Khái Niệm
Giải Thoát
Chương
23
Giải
Thoát Ngay Trong Giờ Phút Hiện Tại
Khi nghe hay đọc được hai chữ 'giải thoát' (Niết bàn), ta
thường nghĩ rằng đó là điều không thể đạt đưọc.
Điều đó thuộc về một thế giới nào khác, chỉ có những
bậc thánh mới có thể chứng đưọc, còn phàm phu như
chúng ta thì khó thể đạt được. Tuy nhiên ta không cần
phải nghĩ về Giải thoát như thế. Hãy thử xét về ba thứ
giải thoát: vô tướng, vô tham và không. Sự giải thoát
về hình tướng có thể đạt được bằng cách quán về vô
thường (anica), giải thoát vô tham bằng cách quán về
khổ (dukkha) và giải thoát về cái Không bằng cách quán vô
ngã (anatta).
Tất cả chúng ta đều quen thuộc với khái niệm vô thường,
nhưng giải thoát vô tướng là gì? Giả thử như chúng
ta cảm thấy quyến luyến, trân trọng một người, một
nơi chốn hay một sở hữu nào đó. Chúng ta có thể
dứt bỏ sự bám víu đó không? Câu trả lời là chúng
ta có thể dưt bỏ tất cả mọi bám víu, dầu vi tế tới
đâu. Bằng cách nhấn mạnh vào yếu tố là mọi thứ đều
qua đi trong thoáng chốc. Chúng ta quán sự thật
đó trên tất cả mọi sinh vật, nhìn ra được tính vô thưòng
của vạn vật, thì chúng ta mới có thể dứt bỏ được lòng
tin vào sự thường hằng của mọi vật. Từ đó
có thể dứt bỏ được lòng bám viú. Nếu chúng
ta có thể quán chiếu như thế với bất cứ điều gì, bất
cứ ai, dầu chỉ trong chốc lát, là ta đã đạt được
giây phút giải thoát vô tướng -giây phút của trực
giác biết rằng không có vật gì trên thế gian có
giá trị vĩnh cửu, tất cả chỉ là những giây phút thoáng
qua.
Biết được như thế, dù chỉ trong giây phút ngắn ngủi,
cũng đủ để ta nghiệm đưọc cái mà Đức Phật
gọi là tự do giải thoát. Tự do thường được
hiểu lầm là khả năng làm bất cứ điều gì ta muốn
làm. Có lẽ chúng ta cũng từng thử qua, và biết
rằng đó không phải là sự thật. Ngay nếu
như ta được tự do để theo đuổi tất cả những ham
muốn của mình, chẳng bao lâu ta cũng sinh chán, và cảm
thấy muộn phiền. Tự do ở đây không có nghĩa là không
bám víu, thơ ờ mà là ta đã tìm đưọc đến sự thật tuyệt
đối. Để có thể hiểu rõ hơn, hãy thử trong một phút,
từ bỏ tất cả những gì ta coi là sở hữu của mình, những
gì ta coi là của báu, quan trọng nhất trong đời. Ta quán
chiếu về chúng cho đến khi tính chất hoại diệt của chúng
trở nên thật rõ ràng. Giây phút giác ngộ sẽ đến khi ta
có thể nói: 'Tôi không cần phải sở hữu vật đó,
tôi có thể sống không cần nó". Đó là giây
phút của sự thật. Ta có thể đạt đưọc những giây
phút đó, nhưng chúng không đến một cách tự
nhiên. Chúng ta phải thực tập quán chiếu về sự bám
víu của mình và cố rèn luyện để cởi bỏ chúng ra. Buông
xả, nghe thì dễ làm, và có thể cũng dễ thật, sau khi
nó đã xảy ra. Nhưng trước đó, nó đòì hỏi chúng
ta phải tự soi rọi lại mình.
Giây phút giải thoát về sắc tướng cũng có thể
đạt đưọc bằng một hình thức khác. Giả dụ, có
thể ta có cảm giác khó chịu nơi thân, khiến ta muốn nó
biến mất đi. Khi ta thực sự quán về tính vô thường
của cảm thọ nầy -khi ta nhìn thấy được nó chẳng có một
thực thể hay thật sự nghiêm trọng, ta có thể buông
xả, không phản kháng, dầu chỉ trong giây phút,
và nói: "Không sao. Chỉ là một cảm giác thôi"- lúc đó,
ta đã biết thế nào là giải thoát khỏi sắc tướng. Khi
chúng ta thấy rằng không có gì trường tồn,
tất cả đều chỉ thoáng qua, trôi đi, chuyển đổi từng
giây phút, chúng ta sẽ không còn thấy bị trói buộc.
Chúng ta có thế áp dụng cách thực hành nầy đối
với suy nghĩ, cảm thọ hay những cảm giác nơi thân.
Bước đầu, ta có thể tập nhận thức về sự bám víu của
ta với thân. Thí dụ ta thường quan tâm xem bề ngoài ta có
dễ nhìn không, có ăn mặc đàng hoàng, có khỏe khoắn,
ăn ngon, có thỗi mái đủ không. Nhưng khi ta quán đến
bản chất thường hoại diệt của thân, sự bám víu của
ta có thể bớt dần đi. Thay vào đó là cảm giác của xả.
Ta sẽ không còn quan tâm, lo lắng nếu ta còn hay mất
thân nầy. Đó mới thực sự là giây phút của tự do, giải
thoát, nhưng giây phút đó tự nó không thể xảy đến
cho ta. Ta phải luôn tự nhủ mình, từng giây từng
phút rằng sự sống không phải vĩnh hằng mà
chỉ có khi nào nghiệp lực ta còn (kamma-vipaka), và nghiệp
lực có thể bỏ ta đi bất cứ lúc nào. Đó là lý do tại
sao Đức Phật khuyên ta hằng ngày phải tự quán rằng:
"Bản chất của thân là tự hoại diệt". Chúng ta
luôn sống trong trạng thái hoại diệt, ngay giây phút nầy,
chứ không phải đợi đến hai mươi năm sau hay khi nào ta đã
chuẩn bị sẳn sàng.
Mọi người đều biết mình phải chết -không có gì
lạ hết. Đức Phật chẳng bao giờ dạy chúng ta điều
gì không tưởng. Chỉ có điều là Ngài đã khuyên chúng ta
hãy quán sát những việc đó bằng con mắt khác.
