giác giải thoát của tánh không  bằng  một phương  pháp khác nữa. Khi quán về các liên hệ giữa khổ, vô thường, vô ngã, ta sẽ nhận ra được tướng  không  của tất cả mọi hiện hữu. Thí dụ khi ta thấy mây bay trên bầu trời hay gió thổi trên các cành cây, cũng  như khi ta cảm thấy nhịp đập của tim, hơi thở ra vào. Tất cả vũ trụ cũng  biến đổi không  ngừng.  Trong qũy đạo của muôn biến chuyển đó, ta sẽ không  thể tìm thấy gì để bám víu, nắm giữ. Không  có gì cố định ở bất cứ nơi nào. Nhận thức được như thế sẽ giải thoát ta khỏi ham muốn, bám víu, khỏi luân hồi, nghiệp quả khổ đau. Chúng  ta bám víu vì sợ mất mát, ái dục vì sợ không  có hay không  hiện hữu. Sự lo âu, sợ hãi là bản tính thường  hằng  của kiếp con người tầm thường. Chỉ khi ở trong  những  điều kiện cao hơn, con người mới không  có sợ hãi, vì không  còn có gì để đưọc hay mất nữa.

   Chúng  ta tham đắm, bám víu vào những  gì ta coi là quan trọng, quý báu. Giải thoát khỏi ái dục, bám víu, không  có nghĩa là ta trở nên vô tình đối với tha nhân. Nhờ trí tuệ giải thoát giác ngộ, Đức Phật đầy lòng  từ bi đối với chúng  sanh. Ngài nhìn thấy tất cả chúng  sanh đều khổ đau vì lòng  tham đắm, bám víu. Trong  khi Đức Phật đã diệt tận được mọi  ái dục, lòng  từ bi của Ngài không  hế bị chi phối bởi những ích lợi của bản thân, vì thế ngài có thể ban tặng  tất cả cho mọi người. Chúng  ta có thể bắt đầu tiến bước đến sự hoàn thiện nầy, để có được những  giây phút an nhiên tự tại. Điều đó có thể thực  hiện đưọc.

   Sự giải thoát không  thể được ban phát đến cho ta bởi một đấng  tối 
thượng  nào như thể một huy chương  vàng  của sự gia hộ. Trái lại muốn đưọc có giải thoát, đòi hỏi chúng ta phải chánh niệm từng  phút giây, phải thanh tịnh hóa mọi nhiễm ô đến tận cùng. Khi đạt được những  giây phút không có ái dục, tham cầu, ta phải trân trọng, chăm chút từng giây phút đó, để chúng  trở thành thân thuộc, để ta có thể lập  lại những  giây phút đó thường  hơn. Mỗi khi ta không  hoàn toàn làm chủ tâm mình, các điều ác lại có cơ hội làm chủ nó. Có lẽ vì thế ta thấy rất ít người được hạnh phúc trên cõi đời nầy.  Vì hạnh phúc không  phải là điều tự nhiên mà có, nó đòi hỏi rất nhiều nỗ lực vun trồng. 

   Nếu hạnh phúc là một điều kiện của nội tâm, thì sự bình an tự tại cũng  không  phải là điều dễ tìm ở bên ngoài. Nếu được thế, có lẽ tất cả mọi chúng  sanh đều được tự tại. Ta chỉ có thể được tự tại nếu biết buông  xả. Vấn đề của chúng  ta là phải quán sát xem ta chấp vào cái gì, để có thể tu sửa về điều đó, dù đó là gì. Đối với đa số chúng  ta, đó chính là thân. Tất cả chúng  ta đều phải rời bỏ nó một ngày nào đó. Có lẽ tốt hơn ta nên tập chuẩn bị cho ngày đó, ngay giây phút nầy phải biết buông  xả để được nhẹ nhàng, thanh thản, thay vì chờ đợi đến giây phút cưối cùng.  Chúng  ta tự chuẩn bị bằng  cách thực tập để được có những  giây phút giải thoát. Để có được giây phút giải thoát vô tướng, ta phải chứng  nghiệm những  giây phút của vô thường, không  được trốn tránh điều đó.  Để được có giây phút giải thoát vô tham cầu, ta có thể tự giác rằng  mọi ham muốn đều đưa đến khổ đau, phiền não, để có thể diệt bỏ từng ham muốn. Nếu chúng  ta có thể mỗi ngày diệt bỏ một ham muốn trong  một năm, ta sẽ thay đổi biết chừng  nào. Khi đã bỏ được một ham muốn, ta cũng  có thể làm thế với mọi ham muốn khác. Năng  thực hành sẽ khiến ta thêm hoàn hảo. Vạn sự khởi đầu nan.

    Để được có giây phút giải thoát của vô thường, ta có thể quán chiếu rằng  mọi tâm hành đều là sự bùng  nổ của những  bản năng vô thức. Đôi khi các bản năng  nầy đi theo nhau, kết hợp với nhau một cách vô nghĩa. Nếu ta tin nơi chúng, coi chúng  là mình, rồi đem chúng  vào trong  làm tiêu chuẩn để đối xử với người chung  quanh, ta sẽ phải than van:  "Tại sao họ lại có thể nghĩ như thế chứ?" Tốt nhất là chúng  ta dừng  mọi phán đoán lại, chỉ cần biết có những gì ngay trước mắt để được giải thoát tự tại.

   Nếu ta nhìn được tính vô thường  và tính khổ đau trong  vạn pháp, thì ta dễ dàng tìm được sự giải thoát của tính không. Nếu không  có gì bền vững, không có gì đem lại chân hạnh phúc, thì tất cả chỉ còn là những hình ảnh thoáng  qua phát khởi do dục vọng. Thì dụ, ta có được thiền đường nầy vì có người muốn có nơi ngồi thiền.  Người kia có mặt vì muốn có một đứa con. Nghiệp tái sinh khiến đứa bé muốn được sống. Tất cả mọi hiện hữu đều phát khởi do lòng ham muốn, mà còn ham muốn là  còn khổ đau.

   Lúc đầu khi quán vể khổ đau, có thể khiến ta có phản ứng: "Có ích lợi gì khi ta làm như thế? Tôi có mặt ở đây để làm gi?"   Lý do của sự có mặt của chúng ta là để quán chiếu về sự thật của vô thường, khổ và vô ngã, để thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng  ta có thực sự muốn bắt đầu lại cuộc sống, với hy vọng  có thể làm tốt hơn? Hay chỉ tiếp tục sai lầm cho đến khi chúng  ta học được bài học. Khi ta có thể buông  bỏ mọi vọng  tưởng, để được tự do, giải thoát, ta sẽ biết rằng  không  thể có gì xảy ra nếu không  có ái dục. Và ta nếm trãi được những  giây phút của tánh không bằng quán chiếu và tuệ giác.

Chúng  ta không  cần phải quan tâm đền điều gì sẽ xảy ra sau khi ta mất. Ta chỉ cần chánh niệm ngay giờ phút hiện tại và luôn tinh tấn tu tập. Ai cũng  cần tu sửa, vì thế nếu ta không  dùng  thời gian của mình vào việc đó, ta đã sống  phung  phí thời gian, không  có mục đích sống. Ta đã từng  chỉ sống để mà sống. Trong  khi tất cả cuộc đời của ta là phải dành để phát triển trí tuệ.  Mỗi ngày như thế cho suốt cuộc đời.


Chương 24
ĐẠO QUẢ




Bản tánh con người đầy tham vọng.  Người muốn giàu có quyền thế, danh vọng.  Kẻ mong có nhiều kiến thức, cấp bằng cao.  Người khác nữa lại muốn tìm đưọc một người tình lý tưởng, càng hoàn hảo càng tốt.  Cũng có người chỉ mong có một tổ ấm nhỏ, an phận với cuộc sống mỗi ngày như mọi ngày, không thay đổi.

Ngay khi sống trong các tu viện, chúng ta cũng mong muốn đạt đưọc các thiền quả, đưọc hoàn toàn thanh tịnh, mong cuộc sống tu hành của ta đạt đưọc nhiều kết quả mỹ mãn.  Lúc nào cũng kỳ vọng một điều gì đó.  Thay vì chú tâm sống với hiện tại, ta lại hoài vọng một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ đến, vào ngày mai, trong tương lai. Thế nhưng khi ngày mai đến, ta lại tiếp tục hy vọng cho ngày kế tiếp đó.  Nếu ta có thể thay đổi thói quen tư duy đó để chú tâm vào hiện tại, có lẽ ta sẽ cảm thấy an nhiên tự tại hơn.  Trái lại nếu ta cứ chạy đuổi theo một tương lai tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn, như ý hơn thực tại đang có, ta sẽ chỉ tìm đưọc sự thất vọng.   Vì ta đã hoài công đi tìm cái không có thực.

Đức Phật nói về hai hạng người, người tầm thường (phàm nhân, puthujjana) và người cao thượng (thánh nhân, ariya).  Dĩ nhiên muốn đưọc trở thành thánh nhân, là một ước muốn đáng khích lệ, nhưng nếu ta chỉ mong cầu điều đó sẽ xảy trong một tương lai nào đó, ta sẽ không bao giờ được thõa nguyện.  Sự giải thoát chỉ có thể đạt đưọc trong từng phút giây sống với hiện tại.   Thánh nhân và phàm nhân chỉ khác nhau ở sự thực chứng về “Đạo và Quả” (magga – phala).  Đạo quả đầu tiên khi tâm thức đạt đưọc trạng thái siêu việt được gọi là Quả Dự lưu (sotapatti) và vị chứng quả đó đưọc gọi là Dự lưu nhân (sotapanna).