Phải quán sát thật sâu lắng về sự thật là thân nầy không
thể tồn tại mãi, dù chúng ta có cố gắng gìn giữ nó đến
đâu, những cố gắng nầy cũng vô ích, hòai công. Dĩ
nhiên điều đó không có nghĩa là ta không nên chăm sóc, bảo
vệ thân. Ta vẫn cần phải tắm rửa, giữ gìn nó sạch
sẻ, nuôi dưỡng nó, thuốc thang nó, nhưng chúng ta cũng
chỉ có thể làm được đến thế. Vì thân hoại cũng là
chuyện bình thường.
Giây phút của tri kiến thực sự là giải thoát. Cảm giác
được buông xả, giải thoát có tác dụng thật
tuyệt vời. Nó giúp ta tu tập rốt ráo hơn vì hiểu rằng
thời gian thôi thúc sau ta -khiến ta không buông lung,
do dự vì ngoại cảnh hay vì những lời bàn ra tán vào của
người chung quanh. Đạt đưọc giải thoát không phải
là một việc ngoài tầm tay của những kẻ phàm phu như chúng
ta. Nếu không, thì giáo lý của Đức Phật sẽ chẳng
giúp đỡ đưọc ai.
Để biết thế nào là giải thoát vô tham cầu, ta có thể
quán trên các phiền não, khổ đau phát khởi trong tâm
trí ta mỗi khi ta mong cầu điều gì đó. Nhưng khi
ta dứt bỏ đưọc lòng tham cầu, ta sẽ cảm thấy nhẹ
nhỏm. Tuy nhiên đau khổ không chỉ xảy ra khi ta không
đạt thành ước nguyện, nhiều khi là ngược lại. Người
xưa đã nói khi ta thật sự mong muốn điều gì đó, ta sẽ
đạt được. Nhưng vấn đề là chúng sanh phần đông
không biết họ muốn gì, không biết điều gì thật sự
mang lại hạnh phúc cho họ. Thật ra khổ đau đã ươm mầm
trong ái dục, khiến ta phải lo âu, sợ hãi.
Lòng tham cầu cũng tạo nên một quá trình tư duy
không nằm trong giây phút hiện tại, mà ở tương
lai, với niềm hy vọng lòng mong cầu có thể đưọc thoả
mãn. Dĩ nhiên là tương lai ít khi trở thành điều ta
mong muốn, nhưng vì phiền não là ở ngay lòng tham
cầu, chưa cần biết đến kết quả ra sao, nên chỉ cần dứt
bỏ đưọc lòng tham cầu là đã đưọc coi như giải thoát.
Khi chúng ta quyết chí buông bỏ lòng ham muốn
vật chất, cảm giác thoải mái, nhẹ nhỏm sẽ làm gia tăng
sức mạnh nội tâm. Tâm ta sẽ trở nên thuần thục hơn, biết
quay lưng lại với những thói quen buông lung
cũ, do đó tạo ra trong ta một cảm giác hoàn toàn
tự tin nơi chính bản thân. Chúng ta càng buông bỏ
đưọc nhiều tham cầu, tâm ta càng thêm mạnh mẽ. 'Sức
mạnh' ở đây hoàn toàn không hàm chứa ý nghĩa có sức
mạnh hơn người khác, ở đây chỉ là sự mạnh mẽ hơn đối
với bản thân. Điều đó khiến ta hiểu vì sao từ con người
của Đức Phật phát ra bao sức mạnh, nhưng mọi người
vẫn thấy muốn đến gần với Người. Điều đó có thể
ví như một nhà máy phát điện, từ đó phát ra năng
lượng cho mọi người. Chúng ta cần thực tập những
giây phút giải thoát khỏi tham cầu, ái dục. Có thể là ăn
uống, giải trí, mua sắm, du lịch, tri thức hay phiếm luận.
Bất cứ là gì, ta cố gắng buông bỏ chúng, nhận
thức đưọc rằng ta thực sự không cần đến chúng.
Hành động buông xả các tham cầu đòi hỏi chúng
ta rất nhiều ý chí, quyết tâm. Nhưng khi thực hiện
được, tâm ta sẽ cảm thấy thật an lạc.
Muốn có được sự giải thoát về tánh không, ta cần dứt
khoát dọn sạch mọi chất chứa trong lòng, biết rằng
chúng chẳng có giá trị tuyệt đối nào. Tâm càng
bớt chất chứa, càng được thêm sảng khoái. Thường
trong đầu ta chứa đầy ấp bao nhiêu thứ, khiến cuộc
sống của ta thêm nặng nề, phiền não. Tâm Không
không có mặt của các hành (suy nghĩ và toan tính). Trong
một phút giây nào đó, hãy thử buông bỏ mọi tâm hành,
ta sẽ cảm giác nhẹ nhỏm làm sao, và đó là cảm giác của
sự giải thoát về tánh không. Rồi hãy để các suy nghĩ
toan tính trở lại trong đầu, ta sẽ thấy rõ ràng
được sự khác biệt là thế nào. Lập tức buồn bực nổi
lên, mà thông thưòng ta sẽ không ý thức đưọc
vì đã quá quen thuộc với tâm chất chứa đủ các tâm hành.
Ta chỉ biết được sự khác biệt nầy nếu như ta có thể
nhận thấy được sự nặêng nề, vướng bận, chộn
rộn của các suy tưởng, sánh với những giây phút vắng
bặt vọng tâm. Đó có thể là lần đầu tiên ta
mới cảm nhận được bao nặng nề ta vẫn cưu mang.
Tất cả mọi chướng ngại dù vi tế đến đâu cũng
đều do vọng tưởng phát khởi. Chúng ta tự
đồng hoá với quá trình tư duy liên tục của mình, rồi
từ đó phát sinh ra hành động. Tuy nhiên không phải
tất cả mọi suy tưởng của ta đều dẫn đến hành động.
Nếu ta ngắm vẻ đẹp của buổi hoàng hôn hay lắng
nghe âm nhạc dịu êm, ta không cần phải hành động
hay phản ứng, mà chỉ cần tiếp nhận chúng. Không cần phải
có phản ứng hay hành động gì với các tư duy của ta, nếu
không, điều đó lại tạo ra những vấn đề mới nữa.
Dầu trong tình huống nào, nếu ta đồng hoá với
quá trình tư duy của mình, ta dễ tạo ra xung đột, nội kết.
Vì một khi ta bắt đầu có ý kiến, lập trường, kỳ vọng,
lập tức sẽ có ý kiến phản bác ta, tranh cãi sẽ khởi lên
rồi nước mắt sẽ rơi vì những chuyện không đâu.