Vị chứng đưọc quả Dự Lưu là người đã diệt đưọc ba thứ kiết sử mà vì chúng, ta cứ mãi sinh tử luân hồi.  Ba kiết sử này là : thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.  Người chưa phải là bậc Dự lưu thì vẫn còn bị trói buộc vào ba loại tà kiến nầy, và hành động sai lầm khiến họ càng xa rời tự do giải thoát, đi vào trói buộc hơn.

Trước hết, hãy thử xem xét về lòng hoài nghi.  Đó là những ý tưởng vụn vặt cứ luẩn quẩn trong đầu: “Một pháp tu nào khác, chắc dễ dàng hơn”, “Có lẽ ở một nơi nào khác, tôi sẽ đưọc an lạc hơn".  Khi nào ta vẫn còn nghi ngờ về con đường giải thoát khỏi thế gian; còn tin tưởng rằng ta có thể tìm đưọc điều như ý ở thế gian, thì khi đó ta còn khó có cơ hội để đắc thánh quả, vì ta đã đi lầm đường.

Trong thế giới nầy: con người, vật chất, quyền lợi, thiên nhiên, cầm thú, không có gì mà ta chưa từng biết đến.  Nếu còn có gì khác, tại sao chúng ta  lại không biết đến, lại chưa tìm ra?  Những điều đó phải thật hiển nhiên chứ.  Vậy ta đang tìm kiếm điều gì?

Dĩ nhiên là chúng ta như mọi người khác, đang tìm kiếm hạnh phúc và an bình.   Anh chàng Hoài nghi, luôn dự báo rằng: “Lần sau, nếu tôi khôn ngoan hơn, tôi chắc là sẽ thành công.  Còn bao nhiêu thứ tôi còn chưa nếm trãi”.  Có thể ta chưa được lái chiếc máy bay riêng của mình, chưa thử sống trong hang động Hy Mã Lạp Sơn, chưa dong thuyền chu du khắp thế giới, chưa viết đưọc quyển tiểu thuyết bán chạy nhất; tất cả những điều kỳ thú này đều đáng đưọc thực hiện trong đời, nhưng chúng chỉ làm lãng phí thời gian và năng lực của ta, mà chẳng giúp gì đưọc trong việc đem lại sự thanh tịnh cho nội tâm. 

Lòng hoài nghi sẽ lộ diện khi ta không có mục đích, phương hướng, không biết rõ mình phải làm gì: “Tôi đi về đâu?  Tôi phải làm gì?"  Ta chưa tìm đưọc phương hướng.  Lòng hoài nghi là một kiết sử phát khởi trong tâm khi sự thông suốt -sự thông suốt của giây phút chứng quả- vắng mặt.  Tâm thức khởi sinh trong giây phút chứng đưọc đạo quả sẽ hủy diệt mọi hoài nghi vì lúc đó, ta đã tự chứng được đạo. Cũng như khi ta cắn quả xoài, ta tự biết được mùi vị của quả xoài.  Khi ấy ta không cần phải cố gắng, lòng hoài nghi cũng bị hủy diệt.  Còn gì phải nghi ngờ nữa, khi chính ta thực chứng?  Như khi ta tự đóng búa vào tay, ta biết đưọc cái đau ngay, không nghi ngờ gì cả.  Đó là sự hiểu biết do kinh nghiệm mang đến.

Nhận thức sai lầm về tự ngã là một chướng ngại gây nhiều tai hại nhất  mà phàm nhân bị trói buộc vào.  Tà kiến nầy chứa đựng ý thức sâu thẩm về sự hiện hữu của một cái ngã.  Đây là tôi, là 'một ai đó' đang hành thiền.  Rồi 'cái tôi đó' cũng muốn đưọc giác ngộ, muốn đắc quả Dự Lưu, muốn được hạnh phúc. Tà kiến về tự ngã này là nhân của mọi phiền não. 

Vì còn có ngã, còn có ai đó, nên người đó vẫn còn phiền não.  Nếu không còn có ai, thì làm gì có vấn đề phiền não?  Tà kiến về tự ngã là gốc rễ tạo ra bao đau khổ, phiền não cũng như sợ hãi, lo lắng: “Không biết tôi có đưọc bình an, hạnh phúc?  Có đạt đưọc điều tôi tìm kiếm, mong mỏi?  Có đưọc khỏe mạnh, giàu có, khôn ngoan?"   Những nỗi lo lắng, sợ hãi này được hỗ trợ thêm bằng các kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ.  Trong quá khứ, không phải lúc nào ta cũng đưọc khoẻ mạnh, giàu có, khôn ngoan, an nhiên tự tại, hay luôn đạt được điều ta mong muốn.  Do đó, khi tà kiến về tự ngã vẫn còn trùm phủ, ta vẫn còn có lý do để lo âu, sợ hãi. 