Tất cả mọi thiền sinh đều biết rằng các vọng
tưởng khởi lên trong tâm chẳng có giá trị gì. Khi ta
cần chú tâm quán niệm, các vọng tưởng chỉ làm chướng
ngại ta. Nhưng ngay cả khi ta không đang hành
thiền, chúng cũng gây chướng ngại. Không có gì
khác biệt. Tâm là tâm. Ta có thể chứng nghiệm cảm
giác giải thoát của tánh không bằng một phương
pháp khác nữa. Khi quán về các liên hệ giữa khổ, vô thường,
vô ngã, ta sẽ nhận ra được tướng không của
tất cả mọi hiện hữu. Thí dụ khi ta thấy mây bay trên bầu
trời hay gió thổi trên các cành cây, cũng như khi ta cảm
thấy nhịp đập của tim, hơi thở ra vào. Tất cả vũ trụ
cũng biến đổi không ngừng. Trong qũy đạo
của muôn biến chuyển đó, ta sẽ không thể tìm thấy
gì để bám víu, nắm giữ. Không có gì cố định ở
bất cứ nơi nào. Nhận thức được như thế sẽ giải thoát
ta khỏi ham muốn, bám víu, khỏi luân hồi, nghiệp quả khổ
đau. Chúng ta bám víu vì sợ mất mát, ái dục vì sợ
không có hay không hiện hữu. Sự lo âu, sợ hãi
là bản tính thường hằng của kiếp con người
tầm thường. Chỉ khi ở trong những điều kiện
cao hơn, con người mới không có sợ hãi, vì không
còn có gì để đưọc hay mất nữa.
Chúng ta tham đắm, bám víu vào những gì ta coi là
quan trọng, quý báu. Giải thoát khỏi ái dục, bám víu, không
có nghĩa là ta trở nên vô tình đối với tha nhân. Nhờ trí
tuệ giải thoát giác ngộ, Đức Phật đầy lòng từ
bi đối với chúng sanh. Ngài nhìn thấy tất cả chúng
sanh đều khổ đau vì lòng tham đắm, bám víu. Trong
khi Đức Phật đã diệt tận được mọi ái dục, lòng
từ bi của Ngài không hế bị chi phối bởi những ích
lợi của bản thân, vì thế ngài có thể ban tặng tất
cả cho mọi người. Chúng ta có thể bắt đầu tiến
bước đến sự hoàn thiện nầy, để có được những
giây phút an nhiên tự tại. Điều đó có thể thực hiện
đưọc.
Sự giải thoát không thể được ban phát đến cho ta
bởi một đấng tối
thượng
nào như thể một huy chương vàng của sự gia hộ.
Trái lại muốn đưọc có giải thoát, đòi hỏi chúng ta phải
chánh niệm từng phút giây, phải thanh tịnh hóa mọi
nhiễm ô đến tận cùng. Khi đạt được những giây
phút không có ái dục, tham cầu, ta phải trân trọng, chăm
chút từng giây phút đó, để chúng trở thành thân thuộc,
để ta có thể lập lại những giây phút đó thường
hơn. Mỗi khi ta không hoàn toàn làm chủ tâm mình, các
điều ác lại có cơ hội làm chủ nó. Có lẽ vì thế ta thấy
rất ít người được hạnh phúc trên cõi đời nầy.
Vì hạnh phúc không phải là điều tự nhiên mà có, nó
đòi hỏi rất nhiều nỗ lực vun trồng.
Nếu hạnh phúc là một điều kiện của nội tâm, thì sự
bình an tự tại cũng không phải là điều dễ tìm
ở bên ngoài. Nếu được thế, có lẽ tất cả mọi chúng
sanh đều được tự tại. Ta chỉ có thể được tự tại
nếu biết buông xả. Vấn đề của chúng ta là phải
quán sát xem ta chấp vào cái gì, để có thể tu sửa về điều
đó, dù đó là gì. Đối với đa số chúng ta, đó chính
là thân. Tất cả chúng ta đều phải rời bỏ nó một
ngày nào đó. Có lẽ tốt hơn ta nên tập chuẩn bị cho ngày
đó, ngay giây phút nầy phải biết buông xả để được
nhẹ nhàng, thanh thản, thay vì chờ đợi đến giây phút cưối
cùng. Chúng ta tự chuẩn bị bằng cách thực
tập để được có những giây phút giải thoát. Để
có được giây phút giải thoát vô tướng, ta phải chứng
nghiệm những giây phút của vô thường, không được
trốn tránh điều đó. Để được có giây phút giải
thoát vô tham cầu, ta có thể tự giác rằng mọi ham muốn
đều đưa đến khổ đau, phiền não, để có thể diệt bỏ
từng ham muốn. Nếu chúng ta có thể mỗi ngày diệt bỏ
một ham muốn trong một năm, ta sẽ thay đổi biết chừng
nào. Khi đã bỏ được một ham muốn, ta cũng có thể
làm thế với mọi ham muốn khác. Năng thực hành sẽ
khiến ta thêm hoàn hảo. Vạn sự khởi đầu nan.
Để được có giây phút giải thoát của vô thường, ta có
thể quán chiếu rằng mọi tâm hành đều là sự bùng
nổ của những bản năng vô thức. Đôi khi các bản năng
nầy đi theo nhau, kết hợp với nhau một cách vô nghĩa. Nếu
ta tin nơi chúng, coi chúng là mình, rồi đem chúng
vào trong làm tiêu chuẩn để đối xử với người chung
quanh, ta sẽ phải than van: "Tại sao họ lại có thể nghĩ
như thế chứ?" Tốt nhất là chúng ta dừng mọi
phán đoán lại, chỉ cần biết có những gì ngay trước mắt
để được giải thoát tự tại.
Nếu ta nhìn được tính vô thường và tính khổ đau
trong vạn pháp, thì ta dễ dàng tìm được sự giải thoát
của tính không. Nếu không có gì bền vững, không có
gì đem lại chân hạnh phúc, thì tất cả chỉ còn là những
hình ảnh thoáng qua phát khởi do dục vọng. Thì dụ,
ta có được thiền đường nầy vì có người muốn có nơi
ngồi thiền. Người kia có mặt vì muốn có một đứa
con. Nghiệp tái sinh khiến đứa bé muốn được sống. Tất
cả mọi hiện hữu đều phát khởi do lòng ham muốn, mà còn
ham muốn là còn khổ đau.
Lúc đầu khi quán vể khổ đau, có thể khiến ta có phản
ứng: "Có ích lợi gì khi ta làm như thế? Tôi có mặt ở đây
để làm gi?" Lý do của sự có mặt của chúng ta
là để quán chiếu về sự thật của vô thường, khổ và
vô ngã, để thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng ta có
thực sự muốn bắt đầu lại cuộc sống, với hy vọng
có thể làm tốt hơn? Hay chỉ tiếp tục sai lầm cho đến
khi chúng ta học được bài học. Khi ta có thể buông
bỏ mọi vọng tưởng, để được tự do, giải thoát,
ta sẽ biết rằng không thể có gì xảy ra nếu không
có ái dục. Và ta nếm trãi được những giây phút của
tánh không bằng quán chiếu và tuệ giác.