Lễ nghi, cúng tế tự chúng không sai quấy, nhưng chấp rằng chúng là con đường đưa đến Niết bàn thì rất tai hại.  Chúng cũng không nhất thiết mang tính tôn giáo, dầu ta vẫn thường nghĩ chúng là thế -thí dụ như dâng hương hoa lên bàn thờ, tế lạy hay tổ chức các buổi lễ, và tin rằng làm như thế sẽ giúp ta tích lũy đủ công đức để lên đưọc cõi trời.  Tuy nhiên, chính sự thành tín, kính trọng và biết ơn đối với Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) mới là điều quan trọng.  Nhưng  các nghi thức, lễ nghi đâu chỉ giới hạn trong các hoạt động tôn giáo. Trong các mối tương giao giữa con người với nhau, chúng ta cũng có những quy định trong đối xử với cha mẹ, con cái, vợ chồng. Ta cư xử như thế nào với đồng nghiệp, với bạn bè, với người xa lạ; ta mong người khác đối xử với mình như thế nào -tất cả đều tùy thuộc vào những định kiến về cái đúng, cái chuẩn mực trong một văn hóa, truyền thống nào đó. Không có một căn bản chân lý  nào trong các quy ước đó, vì tất cả chỉ là sản phẩm do tâm tạo ra. Càng có nhiều lễ nghi, ta càng xa rời thực tế. Càng tin tưởng vào các phong tục, các truyền thống cỗ hủ, càng khó bỏ, khi chúng không còn thiết thực.  Khi ta nghĩ mình là một loại người nào đó, ta sẽ có cách ứng xử, giao tế như thế trong mọi tình huống.  Do đó nghi thức, lễ nghi không chỉ là việc chưng hoa trên bàn thờ.  Nó còn sai sử ta phải giao tiếp, ứng xử như thế nào,  nếu như ta chỉ biết hành động theo khuôn phép đã định sẳn, chứ không phải bằng tâm phóng khoáng, cởi mở. 

 Ba kiết sử trên sẽ bị tiêu trừ khi ta chứng đưọc Đạo Quả.  Sẽ có một sự thay đổi rõ ràng nơi vị chứng đắc đó, dầu rằng không thể nhìn thấy ở bên ngoài.  Không có hào quang, không có ánh sáng, nhưng sự thay đổi ở nội tâm thực sự đã xảy ra.  Sự thay đổi đó khiến cho mọi lo âu về cuộc đời tan biến.   Trạng thái này hoàn toàn khác hẳn với mọi kinh nghiệm ta đã biết từ trước, đến nỗi, người ấy thấy những gì đã tạo ra trong đời, cho đến giờ phút ấy đều trở thành vô nghĩa. Không có gì trong quá khứ còn quan trọng nữa.  Điều quan trọng duy nhất là tiến bước với công phu tu tập đã có: để tái nghiệm và củng cố kinh nghiệm của giây phút đạt đưọc đạo quả đầu tiên.  Ta cần làm sống lại giây phút chứng quả đầu tiên đó, tiếp tục nghiệm chứng cho đến khi đạt đưọc đạo quả thứ hai.  Ta cần phải tái lập, và củng cố các kinh nghiệm nầy của tâm.

  Các vị Nhất–lai (sakadagami), Bất–lai (anagami) và A-la–hán (arahant) lại sẽ đưọc có những giây phút của tâm chứng đắc Đạo Quả.  Mỗi lần như thế, các tâm chứng càng thâm sâu hơn.  Có thể so sánh sự kiện nầy với các kỳ thi ở đại học. Thí dụ, nếu ta chọn một chương trình học bốn năm để lấy bằng cấp.  Mỗi năm ta phải qua các kỳ thi cuối khóa.  Ta phải trả lời đưọc các câu hỏi trong mỗi kỳ thi, dựa trên các kiến thức mà ta đã tích lũy.  Qua các kỳ thi, các câu hỏi ngày càng trở nên sâu sắc hơn, khó khăn hơn.  Dầu cũng chỉ liên quan về một môn học, các câu hỏi đòi hỏi người sinh viên phải có kiến thức sâu rộng hơn. Cứ thế cho đến khi người sinh viên tốt nghiệp ra trường.  Sự phát triển tâm linh của chúng ta cũng thế.  Mỗi giây phút của tâm chứng nầy là dựa vào tâm chứng trước, liên quan đến cùng một chủ đề, nhưng ngày càng thâm sâu hơn. Cho đến khi ta vượt qua kỳ khảo hạch cuối cùng, để không còn bao giờ phải quay trở lại luân hồi tái sinh.