Chúng
ta không cần phải quan tâm đền điều gì sẽ xảy ra
sau khi ta mất. Ta chỉ cần chánh niệm ngay giờ phút hiện
tại và luôn tinh tấn tu tập. Ai cũng cần tu sửa, vì
thế nếu ta không dùng thời gian của mình vào việc
đó, ta đã sống phung phí thời gian, không có
mục đích sống. Ta đã từng chỉ sống để mà sống.
Trong khi tất cả cuộc đời của ta là phải dành để
phát triển trí tuệ. Mỗi ngày như thế cho suốt cuộc
đời.
Chương
24
ĐẠO
QUẢ
Bản
tánh con người đầy tham vọng. Người muốn giàu có
quyền thế, danh vọng. Kẻ mong có nhiều kiến thức,
cấp bằng cao. Người khác nữa lại muốn tìm đưọc
một người tình lý tưởng, càng hoàn hảo càng tốt.
Cũng có người chỉ mong có một tổ ấm nhỏ, an phận với
cuộc sống mỗi ngày như mọi ngày, không thay đổi.
Ngay
khi sống trong các tu viện, chúng ta cũng mong muốn đạt đưọc
các thiền quả, đưọc hoàn toàn thanh tịnh, mong cuộc sống
tu hành của ta đạt đưọc nhiều kết quả mỹ mãn.
Lúc nào cũng kỳ vọng một điều gì đó. Thay vì chú
tâm sống với hiện tại, ta lại hoài vọng một điều gì
đó tốt đẹp hơn sẽ đến, vào ngày mai, trong tương lai.
Thế nhưng khi ngày mai đến, ta lại tiếp tục hy vọng cho
ngày kế tiếp đó. Nếu ta có thể thay đổi thói quen
tư duy đó để chú tâm vào hiện tại, có lẽ ta sẽ cảm
thấy an nhiên tự tại hơn. Trái lại nếu ta cứ chạy
đuổi theo một tương lai tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn, như
ý hơn thực tại đang có, ta sẽ chỉ tìm đưọc sự thất
vọng. Vì ta đã hoài công đi tìm cái không có thực.
Đức
Phật nói về hai hạng người, người tầm thường (phàm nhân,
puthujjana) và người cao thượng (thánh nhân, ariya). Dĩ
nhiên muốn đưọc trở thành thánh nhân, là một ước muốn
đáng khích lệ, nhưng nếu ta chỉ mong cầu điều đó sẽ
xảy trong một tương lai nào đó, ta sẽ không bao giờ được
thõa nguyện. Sự giải thoát chỉ có thể đạt đưọc
trong từng phút giây sống với hiện tại. Thánh
nhân và phàm nhân chỉ khác nhau ở sự thực chứng về “Đạo
và Quả” (magga – phala). Đạo quả đầu tiên khi tâm
thức đạt đưọc trạng thái siêu việt được gọi là Quả
Dự lưu (sotapatti) và vị chứng quả đó đưọc gọi là Dự
lưu nhân (sotapanna).
Vị
chứng đưọc quả Dự Lưu là người đã diệt đưọc ba thứ
kiết sử mà vì chúng, ta cứ mãi sinh tử luân hồi. Ba
kiết sử này là : thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.
Người chưa phải là bậc Dự lưu thì vẫn còn bị trói buộc
vào ba loại tà kiến nầy, và hành động sai lầm khiến họ
càng xa rời tự do giải thoát, đi vào trói buộc hơn.
Trước
hết, hãy thử xem xét về lòng hoài nghi. Đó là những
ý tưởng vụn vặt cứ luẩn quẩn trong đầu: “Một pháp
tu nào khác, chắc dễ dàng hơn”, “Có lẽ ở một nơi nào
khác, tôi sẽ đưọc an lạc hơn". Khi nào ta vẫn còn
nghi ngờ về con đường giải thoát khỏi thế gian; còn tin
tưởng rằng ta có thể tìm đưọc điều như ý ở thế gian,
thì khi đó ta còn khó có cơ hội để đắc thánh quả, vì
ta đã đi lầm đường.
Trong
thế giới nầy: con người, vật chất, quyền lợi, thiên nhiên,
cầm thú, không có gì mà ta chưa từng biết đến. Nếu
còn có gì khác, tại sao chúng ta lại không biết đến,
lại chưa tìm ra? Những điều đó phải thật hiển nhiên
chứ. Vậy ta đang tìm kiếm điều gì?
Dĩ
nhiên là chúng ta như mọi người khác, đang tìm kiếm hạnh
phúc và an bình. Anh chàng Hoài nghi, luôn dự báo
rằng: “Lần sau, nếu tôi khôn ngoan hơn, tôi chắc là sẽ
thành công. Còn bao nhiêu thứ tôi còn chưa nếm trãi”.
Có thể ta chưa được lái chiếc máy bay riêng của mình, chưa
thử sống trong hang động Hy Mã Lạp Sơn, chưa dong thuyền
chu du khắp thế giới, chưa viết đưọc quyển tiểu thuyết
bán chạy nhất; tất cả những điều kỳ thú này đều đáng
đưọc thực hiện trong đời, nhưng chúng chỉ làm lãng phí
thời gian và năng lực của ta, mà chẳng giúp gì đưọc trong
việc đem lại sự thanh tịnh cho nội tâm.
Lòng
hoài nghi sẽ lộ diện khi ta không có mục đích, phương hướng,
không biết rõ mình phải làm gì: “Tôi đi về đâu?
Tôi phải làm gì?" Ta chưa tìm đưọc phương hướng.
Lòng hoài nghi là một kiết sử phát khởi trong tâm khi sự
thông suốt -sự thông suốt của giây phút chứng quả- vắng
mặt. Tâm thức khởi sinh trong giây phút chứng đưọc
đạo quả sẽ hủy diệt mọi hoài nghi vì lúc đó, ta đã
tự chứng được đạo. Cũng như khi ta cắn quả xoài, ta tự
biết được mùi vị của quả xoài. Khi ấy ta không cần
phải cố gắng, lòng hoài nghi cũng bị hủy diệt. Còn
gì phải nghi ngờ nữa, khi chính ta thực chứng? Như khi
ta tự đóng búa vào tay, ta biết đưọc cái đau ngay, không
nghi ngờ gì cả. Đó là sự hiểu biết do kinh nghiệm
mang đến.