 Tâm chứng đắc không có tư duy hay cảm thọ trong đó. Không giống như các tầng thiền định (jhana), dầu rằng nó cũng phải dựa vào các tầng thiền định đó (vì chỉ có tâm định mạnh mẽ mới có thể chứng Đạo).  Nó không có cùng các tính chất.  Các tầng thiền – trong các giai đoạn đầu – đầy tính hỷ lạc, an tịnh. Ở các giai đoạn sau, tâm trở nên bao la, trống trỗng, có sự thay đổi về nhận thức.  Sự chứng đắc trái lại không bao hàm các trạng thái tâm này, mà tràn đầy tính vô ngã.  Nó đến như một sự giải thoát, thay đổi hoàn toàn cái nhìn của vị thánh chứng về thế giới chung quanh, đến đỗi giờ thì vị ấy có thể hiểu được tại sao Đức Phật đã dạy về sự khác biệt rõ ràng giữa một phàm nhân và thánh nhân. Trong khi các tầng thiền quả mang đến cảm giác nhất như, nhất thể, tâm chứng Đạo đã bỏ các cảm giác đó lại. Những giây phút tiếp theo đó của tâm chứng đắc, là một chứng nghiệm về một cái nhìn hoàn toàn mới. 

 Sự hiểu biết mới mẻ này giúp ta nhận thức được rằng mọi suy tưởng, mọi cảm thọ đều là khổ (dukkha).  Dầu cho đó là ý tưởng cao quí, cao thượng nhất cũng mang  tính khổ. Chỉ khi nào không có gì nữa cả, mới không còn có khổ.  Tính Không -không có cái trong, cái ngoài- mới mang tính chất hoàn toàn như như.  Một khi ta đã nhận thức đưọc rõ ràng như thế, ta sẽ không còn lòng ham muốn về bất cứ điều gì.  Ta nhìn mọi thứ như bản thể chân thật của chúng, và biết rằng không có gì có thể mang lại niềm hạnh phúc của sự tu tập chứng đắc.

 Yếu tố Niết-bàn thật sự không thể diễn tả như là an lạc, vì an lạc hàm chứa ý nghĩ phấn khích. Ta dùng từ ngữ nầy cho các tầng thiền quả, bởi trong đó còn có sự vui thích. Yếu tố Niết-bàn không hàm chứa an lạc vì tất cả những gì khởi sinh đều đưọc xem là khổ.  Cụm từ “Niết-bàn an lạc” có thể khiến ta có cảm tưởng rằng ta có thể tìm thấy hạnh phúc tuyệt đối, thật ra đó là điều ngược lại. Ta sẽ tìm thấy có tánh Không -không còn đau khổ, chỉ có an tịnh.

 Nếu chỉ mong muốn, ao ước, Đạo Quả sẽ không tự tìm đến với ta, mà chỉ có sự tỉnh giác chánh niệm từng phút giây mới giúp ta chứng đắc.  Sự chánh niệm nầy dần dần sẽ đưa đến trạng thái tâm định, giúp ta có thể xả bỏ mọi suy tưởng, hoàn toàn ở trong định. Lúc đó, ta có thể bỏ cả thiền quán, không bằng một cố gắng nào, mà nó tự biến mất, nhường chỗ cho tâm định tĩnh hoàn toàn. Nếu cần phải có một tham vọng nào trong đời sống, thì đấy là một tham vọng duy nhất có giá trị.  Không có tham vọng nào khác có thể đem lại cho ta sự viên mãn. 

 Người đã đạt đưọc quả Dự Lưu, sẽ không còn chấp thủ vào lễ nghi và giới cấm, vì một người đã chứng đắc không lẽ gì phải chấp vào hình thức.  Mọi hình thức đều là giả tạo.  Vị ấy có thể vẫn tuân theo các hình thức lễ nghi của tôn giáo vì tính chất trân trọng, hàm ơn, thành tín trong đó.  Nhưng vị ấy không còn giao tiếp với con người hay buộc mình ở trong những hoàn cảnh đầy lễ nghi, đầy hình thức do con người đặt ra để ràng buộc nhau.  Thay vào đó, vị ấy sẽ sống với mọi người bằng trái tim cởi mở, không trói buộc.

 Buông bỏ tà kiến về tự ngã dĩ nhiên là sự thay đổi quan trọng nhất. Đối với vị Dự-lưu, tà kiến về tự ngã không bao giờ còn khởi sinh nữa, nhưng vẫn còn các cảm xúc về ngã, vì giây phút chứng đắc rất hiếm hoi và nhanh chóng qua đi.  Do đó chưa thể tạo nên một tác động sâu xa, tuyệt đối. Nếu không, vị ấy đã đưọc gọi là bậc Giác Ngộ rồi.  Cả bốn quả thánh đều có thể được chứng đắc (như đã ghi trong các kinh Phật) ngay khi ta vừa đưọc tiếp xúc với Phật pháp.

 Điều cần làm là ta phải luôn tự nhắc nhở trong mọi giây phút thức tỉnh rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường, không có bản thể nhất định, luôn thay đổi. Dầu ta có một trực kiến về vô ngã (anatta) hay chỉ có kiến thức về điều đó, ta phải luôn duy trì điều đó trong tâm, sống với nó từng phút giây.  Nếu tiếp tục đưọc như thế, dần dần các vấn đề trong cuộc sống sẽ không còn trở ngại chúng ta.  Nếu ta luôn giác  niệm về tính vô thường của mọi hiện hữu, những khổ đau của ta dường như  không còn quan trọng nữa và cái nhìn về tự ngã sẽ dần thay đổi.

Cái nhìn về tự ngã chính là kẻ thù nguy hiểm nhất của ta. Mỗi người tự tạo ra cho mình một cá tính, một mặt nạ để mang, mà không muốn nhìn thấy những gì ở phía sau chiếc mặt nạ đó.  Cũng không cho phép người khác đưọc biết.  Sau khi đạt đưọc tâm chứng, ta không còn thấy cần thiết phải duy trì một cá tính nào cả.  Tuy nhiên, khi chưa đưọc như thế, nếu có ai tò mò muốn nhìn thấu suốt đến những gì ở phía sau chiếc mặt nạ, thì sẽ chỉ thấy sự sợ hãi, chống đối.  Cách đối trị hữu hiệu nhất là luôn nhớ rằng thật sự không có ai ở đó, chỉ có các hiện tượng mà thôi. Cho dù cái nhìn của nội tâm chưa phát triển đủ để chứng minh điều đó, sự khẳng định nầy giúp chúng ta bớt các chấp thủ, không quá bám víu vào sự vật.
 

 Mục đích của sự tu tập chắc chắn là để hướng về quả Dự-lưu. Tuy nhiên, không có gì để chứng đắc, mà cần phải xả bỏ tất cả. Nếu ta có thể diệt bỏ đưọc tất cả mọi bám víu, thì sự giải thoát, chứng thánh quả mới có thể đưọc thành tựu, nếu không ta lại tiếp tục sống như trước: bị khổ não hành hạ, ràng buộc, quẩn quanh trong cái đưọc mất, tiếng khen chê, sang hèn, hạnh phúc hay khổ đau.  Các phiền não trong cuộc sống -tất cả tạo ra bởi cái “ngã” – sẽ cứ tái diển.  Sự thay đổi thật sự chỉ bắt đầu khi nào có được một sự thay đổi dứt khoát trong cái nhìn của ta về tự ngã.  Nếu không phiền não vẫn tồn tại, vì chúng đưọc tạo ra bởi con người cũ, không có gì thay đổi. 

 Chúng ta có thể đưọc đọc rằng sự xả bỏ, ái diệt là những nấc thang trên con đường đi đến giải thoát và tự do. Tuy nhiên những điều nầy không thể có ý nghĩa hay tác động gì, nếu như ta không có cái nhìn  về một thực tại hoàn toàn khác biệt, một thực tại không chứa muôn dáng vẻ thế gian. Khi ta ngồi thiền mà tâm bắt đầu vọng tưởng, đó là các tướng tâm, là sự phóng tâm (papanca).  Yếu tố Niết-bàn là nhất thể, không đa dạng. Có thể nói nó bặt tất cả những gì mà ta đã biết.  Nếu không thấy đưọc như thế, ta vẫn còn đảo điên trong thế tục.   Nhưng ta cũng không cần phải tin vào tất cả những gì ta thấy, ta nghĩ.  Điều nầy không dễ làm, vì thế chúng ta cần phải luôn tự nhắc nhở để không bị cám dổ dẫn dắt.

 Dĩ nhiên là các giác quan cũng có thể mang đến cho ta các khoái lạc.  Nếu có các nghiệp thiện, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội như thế: Đưọc ăn ngon, tham quan cảnh đẹp, gặp người dễ chịu, đưọc thưởng thức âm nhạc thánh thoát, có nhà đẹp, đọc đưọc sách hay, không bị thân hành khổ.  Nhưng tất cả những thứ nầy có mang lại cho ta hạnh phúc tuyệt đối không?  Trong quá khứ chúng đã không mang đến cho ta hạnh phúc, thì tương lai làm sao có thể khác hơn?  Nhưng Đạo Quả có thể mang lại hạnh phúc tuyệt đối vì chúng vắng bặt các hiện tượng.  Tánh Không không thay đổi, không trở nên khó chịu mà cũng không thiếu vắng sự bình an, vì không có gì để làm xao động nó. 

 Khi nghe hoặc đọc về “Niết-bàn”, người ta hay phản ứng rằng: “Làm sao mà không ham muốn gì cả?”.  Tuy nhiên, khi ta nhận ra rằng mọi ham muốn chỉ là để khỏa lấp sự trống vắng, thất vọng trong lòng, đó là lúc ta sẽ không còn ham muốn gì nữa.  Đạt đưọc tánh không, là một bước trên cả tánh không ham muốn, vì bây giờ con người chấp nhận cái thực tại là không có gì đáng để đòi hỏi, mong muốn.   Tánh không khiến ta có thể chứng nghiệm rằng thực sự có cái không –có sự thanh tịnh. 