Nhận
thức sai lầm về tự ngã là một chướng ngại gây nhiều
tai hại nhất mà phàm nhân bị trói buộc vào. Tà
kiến nầy chứa đựng ý thức sâu thẩm về sự hiện hữu
của một cái ngã. Đây là tôi, là 'một ai đó' đang
hành thiền. Rồi 'cái tôi đó' cũng muốn đưọc giác
ngộ, muốn đắc quả Dự Lưu, muốn được hạnh phúc. Tà
kiến về tự ngã này là nhân của mọi phiền não.
Vì
còn có ngã, còn có ai đó, nên người đó vẫn còn phiền
não. Nếu không còn có ai, thì làm gì có vấn đề phiền
não? Tà kiến về tự ngã là gốc rễ tạo ra bao đau
khổ, phiền não cũng như sợ hãi, lo lắng: “Không biết tôi
có đưọc bình an, hạnh phúc? Có đạt đưọc điều
tôi tìm kiếm, mong mỏi? Có đưọc khỏe mạnh, giàu có,
khôn ngoan?" Những nỗi lo lắng, sợ hãi này được
hỗ trợ thêm bằng các kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ.
Trong quá khứ, không phải lúc nào ta cũng đưọc khoẻ mạnh,
giàu có, khôn ngoan, an nhiên tự tại, hay luôn đạt được
điều ta mong muốn. Do đó, khi tà kiến về tự ngã vẫn
còn trùm phủ, ta vẫn còn có lý do để lo âu, sợ hãi.
Lễ
nghi, cúng tế tự chúng không sai quấy, nhưng chấp rằng chúng
là con đường đưa đến Niết bàn thì rất tai hại.
Chúng cũng không nhất thiết mang tính tôn giáo, dầu ta vẫn
thường nghĩ chúng là thế -thí dụ như dâng hương hoa lên
bàn thờ, tế lạy hay tổ chức các buổi lễ, và tin rằng
làm như thế sẽ giúp ta tích lũy đủ công đức để lên
đưọc cõi trời. Tuy nhiên, chính sự thành tín, kính
trọng và biết ơn đối với Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) mới
là điều quan trọng. Nhưng các nghi thức, lễ nghi
đâu chỉ giới hạn trong các hoạt động tôn giáo. Trong các
mối tương giao giữa con người với nhau, chúng ta cũng có
những quy định trong đối xử với cha mẹ, con cái, vợ chồng.
Ta cư xử như thế nào với đồng nghiệp, với bạn bè, với
người xa lạ; ta mong người khác đối xử với mình như thế
nào -tất cả đều tùy thuộc vào những định kiến về cái
đúng, cái chuẩn mực trong một văn hóa, truyền thống nào
đó. Không có một căn bản chân lý nào trong các quy ước
đó, vì tất cả chỉ là sản phẩm do tâm tạo ra. Càng có
nhiều lễ nghi, ta càng xa rời thực tế. Càng tin tưởng vào
các phong tục, các truyền thống cỗ hủ, càng khó bỏ, khi
chúng không còn thiết thực. Khi ta nghĩ mình là một loại
người nào đó, ta sẽ có cách ứng xử, giao tế như thế
trong mọi tình huống. Do đó nghi thức, lễ nghi không
chỉ là việc chưng hoa trên bàn thờ. Nó còn sai sử ta
phải giao tiếp, ứng xử như thế nào, nếu như ta chỉ
biết hành động theo khuôn phép đã định sẳn, chứ không
phải bằng tâm phóng khoáng, cởi mở.
Ba
kiết sử trên sẽ bị tiêu trừ khi ta chứng đưọc Đạo
Quả. Sẽ có một sự thay đổi rõ ràng nơi vị chứng
đắc đó, dầu rằng không thể nhìn thấy ở bên ngoài.
Không có hào quang, không có ánh sáng, nhưng sự thay đổi ở
nội tâm thực sự đã xảy ra. Sự thay đổi đó khiến
cho mọi lo âu về cuộc đời tan biến. Trạng thái
này hoàn toàn khác hẳn với mọi kinh nghiệm ta đã biết từ
trước, đến nỗi, người ấy thấy những gì đã tạo ra
trong đời, cho đến giờ phút ấy đều trở thành vô nghĩa.
Không có gì trong quá khứ còn quan trọng nữa. Điều
quan trọng duy nhất là tiến bước với công phu tu tập đã
có: để tái nghiệm và củng cố kinh nghiệm của giây phút
đạt đưọc đạo quả đầu tiên. Ta cần làm sống lại
giây phút chứng quả đầu tiên đó, tiếp tục nghiệm chứng
cho đến khi đạt đưọc đạo quả thứ hai. Ta cần phải
tái lập, và củng cố các kinh nghiệm nầy của tâm.
Các vị Nhất–lai (sakadagami), Bất–lai (anagami) và A-la–hán
(arahant) lại sẽ đưọc có những giây phút của tâm chứng
đắc Đạo Quả. Mỗi lần như thế, các tâm chứng càng
thâm sâu hơn. Có thể so sánh sự kiện nầy với các
kỳ thi ở đại học. Thí dụ, nếu ta chọn một chương trình
học bốn năm để lấy bằng cấp. Mỗi năm ta phải qua
các kỳ thi cuối khóa. Ta phải trả lời đưọc các câu
hỏi trong mỗi kỳ thi, dựa trên các kiến thức mà ta đã
tích lũy. Qua các kỳ thi, các câu hỏi ngày càng trở
nên sâu sắc hơn, khó khăn hơn. Dầu cũng chỉ liên quan
về một môn học, các câu hỏi đòi hỏi người sinh viên
phải có kiến thức sâu rộng hơn. Cứ thế cho đến khi người
sinh viên tốt nghiệp ra trường. Sự phát triển tâm linh
của chúng ta cũng thế. Mỗi giây phút của tâm chứng
nầy là dựa vào tâm chứng trước, liên quan đến cùng một
chủ đề, nhưng ngày càng thâm sâu hơn. Cho đến khi ta vượt
qua kỳ khảo hạch cuối cùng, để không còn bao giờ phải
quay trở lại luân hồi tái sinh.
Tâm
chứng đắc không có tư duy hay cảm thọ trong đó. Không giống
như các tầng thiền định (jhana), dầu rằng nó cũng phải
dựa vào các tầng thiền định đó (vì chỉ có tâm định
mạnh mẽ mới có thể chứng Đạo). Nó không có cùng
các tính chất. Các tầng thiền – trong các giai đoạn
đầu – đầy tính hỷ lạc, an tịnh. Ở các giai đoạn sau,
tâm trở nên bao la, trống trỗng, có sự thay đổi về nhận
thức. Sự chứng đắc trái lại không bao hàm các trạng
thái tâm này, mà tràn đầy tính vô ngã. Nó đến như
một sự giải thoát, thay đổi hoàn toàn cái nhìn của vị
thánh chứng về thế giới chung quanh, đến đỗi giờ thì
vị ấy có thể hiểu được tại sao Đức Phật đã dạy
về sự khác biệt rõ ràng giữa một phàm nhân và thánh nhân.
Trong khi các tầng thiền quả mang đến cảm giác nhất như,
nhất thể, tâm chứng Đạo đã bỏ các cảm giác đó lại.
Những giây phút tiếp theo đó của tâm chứng đắc, là một
chứng nghiệm về một cái nhìn hoàn toàn mới.
Sự
hiểu biết mới mẻ này giúp ta nhận thức được rằng mọi
suy tưởng, mọi cảm thọ đều là khổ (dukkha). Dầu
cho đó là ý tưởng cao quí, cao thượng nhất cũng mang
tính khổ. Chỉ khi nào không có gì nữa cả, mới không còn
có khổ. Tính Không -không có cái trong, cái ngoài- mới
mang tính chất hoàn toàn như như. Một khi ta đã nhận
thức đưọc rõ ràng như thế, ta sẽ không còn lòng ham muốn
về bất cứ điều gì. Ta nhìn mọi thứ như bản thể
chân thật của chúng, và biết rằng không có gì có thể mang
lại niềm hạnh phúc của sự tu tập chứng đắc.
Yếu
tố Niết-bàn thật sự không thể diễn tả như là an lạc,
vì an lạc hàm chứa ý nghĩ phấn khích. Ta dùng từ ngữ nầy
cho các tầng thiền quả, bởi trong đó còn có sự vui thích.
Yếu tố Niết-bàn không hàm chứa an lạc vì tất cả những
gì khởi sinh đều đưọc xem là khổ. Cụm từ “Niết-bàn
an lạc” có thể khiến ta có cảm tưởng rằng ta có thể
tìm thấy hạnh phúc tuyệt đối, thật ra đó là điều ngược
lại. Ta sẽ tìm thấy có tánh Không -không còn đau khổ, chỉ
có an tịnh.
Nếu
chỉ mong muốn, ao ước, Đạo Quả sẽ không tự tìm đến
với ta, mà chỉ có sự tỉnh giác chánh niệm từng phút giây
mới giúp ta chứng đắc. Sự chánh niệm nầy dần dần
sẽ đưa đến trạng thái tâm định, giúp ta có thể xả bỏ
mọi suy tưởng, hoàn toàn ở trong định. Lúc đó, ta có thể
bỏ cả thiền quán, không bằng một cố gắng nào, mà nó
tự biến mất, nhường chỗ cho tâm định tĩnh hoàn toàn.
Nếu cần phải có một tham vọng nào trong đời sống, thì
đấy là một tham vọng duy nhất có giá trị. Không có
tham vọng nào khác có thể đem lại cho ta sự viên mãn.
Người
đã đạt đưọc quả Dự Lưu, sẽ không còn chấp thủ vào
lễ nghi và giới cấm, vì một người đã chứng đắc không
lẽ gì phải chấp vào hình thức. Mọi hình thức đều
là giả tạo. Vị ấy có thể vẫn tuân theo các hình
thức lễ nghi của tôn giáo vì tính chất trân trọng, hàm
ơn, thành tín trong đó. Nhưng vị ấy không còn giao tiếp
với con người hay buộc mình ở trong những hoàn cảnh đầy
lễ nghi, đầy hình thức do con người đặt ra để ràng buộc
nhau. Thay vào đó, vị ấy sẽ sống với mọi người
bằng trái tim cởi mở, không trói buộc.
Buông
bỏ tà kiến về tự ngã dĩ nhiên là sự thay đổi quan trọng
nhất. Đối với vị Dự-lưu, tà kiến về tự ngã không bao
giờ còn khởi sinh nữa, nhưng vẫn còn các cảm xúc về ngã,
vì giây phút chứng đắc rất hiếm hoi và nhanh chóng qua đi.
Do đó chưa thể tạo nên một tác động sâu xa, tuyệt đối.
Nếu không, vị ấy đã đưọc gọi là bậc Giác Ngộ rồi.
Cả bốn quả thánh đều có thể được chứng đắc (như
đã ghi trong các kinh Phật) ngay khi ta vừa đưọc tiếp xúc
với Phật pháp.
Điều
cần làm là ta phải luôn tự nhắc nhở trong mọi giây phút
thức tỉnh rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường,
không có bản thể nhất định, luôn thay đổi. Dầu ta có
một trực kiến về vô ngã (anatta) hay chỉ có kiến thức
về điều đó, ta phải luôn duy trì điều đó trong tâm, sống
với nó từng phút giây. Nếu tiếp tục đưọc như thế,
dần dần các vấn đề trong cuộc sống sẽ không còn trở
ngại chúng ta. Nếu ta luôn giác niệm về tính vô
thường của mọi hiện hữu, những khổ đau của ta dường
như không còn quan trọng nữa và cái nhìn về tự ngã
sẽ dần thay đổi.
Cái
nhìn về tự ngã chính là kẻ thù nguy hiểm nhất của ta.
Mỗi người tự tạo ra cho mình một cá tính, một mặt nạ
để mang, mà không muốn nhìn thấy những gì ở phía sau chiếc
mặt nạ đó. Cũng không cho phép người khác đưọc biết.
Sau khi đạt đưọc tâm chứng, ta không còn thấy cần thiết
phải duy trì một cá tính nào cả. Tuy nhiên, khi chưa
đưọc như thế, nếu có ai tò mò muốn nhìn thấu suốt đến
những gì ở phía sau chiếc mặt nạ, thì sẽ chỉ thấy sự
sợ hãi, chống đối. Cách đối trị hữu hiệu nhất
là luôn nhớ rằng thật sự không có ai ở đó, chỉ có các
hiện tượng mà thôi. Cho dù cái nhìn của nội tâm chưa phát
triển đủ để chứng minh điều đó, sự khẳng định nầy
giúp chúng ta bớt các chấp thủ, không quá bám víu vào sự
vật.
Mục
đích của sự tu tập chắc chắn là để hướng về quả
Dự-lưu. Tuy nhiên, không có gì để chứng đắc, mà cần phải
xả bỏ tất cả. Nếu ta có thể diệt bỏ đưọc tất cả
mọi bám víu, thì sự giải thoát, chứng thánh quả mới có
thể đưọc thành tựu, nếu không ta lại tiếp tục sống
như trước: bị khổ não hành hạ, ràng buộc, quẩn quanh trong
cái đưọc mất, tiếng khen chê, sang hèn, hạnh phúc hay khổ
đau. Các phiền não trong cuộc sống -tất cả tạo ra
bởi cái “ngã” – sẽ cứ tái diển. Sự thay đổi
thật sự chỉ bắt đầu khi nào có được một sự thay đổi
dứt khoát trong cái nhìn của ta về tự ngã. Nếu không
phiền não vẫn tồn tại, vì chúng đưọc tạo ra bởi con
người cũ, không có gì thay đổi.
Chúng
ta có thể đưọc đọc rằng sự xả bỏ, ái diệt là những
nấc thang trên con đường đi đến giải thoát và tự do. Tuy
nhiên những điều nầy không thể có ý nghĩa hay tác động
gì, nếu như ta không có cái nhìn về một thực tại
hoàn toàn khác biệt, một thực tại không chứa muôn dáng
vẻ thế gian. Khi ta ngồi thiền mà tâm bắt đầu vọng tưởng,
đó là các tướng tâm, là sự phóng tâm (papanca). Yếu
tố Niết-bàn là nhất thể, không đa dạng. Có thể nói nó
bặt tất cả những gì mà ta đã biết. Nếu không thấy
đưọc như thế, ta vẫn còn đảo điên trong thế tục.
Nhưng ta cũng không cần phải tin vào tất cả những gì ta
thấy, ta nghĩ. Điều nầy không dễ làm, vì thế chúng
ta cần phải luôn tự nhắc nhở để không bị cám dổ dẫn
dắt.
Dĩ
nhiên là các giác quan cũng có thể mang đến cho ta các khoái
lạc. Nếu có các nghiệp thiện, chúng ta sẽ có nhiều
cơ hội như thế: Đưọc ăn ngon, tham quan cảnh đẹp, gặp
người dễ chịu, đưọc thưởng thức âm nhạc thánh thoát,
có nhà đẹp, đọc đưọc sách hay, không bị thân hành khổ.
Nhưng tất cả những thứ nầy có mang lại cho ta hạnh phúc
tuyệt đối không? Trong quá khứ chúng đã không mang đến
cho ta hạnh phúc, thì tương lai làm sao có thể khác hơn?
Nhưng Đạo Quả có thể mang lại hạnh phúc tuyệt đối vì
chúng vắng bặt các hiện tượng. Tánh Không không thay
đổi, không trở nên khó chịu mà cũng không thiếu vắng sự
bình an, vì không có gì để làm xao động nó.
Khi
nghe hoặc đọc về “Niết-bàn”, người ta hay phản ứng
rằng: “Làm sao mà không ham muốn gì cả?”. Tuy nhiên,
khi ta nhận ra rằng mọi ham muốn chỉ là để khỏa lấp sự
trống vắng, thất vọng trong lòng, đó là lúc ta sẽ không
còn ham muốn gì nữa. Đạt đưọc tánh không, là một
bước trên cả tánh không ham muốn, vì bây giờ con người
chấp nhận cái thực tại là không có gì đáng để đòi hỏi,
mong muốn. Tánh không khiến ta có thể chứng nghiệm
rằng thực sự có cái không –có sự thanh tịnh.
Sống
chánh niệm dù lúc ta ngồi thiền hay không là phương pháp
tu tập hữu hiệu nhất giúp ta đạt đưọc kết quả.
Có nghĩa là làm từng việc từng lúc, luôn chăm chút đến
thân tâm. Khi nghe pháp, chỉ chuyên tâm nghe. Khi ngồi thiền,
chỉ chú tâm vào đề mục thiền quán. Khi trồng cây, chỉ
biết trồng cây. Không vẽ vời, không phán xét. Điều
đó giúp tâm quen sống trong từng giây phút. Chỉ có như
thế tâm mới chứng đắc đưọc ngay trong hiện tại, ngay
tại đây. Không có lý do gì mà một thiền sinh có đủ trí
khôn, khỏe mạnh và quyết tâm như thế, lại không thể đạt
được Đạo Quả bằng lòng kiên nhẫn, trì chí của mình.
Hết
Phụ
Lục
Ở
Một Ni Viện
Sandy
Boucher
Buổi chiều ở ni viện là thời gian để ngủ nghỉ, tu học
hay tĩnh lự. Đêm trước đó, Ni sư Ayya Khema đã bảo
chúng tôi thử tưởng tượng ra mình sắp chết để khám phá
ra những thứ mình bám víu trong cuộc đời nầy. Nếu
phải chết, tôi thấy buồn vì không còn cơ hội để được
Giác Ngộ, giải thoát. Đúng vậy, tôi đã ước mơ được
như thế. Nếu không tôi đến đây làm gì?
Chúng tôi là bảy phụ nữ từ nhiều đất nước đã đến
ni viện Nun’s Island ở Sri Lanka để tu học với ni sư người
Đức tên Ayya Khema. Chúng tôi không phải là nữ tu sĩ
nhưng phát nguyện mặc áo tu (màu trắng) và giữ theo tám giới:
1). Không sát sanh. 2). Không trộm cắp. 3).
Không tà dâm. 4). Không nói dối. 5). Không
uống rượu. 6). Không ăn quá ngọ. 7).
Chẳng nằm ngồi tòa cao, giường rộng. 8). Chẳng
nhảy múa, đàn hát, thoa hương thơm vào thân.
Quán chiếu về sự cái Chết của mình, tôi cũng thấy nuối
tiếc phải đánh mất các giác quan, các cảm thọ như ăn uống,
sự cảm nhận được ngọn gió nhẹ đùa trên mặt hồ, đưọc
nhìn các quả mận trĩu cành; được nghe tiếng xe lửa chạy
dọc theo bờ hồ, bãi biển; sự tưởng tượng, điều học
hỏi được, những khám phá. Và tình yêu, sự nỗ lực,
trí tò mò. . . . Tất cả, tôi không muốn đánh mất gì.
Ni sư Ayya Khema hỏi: “Nhưng con có muốn tái sinh không?
Hãy tưởng tượng con phải làm lại từ đầu: Lại học
đi, học ăn, học nói. Lại phải sống tuổi thiếu niên
lần nữa!”. Tôi kêu lên: Thưa không! Cảm
giác mình sẳn sàng buông bỏ tất cả mọi tham cầu.
Nhưng rồi trăn trở, lại thấy mình giống anh chàng Gulliver
với hàng trăm những sợi dây trói buộc vào thọ, tưởng,
hành, vào ước muốn được hiện hữu.
Có nhiều lúc tôi ngạc nhiên chợt nhận ra mình đang đứng
ở một hòn đão nhỏ ở Sri Lanka, Aán độ dương. Trong
khi đáng lý ra tôi phải có mặt ở một thế giới khác, ở
Oakland, nơi tôi viết văn, dạy học, sống một cuộc đời
với bao rối rắm phức tạp. Điện thoại, máy vi tính,
xe hơi là những thứ gần gủi, thân thiết nhất với tôi.
Còn ở nơi đây thì không điện, không có đến cả một con
đường đúng nghĩa một con đường. Hòn đảo nhỏ đến
độ tôi có thể đi vòng hết đảo trong mười phút.
4: 15 sáng. Tiếng chiếc đồng hồ báo thức bạn tôi
mang từ Oakland kêu bíp bíp một cách yếu ớt. Vẫn ngồi
trên giường, chúng tôi vặn đèn pin lên, soi dưới nền đất
cảnh giác mấy con bò cạp. Mười phút sau, y áo chỉnh
tề, chúng tôi tiến đến Thiền đường. Cô Vasantha,
người Sri Lanka, dẫn đầu. Thiền đường nằm trên đồi
cao, cửa mở ra ba hướng về phía bờ hồ, về rặng dừa
và về một ngọn đồi dốc, được tô điểm bằng những
chậu kiểng.
Buổi tọa Thiền bắt đầu từ 4:30 và chấm dứt lúc 6 giờ.
Khi chúng tôi đến, Ni sư Ayya Khema đã có mặt, ngồi trước
điện. Chúng tôi bước vào theo thứ tự tuổi tác.
Chẳng bao lâu sau chúng tôi đã là những bóng trắng ngồi
xếp bằng chân bất động, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn
đèn dầu treo trên cao. Bên cạnh mỗi người lại sáng
đỏ một cây nhang muổi.
Lúc đầu, tâm trí tôi mãi lo đến những thứ thực dụng
như: chân tôi xếp có vững không, tọa cụ có ngay ngắn không,
lưng có thẳng ở một góc độ chính xác để giúp tôi có
thể ngồi yên ít nhất là bốn mươi lăm phút. Lát
sau, thân tôi mới bắt đầu yên. Tôi cảm nhận được
sức nặng của thân đè trên gối, cảm giác của đôi bàn
tay chồng lên nhau. Rồi đến lượt tâm tôi bắt đầu
nhảy nhót, như tâm vượn. Lúc thì tôi hồi tưởng về
quá khứ, lúc mơ tưởng chuyện tương lai. Nhưng tôi vẫn
cố gắng kiên trì theo dỏi các vọng tưởng nầy, để kéo
chúng trở về với hơi thở.
Giờ thì ánh sáng mặt trời bắt đầu lên trên những rặng
dừa. Dần dần tâm tôi cũng lắng dịu. Rồi chân
tôi bắt đầu đau, nhưng tâm tôi vẫn an tịnh. Tâm an
tịnh, đó là điều khiến tôi có mặt ở nơi nầy.
Buổi điểm tâm gồm có bánh bột chiên, một miếng đu đủ
vàng ánh, một tách trà đậm pha với sửa và một tô nước
để rửa tay. Ở Sri Lanka, người ta không dùng đũa muổng
mà ăn bằng tay (tay mặt). Chúng tôi dùng bữa trong im
lặng. Trời đã bắt đầu nóng đến nổi khi sau khi uống
trà tôi thấy cả người nóng lên nhu sốt, mồ hôi tuôn trên
trán.
Sau đó là đến giờ ‘làm việc vì người khác’. Hai
người bạn tôi đào đất, nhổ cỏ, trồng hoa và rau
cải. Người khác chùi nhà hay sửa các đồ vật bị
hư hỏng.
Chúng tôi dự khóa tu Thiền nầy vào mùa mưa, theo truyền thống
an cư trong thời Đức Phật 2500 năm trước. Các vị tăng
ni thời nguyên thủy không có nhà cửa, họ đi khất thực
ở khắp nơi, và tọa Thiền ở bất cứ nơi nào cho phép.
Nhưng trong ba tháng mùa mưa, Đức Phật dạy các tăng ni phải
ở một nơi để tu tập. Ở Ni Viện Nuns’ Island, khóa
an cư mùa mưa bắt đầu từ tháng bảy đền đầu tháng mười,
là khoảng thời gian nóng nhất, ẩm ướt nhất trong năm ở
Sri Lanka.
10 giờ, chúng tôi vội vã trở lại Thiền đường để nghe
Ni sư Ayya Khema giảng kinh. Bà đọc từng đoạn trong kinh
Trường bộ, dừng lại ở những điểm khó hiểu hay khi cần
nhấn mạnh những điểm trọng yếu. Giọng sang sảng,
dáng ngồi trang nghiêm, đôi mắt sáng rỡ, bà khiến chúng
tôi cảm thấy phấn chấn lây.
11:15 chuông thọ trai vang lên, đó là buổi ăn cuối cùng trong
ngày của chúng tôi. Đến phòng ăn, chúng tôi đã thấy
một nhóm Phật tử ở các vùng lân cận mang thức ăn đến
cúng dường cho chúng tôi. Hành động cúng dường, một
hình thức bố thí đến tăng ni, để tạo nghiệp Thiện cho
họ hay cho người thân sắp qua đời.
Các vị Phật tử gương mặt rạng rở, một số mặc quần
áo đẹp. Họ mang đến cho chúng tôi cá, càri rau củ,
cơm, mì, bánh trái cây, đồ tráng miệng trái cây với nước
cốt dừa. Thật là một bữa ăn thịnh soạn. Nhưng
nhìn vải quần áo của các phụ nữ, những chiếc áo sứt
cúc của các cô gái, tôi đoán biết họ rất nghèo. Tôi
cảm thấy khinh an khi họ trân trọng múc thức ăn vào bát
đĩa của chúng tôi. Ở phương Tây chẳng có phong tục
nào giống như thế nầy cả. Cảm động nhất là được
nhìn thấy khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc của họ.
Để đáp lễ, Ni sư Ayya Khema giảng một thời pháp
ngắn. Khi Ni sư nói bằng tiếng Pali câu “Chúc các Phật
tử được bình an ngay trong đời sống hiện tại”, các vị
Phật tử chấp tay cúi lạy tỏ lòng biết ơn. Lòng tay
họ mở rộng đặt trên chiếu, đầu cúi lạy sát chiếu.
Tôi bị choáng ngợp bởi sự hiện diện lạ lùng của mình
ở nơi nầy. Khi trở về phòng, tôi không cầm được
những giọt nước mắt cảm động.
(Theo
The Nuns’ Island: Seven Sisters On Retreat)