 Sống chánh niệm dù lúc ta ngồi thiền hay không là phương pháp tu tập hữu hiệu nhất giúp ta đạt đưọc kết quả.  Có nghĩa là làm từng việc từng lúc, luôn chăm chút đến thân tâm.  Khi nghe pháp, chỉ chuyên tâm nghe. Khi ngồi thiền, chỉ chú tâm vào đề mục thiền quán. Khi trồng cây, chỉ biết trồng cây. Không vẽ vời, không phán xét.  Điều đó giúp tâm quen sống trong từng giây phút.  Chỉ có như thế tâm mới chứng đắc đưọc ngay trong hiện tại, ngay tại đây. Không có lý do gì mà một thiền sinh có đủ trí khôn, khỏe mạnh và quyết tâm như thế, lại không thể đạt được Đạo Quả bằng lòng kiên nhẫn, trì chí của mình.

     Hết

Phụ Lục

Ở Một Ni Viện
Sandy Boucher

   Buổi chiều ở ni viện là thời gian để ngủ nghỉ, tu học hay tĩnh lự.  Đêm trước đó, Ni sư Ayya Khema đã bảo chúng tôi thử tưởng tượng ra mình sắp chết để khám phá ra những thứ mình bám víu trong cuộc đời nầy.  Nếu phải chết, tôi thấy buồn vì không còn cơ hội để được Giác Ngộ, giải thoát.  Đúng vậy, tôi đã ước mơ được như thế.  Nếu không tôi đến đây làm gì? 

   Chúng tôi là bảy phụ nữ từ nhiều đất nước đã đến ni viện Nun’s Island ở Sri Lanka để tu học với ni sư người Đức tên Ayya Khema.  Chúng tôi không phải là nữ tu sĩ nhưng phát nguyện mặc áo tu (màu trắng) và giữ theo tám giới: 1). Không sát sanh.  2).  Không trộm cắp.  3).  Không tà dâm.  4).  Không nói dối.  5).  Không uống rượu.  6).  Không ăn quá ngọ.  7).  Chẳng nằm ngồi tòa cao, giường rộng.  8).  Chẳng nhảy múa, đàn hát, thoa hương thơm vào thân.

   Quán chiếu về sự cái Chết của mình, tôi cũng thấy nuối tiếc phải đánh mất các giác quan, các cảm thọ như ăn uống, sự cảm nhận được ngọn gió nhẹ đùa trên mặt hồ, đưọc nhìn các quả mận trĩu cành; được nghe tiếng xe lửa chạy dọc theo bờ hồ, bãi biển; sự tưởng tượng, điều học hỏi được, những khám phá.  Và tình yêu, sự nỗ lực, trí tò mò. . . . Tất cả, tôi không muốn đánh mất gì.

   Ni sư Ayya Khema hỏi: “Nhưng con có muốn tái sinh không?  Hãy tưởng tượng con phải làm lại từ đầu:  Lại học đi, học ăn, học nói.  Lại phải sống tuổi thiếu niên lần nữa!”.  Tôi kêu lên:  Thưa không!  Cảm giác mình sẳn sàng buông bỏ tất cả mọi tham cầu.  Nhưng rồi trăn trở, lại thấy mình giống anh chàng Gulliver với hàng trăm những sợi dây trói buộc vào thọ, tưởng, hành, vào ước muốn được hiện hữu.

   Có nhiều lúc tôi ngạc nhiên chợt nhận ra mình đang đứng ở một hòn đão nhỏ ở Sri Lanka, Aán độ dương.  Trong khi đáng lý ra tôi phải có mặt ở một thế giới khác, ở Oakland, nơi tôi viết văn, dạy học, sống một cuộc đời với bao rối rắm phức tạp.  Điện thoại, máy vi tính, xe hơi là những thứ gần gủi, thân thiết nhất với tôi.  Còn ở nơi đây thì không điện, không có đến cả một con đường đúng nghĩa một con đường.  Hòn đảo nhỏ đến độ tôi có thể đi vòng hết đảo trong mười phút.

   4: 15 sáng.  Tiếng chiếc đồng hồ báo thức bạn tôi mang từ Oakland kêu bíp bíp một cách yếu ớt.  Vẫn ngồi trên giường, chúng tôi vặn đèn pin lên, soi dưới nền đất cảnh giác mấy con bò cạp.  Mười phút sau, y áo chỉnh tề, chúng tôi tiến đến Thiền đường.  Cô Vasantha, người Sri Lanka, dẫn đầu.  Thiền đường nằm trên đồi cao, cửa mở ra ba hướng về phía bờ hồ, về rặng dừa và về một ngọn đồi dốc, được tô điểm bằng những chậu kiểng. 

  Buổi tọa Thiền bắt đầu từ 4:30 và chấm dứt lúc 6 giờ.  Khi chúng tôi đến, Ni sư Ayya Khema đã có mặt, ngồi trước điện.  Chúng tôi bước vào theo thứ tự tuổi tác.  Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã là những bóng trắng ngồi xếp bằng chân bất động, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu treo trên cao.  Bên cạnh mỗi người lại sáng đỏ một cây nhang muổi.

   Lúc đầu, tâm trí tôi mãi lo đến những thứ thực dụng như: chân tôi xếp có vững không, tọa cụ có ngay ngắn không, lưng có thẳng ở một góc độ chính xác để giúp tôi có thể ngồi  yên ít nhất là bốn mươi lăm phút.  Lát sau, thân tôi mới bắt đầu yên.  Tôi cảm nhận được sức nặng của thân đè trên gối, cảm giác của đôi bàn tay chồng lên nhau.  Rồi đến lượt tâm tôi bắt đầu nhảy nhót, như tâm vượn.  Lúc thì tôi hồi tưởng về quá khứ, lúc mơ tưởng chuyện tương lai.  Nhưng tôi vẫn cố gắng kiên trì theo dỏi các vọng tưởng nầy, để kéo chúng trở về với hơi thở. 

   Giờ thì ánh sáng mặt trời bắt đầu lên trên những rặng dừa.  Dần dần tâm tôi cũng lắng dịu.  Rồi chân tôi bắt đầu đau, nhưng tâm tôi vẫn an tịnh.  Tâm an tịnh, đó là điều khiến tôi có mặt ở nơi nầy.

   Buổi điểm tâm gồm có bánh bột chiên, một miếng đu đủ vàng ánh, một tách trà đậm pha với sửa và một tô nước để rửa tay.  Ở Sri Lanka, người ta không dùng đũa muổng mà ăn bằng tay (tay mặt).  Chúng tôi dùng bữa trong im lặng.  Trời đã bắt đầu nóng đến nổi khi sau khi uống trà tôi thấy cả người nóng lên nhu sốt, mồ hôi tuôn trên trán.

  Sau đó là đến giờ ‘làm việc vì người khác’.  Hai người bạn tôi đào đất,  nhổ cỏ, trồng hoa và rau cải.  Người khác chùi nhà hay sửa các đồ vật bị hư hỏng.

   Chúng tôi dự khóa tu Thiền nầy vào mùa mưa, theo truyền thống an cư trong thời Đức Phật 2500 năm trước.  Các vị tăng ni thời nguyên thủy không có nhà cửa, họ đi khất thực ở khắp nơi, và tọa Thiền ở bất cứ nơi nào cho phép.  Nhưng trong ba tháng mùa mưa, Đức Phật dạy các tăng ni phải ở một nơi để tu tập.  Ở Ni Viện Nuns’ Island, khóa an cư mùa mưa bắt đầu từ tháng bảy đền đầu tháng mười, là khoảng thời gian nóng nhất, ẩm ướt nhất trong năm ở Sri Lanka.

   10 giờ, chúng tôi vội vã trở lại Thiền đường để nghe Ni sư Ayya Khema giảng kinh.  Bà đọc từng đoạn trong kinh Trường bộ, dừng lại ở những điểm khó hiểu hay khi cần nhấn mạnh những điểm trọng yếu.  Giọng sang sảng, dáng ngồi trang nghiêm, đôi mắt sáng rỡ, bà khiến chúng tôi cảm thấy phấn chấn lây.

   11:15 chuông thọ trai vang lên, đó là buổi ăn cuối cùng trong ngày của chúng tôi.  Đến phòng ăn, chúng tôi đã thấy một nhóm Phật tử ở các vùng lân cận mang thức ăn đến cúng dường cho chúng tôi.  Hành động cúng dường, một hình thức bố thí đến tăng ni, để tạo nghiệp Thiện cho họ hay cho người thân sắp qua đời.

   Các vị Phật tử gương mặt rạng rở, một số mặc quần áo đẹp.  Họ mang đến cho chúng tôi cá, càri rau củ, cơm, mì, bánh trái cây, đồ tráng miệng trái cây với nước cốt dừa.  Thật là một bữa ăn thịnh soạn.  Nhưng nhìn vải quần áo của các phụ nữ, những chiếc áo sứt cúc của các cô gái, tôi đoán biết họ rất nghèo.  Tôi cảm thấy khinh an khi họ trân trọng múc thức ăn vào bát đĩa của chúng tôi.  Ở phương Tây chẳng có phong tục nào giống như thế nầy cả.  Cảm động nhất là được nhìn thấy khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc của họ. 

   Để đáp lễ, Ni sư  Ayya Khema  giảng một thời pháp ngắn.  Khi Ni sư nói bằng tiếng Pali câu “Chúc các Phật tử được bình an ngay trong đời sống hiện tại”, các vị Phật tử chấp tay cúi lạy tỏ lòng biết ơn.  Lòng tay họ mở rộng đặt trên chiếu, đầu cúi lạy sát chiếu.  Tôi bị choáng ngợp bởi sự hiện diện lạ lùng của mình ở nơi nầy.  Khi trở về phòng, tôi không cầm được những giọt nước mắt cảm động.

(Theo The Nuns’ Island:  Seven Sisters On Retreat)
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx