Những Điều
Cốt Lõi
Chương
14
Nhiều
Giọt Nước Sẽ Làm Đầy Hồ
Chánh tinh tấn trong Bát Chánh đạo, rất quan trọng trong các
hoạt động đời thường cũng như trong sự thực tập cho
đời sống tâm linh. Nhưng ta thường hiểu sai về chánh
tinh tấn, gây ra nhiều trở ngại. Phần đông chúng ta
ở một thái cực khác là quá ít tinh tấn.
Chánh tinh tấn có nghĩa là dốc hết cả thân tâm vào việc
gì. Mỗi chúng ta đều có những khả năng khác nhau, nên
chỉ có ta mới biết rỏ khả năng hoàn thiện nhất của mình.
Mỗi tối, trước khi vào giường, ta hãy ôn lại những việc
xảy ra trong ngày, và tự hỏi mình: Hôm nay, làm việc ấy,
tôi đã có cố gắng chưa? Đã cố gắng hết sức mình
hay chỉ làm cho có lệ? Hôm nay tôi đã tự kỷ luật
mình, khe khắc hơn hôm qua không? Tôi có cố gắng dậy
sớm hơn thường lệ vài phút không? Đã cố học thêm
hai câu kệ? Đã cố ngồi yên hay quán tưởng lâu hơn
không? Hôm nay tôi đã cố gắng giảm bớt những ý nghĩ
bất thiện không? Chúng ta không cần phải hỏi ai là
những cố gắng của mình có đúng không. Tự chính ta
phải biết rõ điều đó.
Nhiều giọt nước làm đầy hồ, cũng như cuộc đời là những
chuỗi sự cố nhỏ. Những biến cố trọng đại chỉ
xảy ra một đôi lần trong đời, nhưng có bao nhiêu việc nhỏ
vẫn xảy ra sớm tối mỗi ngày. Sự nỗ lực của ta
cũng giống như những giọt nước làm đầy hồ: rất nhỏ
nhoi nhưng mỗi ngày lại hơn hôm qua một ít. Dần dần
hồ nước sẽ đầy. Sẽ có ngày với nỗ lực cuối
cùng, ta có thể hoàn toàn buông bỏ các ảo tưởng về ngã.
Nhưng điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra, nếu mỗi ngày
ta không cố gắng thêm chút ít, dù cái thêm đó rất nhỏ
nhoi.
Chúng ta rất thích tìm kiếm các lạc thọ, luôn đòi hỏi
sự thoải mái. Trái lại khi phải nỗ lực, cố gắng
hơn ta không thấy thoải mái. Lo lắng làm sao để đưọc
thoải mái không đem lại điều gì lợi ích. Không quan trọng
gì cả. Ngược lại, nó làm giảm lòng tinh tấn của
ta. Nếu thỉnh thoảng, ta không biết hy sinh những sự
thoải mái, tiện nghi của riêng cá nhân mình, dần dần ta
sẽ đánh mất hết mọi cảm hứùng, không còn động cơ thúc
đẩy ta hành động nữa. Nếu không bao giờ ta muốn vượt
lên giới hạn của mình, cuối cùng ta sẽ đánh mất mục
đích, và chỉ muốn đi tìm sự tiện nghi. Tuột dốc
bao giờ cũng dễ hơn trèo lên cao. Luật tỉ trọng không
chỉ chi phối thân mà cả tâm ta nữa.
Sự nỗ lực, dù nhỏ, cũng mang đến cho ta niềm vui lớn.
Hãy thử nhớ lại một ngày mà ta bằng lòng với mọi thứ,
chẳng phải cố gắng gì, với một ngày ta đã có những nỗ
lực và đã thành công. Không nên để một ngày trôi
qua mà không quán xét lại. Nếu không, làm sao ta có thể
biết đưọc gì là quan trọng và gì là không?
Chỉ có giây phút ngắn ngủi nầy hiện hữu, và đó là hiện
tại. Còn tương lai chỉ là cái bóng của trí tưởng
tượng. Vì khi tương lai xảy ra, nó trở thành hiện tại.
Tương lai chẳng bao giờ xảy ra như ta mong muốn vì người
tưởng tượng ra nó và người thực sự kinh nghiệm nó, không
phải là một. Vẽ vời với tương lai hay đắm chìm trong
quá khứ, đều là những việc làm mất thời gian. Quá
khứ đã qua rồi không trở lại. Nếu ta đã lầm lở
trong quá khứ, thì hãy học từ kinh nghiệm đó mà không tái
phạm -có lẽ đó là sự hồi tưởng đáng làm nhất.
Chúng ta chỉ có thể sống ngay giờ phút hiện tại. Khi
bắt đầu một ngày, giống như ta có cả cuộc đời trước
mặt. Mỗi buổi sáng, chúng ta như vừa đưọc tái sinh,
tươi trẻ, sáng suốt, và qua suốt một ngày, chúng ta sống
với đủ thứ loại tình cảm trong đời -yêu, ghét, lo lắng,
phiền não, sợ hãi, nhẫn nhục, bi thương. Tất cả mọi
thứ đó xảy ra chỉ trong một ngày, và nếu trong ngày đó
ta không nỗ lực để làm gì cả, thì ta phung phí thời gian
biết bao. Nếu để tất cả thành thói quen như thế,
dẫn đến sự phung phí cả một kiếp con người quí báu.
Theo lời Đức Phật dạy, cõi Người là cõi thích hợp nhất
để đạt Giác Ngộ. Ở cõi nầy, có khổ đau để
nhắc nhở con người tu tập, nhưng cũng có cả các dục lạc
(sukkha) làm cân bằng cuộc sống. Nhưng các dục lạc
cũng dễ đưa con người đến những suy nghĩ sai lầm, như
nếu khéo xoay sở, họ có thể đi từ lạc thú nầy đến
niềm vui khác mà không phải nếm trãi khổ đau. Đó là
tà kiếân. Dầu gì, đây cũng là cõi thích hợp nhất
để đạt đưọc Giác Ngộ tâm linh, vì tâm chúng ta có thể
được giải thoát khỏi mọi cấu uế. Nhưng nếu không
có sự tinh tấn, nỗ lực thì điều đó khó thể xảy ra.
Đôi khi có những nỗ lực làm kiệt sức con người nhưng
lại không đúng, vì quá chấp vào kết quả. Mong cầu
đạt đưọc kết quả đem đến sự lo âu, căng thẳng, khiến
ta bị nhức dầu, đau lưng, lo âu và trạo cữ. Lòng mong
muốn thường dẫn đến thất vọng. Nếu trong đầu ta,
lúc nào cũng nghĩ đến kết quả, ta sẽ không chú tâm vào
công việc đang làm. Nhưng nều ta buông bỏ, không để
ý đến những gì ta sẽ đạt đưọc, mà dốc toàn tâm toàn
trí vào công việc phải làm, nỗ lực không ngừng thì ta sẽ
dễ thành công mà không tạo ra căng thẳng.
Nhiều người bị nhức đầu lúc ngồi thiền, liền kết luận
rằng ngồi thiền không tốt. Nhưng họ quên nghĩ rằng
có thể do họ nỗ lực không đúng chỗ. Có thể do sự
quá mong cầu đưọc định, khiến họ không thoải mái, và
không đạt đưọc tiến bộ nào trong thiền định.
Sự nỗ lực có phần thưởng của riêng nó: lòng vui mừng
vì mình đã có cố gắng, và điều đó đem lại cho tâm thêm
sức mạnh. Như chúng ta biết, khi luyện tập thân thể,
ta vận động cơ bắp, tập cho thân thể chống lại mỏi mệt,
kết quả là ta có niềm vui vì đã có thể thực hiện đưọc
những việc khó thực hiện. Đối với tâm cũng thế.
Ta vận động tâm, bằng cách bắt nó phải nỗ lực thêm từng
chút mỗi ngày, và nếu cứ tiếp tục như thế, tâm ta sẽ
luôn vững mạnh. Nếu ta buông thả sau đó, thì tâm như
một sợi dây thun, lại rút về chỗ cũ. Nhưng nếu cứ
tiếp tục thực tập, sẽ có ngày tâm sẽ không đàn hồi
nữa. Nó trở thành mềm nhuyễn, dễ điều phục, độ
lượng và bắt đầu có thể nhìn thấu suốt, bao trùm các
kinh nghiệm vũ trụ, hơn là chỉ chăm chăm chấp vào cái không
gian nhỏ bé mà mỗi cá nhân của chúng ta chiếm hữu.
Nỗ lực phải kiên trì, và không đưọc thay đổi ngày thì
quá sức, ngày thì không làm gì cả. Thiếu sự kiên trì,
dễ khiến ta nản lòng, chán nản, thương thân. Kiên trì
nỗ lực -ngày qua ngày, phút nầy qua phút khác, và tự xét
lại mỗi ngày xem minh có tiến bộ hơn ngày hôm trước không-
làm được như thế mang đến cho ta niềm vui. Nếu chúng
ta học một vài chữ mỗi ngày, dần dần ta sẽ thuộc cả
bài kinh tụng. Một phút thiền định mỗi ngày kết quả
được một giờ thiền định trong hai tháng.
Trở ngại chính là lòng tham muốn lạc thọ, nhất là dục
lạc. Các cảm thọ nầy lúc có, lúc không. Căn bản
là có ba loại cảm thọ: vui, khổ và không vui, không khổ.
(Dầu không vui, không khổ, nhưng cảm thọ nầy cũng nghiêng
về lạc thọ, vì nó không khiến ta đau khổ). Bản năng
sinh tồn khiến ta bám víu vào các lạc thọ và xa lánh, trốn
tránh khổ thọ. Nhưng vì không thể kéo dài các lạc
thọ, lòng ham muốn khiến ta bận rộn đuổi tìm chúng suốt
cuộc đời, và đó là lý do dẫn ta trong luân hồi sinh tử.
Đó là một cuộc kiếm tìm vô vọng, vì thế nếu ta càng
sớm nhận biết điều đó, để buông bỏ, ta càng sớm có
thể tự hào nói rằng mình đang sống theo chánh pháp.
Qua những nỗ lực không ngừng, ta cảm thấy mạnh mẽ hơn
và cảm nhận đưọc những niềm vui trong nội tâm vì biết
rằng mình đã dốc hết sức lực vào việc tìm kiếm Giác
Ngộ giải thoát. Không có gì so sánh đưọc với chúng
trong đời nầy. Tất cả những thứ khác ta làm chỉ
vì mục đích sinh tồn, dầu có cần thiết, nhưng không đem
lại niềm vui.
Dầu làm gì, viết sách hay gọt một củ cà-rốt, điều quan
trọng là chúng ta đã thực hiện chúng như thế nào.
Đa số cho rằng viết sách thì quan trọng hơn gọt rau củ
nhiều. Nhưng bất cứ khi nào chúng ta hành động với
tất cả tâm chánh niệm, không mong cầu kết quả -điều nầy
dễ làm với củ cà rốt hơn là viết quyển sách- là chúng
ta đã hành động theo lời dạy của Đức Phật. Đó
không phải là Tôi đang làm gì, chỉ là có những việc cần
đưọc thực hiện. Đó là một mẫu mực đo lường hữu
ích đối với tất cả mọi việc. Một khi có 'cái tôi'
bước vào sân khấu là có chuyện, là tạo nên bao sóng gió
cảm xúc, khiến tâm khó có thể bình an, tĩnh lặng.
Nếu chúng ta quán sát các hành động của mình, ta sẽ nhận
thấy tất cả là do thói quen. Thói quen tạo nên bởi
bản năng, bởi tham ái, và cũng bởi lòng tin khó lay chuyển
vào cái tôi của mình. Nhiều người ảo tưởng rằng
họ làm chủ cuộc đời của họ, vì họ có tư duy và tâm
trí họ sáng suốt. Thực ra tất cả chỉ là những phản
ứng. Nếu chúng ta thực sự làm chủ, như một vị A-la-hán,
thì chúng ta đã chẳng bao giờ thấy đau khổ, lo lắng, sợ
hãi hay tức giận. Nếu tự ý, tự chủ hành động như
thế thì thật là ngu si.
Khi chúng ta trở nên tỉnh giác hơn, ta sẽ nhận thức được
rằng các phản ứng của ta là tự phát, tự khởi, không vì
lý do gì cả. Những khám phá nầy sẽ khiến ta ngạc
nhiên về chính mình, và nhất định ta sẽ không để chúng
tiếp tục xảy ra.
Sự tỉnh giác nầy đòi hỏi ta phải nỗ lực mỗi ngày, cố
gắng từng phút giây, làm sao để hôm nay phải nhích hơn hôm
qua một ít. Dần dần cả ngày là một chuỗi nỗ lực
đáng tán thán, chứ không phải là những bổn phận bó buộc.
Một khi ta cảm thấy hưng phấn, ta sẽ đi tới giống như
chiếc xe bao ngày bị ngưng trệ lại lăn bánh đi tới.
Làm sao để nó không bị ngưng trệ nữa, đó mới là điều
khó, nhưng một khi bánh xe đã bắt đầu lăn, thì tốc độ
sẽ đẩy nó tới mãi. Động cơ thúc đẩy phải đến
từ bên trong, và nếu chúng ta có tri giác, chúng ta sẽ tự
nhủ là :"Tôi thành tâm muốn đưọc giải thoát khỏi khổ
đau", chứ không phải là "Tôi cầu luôn được sung sướng".
Cầu như thế sẽ không bao giờ đưọc toại nguyện, vì làm
sao lúc nào cũng đưọc sung sướng, và chỉ ý mong cầu đưọc
sự tiện nghi, dễ dải cũng đã làm nhục ý chí phấn đấu
của ta. Muốn đưọc giải thoát khỏi khổ đau, đòi
hỏi ta phải nhận ra đưọc điều đó và thay đổi.
Những điều nầy đem lại cho ta niềm vui vì ta tự biết mình
đang chiến đấu cho những lý tưởng cao đẹp nhất.
Nếu chúng ta suy nghĩ, hành động, nói năng với tâm chánh
niệm, luôn chú tâm đến thân và tâm, đó là chúng ta tự
củng cố thêm sự hành thiền của mình, bắt đầu thấu hiểu
đưọc các ảo tưởng về mình. Chúng ta bắt đầu hiểu
đưọc các hành động mà không có người hành động.
Chỉ có hành động là đáng kể -động lực chân chính của
ta- chứ không phải là các kết quả.
Khi chúng ta biết tự hỏi mình: "Tại sao tôi đau khổ?
Điều gì đã làm tôi thất vọng?" chứ không vội vàng phản
ứng, thì mỗi ngày đều là một ngày vui sống.
Nếu không, ta đã suy nghĩ sai. Mỗi ngày là để tạo
mọi nỗ lực chiến thắng cái ngã. Nóng hay lạnh, ướt
hay khô, ngon hay dở- không có gì khác. Tất cả mọi nỗ
lực đều dồn cho một mục đích: hiểu thấu đưọc các
ảo tưởng về một người chủ của thân và tâm.
Mỗi chúng ta phải tự đánh giá sự tinh tấn của chính mình.
Chúng ta không thể bảo với người khác rằng: 'Anh không nỗ
lực đủ' hay "Anh đã cố gắng nhiều rồi". Tất cả
chúng ta đều có những khả năng, khuynh hướng, những trở
ngại, nhân quả khác nhau, nhưng ta cần phát huy các khả năng
tối ưu của mình. Thường con người chưa xử dụng hết
mọi nỗ lực của mình.
Các khía cạnh tâm và sinh lý của chúng ta gắn bó với nhau.
Thí dụ, để tọa thiền, ta ngồi xuống, là một động tác
của thân để củng cốù cho các nỗ lực tinh thần của ta.
Chánh niệm gắn bó thân và tâm với nhau. Vì có thân
và tâm, ta thường ảo tưởng rằng chúng là 'ta'. Tuy
nhiên khi chúng ta nhận thức đưọc rằng 'cái tôi' là nguyên
nhân của khổ đau, ta sẽ thất vọng về sự có mặt của
nó, và sẽ không muốn bám víu vào nó. "Cái tôi' đó
luôn suy tư, luôn tạo ra các cảm thọ, làm xáo trộn tâm ta.
Bớt tôn vinh 'cái tôi' là bước đầu đưa đến sự buông
xả ngã chấp, là một nỗ lực lớn. Chỉ cần có nỗ
lực thôi, ta cũng đã trên đường tiến tới mục đích đó.
Khi nào ta dồn hết tâm sức vào việc thiện, 'cái tôi' thường
phải cúi đầu.
Hãy nhớ mỗi tối kiểm tra lại ta đã sống như thế nào
trong ngày hôm đó. Chúng ta có nỗ lực làm việc tốt
không, hay chỉ để thời gian quý báu trôi qua? Có tưởng
nhớ đến Pháp thường hơn không? Tuy nhiên, đừng có
thái độ đổ lổi, buộc tội ai hay hoàn cảnh nào, nếu ta
có thiếu sót. Ngày hôm sau, một bắt đầu mới, ta có
thể làm lại từ đầu.
Sống như thế, mỗi ngày là một niềm vui. Ta sẽ không
còn cảm giác chán nản, chỉ mong ngày mau qua đi. Vì mỗi
giờ, mỗi phút giây qua đi, đều mang lại lợi ích và niềm
vui cho ta.
Niềm vui là một yếu tố quan trọng trong đời sống thánh
thiện, giống như bột nổi với bánh mì. Không có niềm
vui, đời sống thánh thiện của ta sẽ khó thể vươn lên
tuyệt đỉnh. Vì thế, hãy xử dụng từng giây phút,
và từng nỗ lực trong chánh niệm.
Chương
15
Bất
Nhị Nguyên
Chân lý giữ một vị trí quan trọng trong giáo lý Đức Phật.
Giáo lý Bốn Sự Thật Cao Cả (Tứ Diệu Đế) là trục của
bánh xe Pháp, và chân thật (sacca) cũng là một trong mười
điều thiện để vun trồng cho cây thanh tịnh. Nếu chúng ta
muốn tận diệt khổ đau, ta cần phải tìm ra đưọc chân
lý tuyệt đối về khổ đau. Giới luật, kể cả 'không
nói dối', là những điều căn bản giúp ta thực tập buông
xả, là điều ta cần phải thực hành, nếu như ta muốn đạt
đưọc chân lý tuyệt đối của vạn pháp. Điều đó
có nghĩa là buông xả mọi sự bám víu, chấp chặt, dầu là
có nhiều cái chấp ta còn chưa ý thức đưọc.
Để có thể đạt đến sự tận cùng, tuyệt đối của chân
lý, ta cũng phải suy xét đến tận cùng trong nội tâm ta.
Điều đó không dễ thực hiện, vì chúng ta không biết yêu
thương chính mình. Lý do tại sao chúng ta không biết yêu
thương chính bản thân, và lý do tại sao ta muốn biết cách
thương yêu chính mình tốt hơn là vì trong lòng ta đầy những
sân hận, chúng ta ghét cả chính bản thân mình, và vì chúng
ta vướng mắc trong thế giới của nhị nguyên.
Khi nào còn sống trong thế giới nhị nguyên, chúng ta còn sống
xa rời chân lý tuyệt đối. Trong kinh Nipata, có lời khuyên
ý nhị rằng, muốn khỏi bám víu, ta không nên có liên đới.
Như thế ta sẽ không có yêu hay ghét, mà chỉ có tâm bình
đẳng -đến với mọi loài chúng sinh- là còn tồn tại.
Với tâm bình đẳng (xả) chúng ta không còn vướng mắc giữa
hai cái tốt và xấu, yêu và ghét, bạn và thù, nhưng có thể
buông xả tất cả, để đạt đến cái tận cùng, nơi chân
lý tuyệt đối hiện hữu.
Hãy nghĩ đến mặt biển rộng mênh mông, sâu thẳm. Nếu
chúng ta bám víu vào cái gì đó, ta sẽ không thể nào lặn
xuống đến tận lòng biển cả. Những cái chấp của
chúng ta -về người, quan điểm hay ý kiến, mà ta tự cho là
của mình, và tự cho rằng chúng là đúng, là lợi ích- sẽ
cản trở chúng ta đến đưọc với chân lý tuyệt đối.
Cách ứng xứ của ta, yêu và ghét, khiến ta vướng mắc.
Dầu rằng nếu chúng ta thích điều gì đó hay người nào
đấy, cảm thọ ưa thích đó sẽ dễ chịu hơn. Sự yêu
ghét của chúng ta là những cái chấp. Cũng như các ảo
giác chúng ta cảm nhận khi ngồi thiền. Chúng ta có thể
chấp vào món ngon cho thân, thì ta cũng có thể bám víu vào
các món ngon tinh thần. Chúng ta suy nghĩ việc nầy, việc
nọ, nhặt nhặng những thứ mình thích thú. Chúng ta nhảy
từ tư tưởng nầy đến hơi thở và lại trở về suy nghĩ,
vướng mắc trong thế giới phân biệt, và sẽ không bao giờ
với tới sự tận cùng.
Trí tuệ sâu sắc giúp ta biết rằng việc giải thoát khỏi
khổ đau là việc có thể thực hiện đưọc. Khi chúng
ta vào sâu trong thiền định, và không bám víu vào bất cứ
điều gì, ta sẽ biết buông bỏ cả đến những cái chấp
tinh tế, sâu thẳm nhất. Dầu những gì ta biết về mình
có làm chúng ta thấy khó chịu hay vui mừng, đều không có
gì khác nhau. Tất cả các trạng thái tinh thần mà ta
nghĩ là của mình và trân quý, đều giữ chúng ta lại trong
nhị nguyên, trong lơ lửng, trong sự bất an, và không thể
nào giúp ta chấm dứt được khổ đau. Phút trước đó,
ta có thể bằng lòng với tất cả, thương yêu tất cả, nhưng
chỉ năm phút sau, ta có thể đảo ngược lại hoàn toàn.
Dầu chúng ta có tin lời Phật dạy, có tán thán Phật pháp,
nhưng nếu không tự chứng những điều đó, Pháp Phật cũng
chẳng ích lợi bao nhiêu. Để tự chứng đưọc, ta phải
như hòn đá kia, không trói buộc vào bất cứ thứ gì, tự
thả mình xuống đáy biển sâu của mọi chướng ngại.
Để nhìn ra đưọc sự thật, ta cần có tâm dũng mãnh, tâm
kiên cố. Khi nào tâm còn vướng vào những cái vụn vặt
tầm thường, tâm sẽ không có đủ sức mạnh để đạt đưọc
tri kiến.
Tâm chúng ta đa số đều yếu ớt như một võ sĩ hạng bét.
Cái đấm của một võ sĩ thượng hạng hẳn là mạnh mẽ
hơn nhiều. Tâm của kẻ yếu đuối bám víu vào rất
nhiều thứ, vào người, vào ý kiến của họ, vào không gian,
vào sự phân biệt phải trái, tốt xấu.
Tại sao ta cứ chấp mọi thứ vào ta, mà không coi đó chỉ
là những hiện tượng trong vũ trụ? Đó có thể là sự
khác biệt lớn nhất giữa một người sống với tâm an bình,
dễ dải và một người cố chấp với mình, với người.
Sân hận, tham ái, không phải là tâm hành của riêng một cá
nhân nào, không ai làm chủ chúng, chúng là bản tính của tất
cả chúng sanh. Nếu chúng ta biết buông thả, không quá
bám víu vào các trạng thái của tâm, là ta đã hủy diệt
đưọc một chướng ngại trọng đại nhất. Không thể
phủ nhận sự có mặt của tham ái và sân hận. Ngưọc
lại vô sân, vô si cũng hiện hữu. Ta có làm chủ tất
cả cùng một lúc không? Hay ta chỉ có thể làm chủ từng
thứ, từng thứ, phút nầy qua phút khác? Tại sao lại
muốn làm chủ của những cảm thọ nầy? Chúng có mặt,
và chỉ có thế. Khi nhận ra đưọc như thế, là chúng
ta đã bước sâu vào thế giới Phật pháp.
Chân lý thâm sâu nhất trong những lời dạy của Đức Phật
là không có một cá thể riêng biệt nào hiện hữu. Chúng
ta có thể chấp nhận điều nầy trong tư duy, và tự chứng
chúng ở mức độ tình cảm nào đó, nhưng một khi chúng ta
còn chưa buông bỏ ý nghĩ thân và tâm thuộc sở hữu của
ta, thì ta còn tiếp tục coi mình là quan trọng. Điều
nầy đòi hỏi một quá trình khắc phục lâu dài.
Khi hành thiền, chúng ta thực tập buông bỏ các suy nghĩ, các
vọng tưởng, để chỉ chú tâm đến đề tài thiền quán.
Nếu không buông xả, ta không thể đi sâu vào thiền định.
Trong trường hợp nầy, tâm cũng phải là một võ sĩ nặng
cân. Tâm của người tầm thường nhảy lăng xăng trên
các ngọn sóng của vọng tưởng và cảm thọ, dầu đang trong
thiền quán. Nếu không thực tập thiền quán suốt trong
ngày, việc hành thiền của ta sẽ gặp trở ngại, vì trước
khi ngồi xuống chiếu thiền, tâm ta không ở tư thế sẳn
sàng. Nếu suốt trong ngày, ta luôn biết buông xả, tâm
đã đưọc chuẩn bị, khi tọa thiền, tâm cũng dễ dàng buông
xả, để có thể tìm đưọc hạnh phúc, sự trong sáng cho
tâm.
Đôi lúc người ta nghĩ đến Phật pháp như là một phương
pháp trị liệu, điều đó hẳn nhiên rồi, nhưng đó không
phải là mục tiêu tối hậu. Mục đích của Phật pháp
là để giúp chúng ta diệt trừ đưọc khổ đau, một lần
và mãi mãi, chứ phải chỉ là những giải pháp tạm thời
khi đối mặt với khổ đau.
Đã có kinh nghiệm buông xả, dầu chỉ một lần, chứng tỏ
là ta đã chất chứa trong lòng những gánh nặng của sân hận,
tham ái. Trút bỏ đưọc gánh nặng đó, ta tự giải thoát
mình khỏi sự phán đoán tốt xấu, hay dở của nhị nguyên.
Thật là thoải mái, khi tâm không phải suy tư, vì tâm hành
chỉ mang lại khổ đau.
Nếu mỗi ngày, ta có thể tập bỏ đưọc một hay hai các
phán đoán, khen chê, là ta đã tiến một bước khá xa.
Ta sẽ nhận biết với lòng khoan khoái rằng khi một cảm thọ
dấy khởi lên, ta không cần phải mang nó theo ta suốt ngày.
Sự nhẹ nhỏm, khoan khoái trong lòng chứng tỏ rằng ta đã
thực hiện đưọc một cuộc khám phá nội tâm vĩ đại và
sự giản đơn của tính bất nhị nguyên dẫn ta đến với
chân lý.
Chương
16
Tiềm
Thức
Nhiều người có thói quen tự trách mình hay người khi gặp
những điều bất như ý. Có người thích trách người
khác, kẻ lại thường tự trách mình Không có thái độ
nào là đúng hay có thể khiến tâm yên ổn.
Tuy nhiên nếu chúng ta có thể nhận biết đưọc các bản
năng vô thức, sâu lắng của mình, có lẽ ta sẽ hiểu đưọc
tâm lý nhân loại. Nếu chúng ta biết rằng tất cả chúng
sanh đều có những bản năng nầy, có lẽ ta sẽ bớt sân
hận, đổ lổi cho người và dễ dàng chấp nhận những gì
xảy đến cho ta với lòng thanh thản. Chúng ta sẽ dễ
sửa đổi bản thân hơn khi hiểu rằng những bất thiện của
mình cũng là bản tính của nhân loại.
Những bản năng tiềm ẩn nầy vi tế hơn là ngũ uẩn.
Chúng ta dễ dàng nhận ra ngũ uẩn vì chúng thô, lộ liễu
như: tham ái để thoả mãn các giác quan; sân hận, giận dữ,
bực tức; giãi đãi, hôn trầm, thiếu nghị lực (giãi đãi
để chỉ về thân, và hôn trầm chỉ tâm); trạo cử, lo lắng,
không an ổn, bất an; nghi hoặc, không biết phương hướng.
Năm chướng ngại nầy rất dễ nhận biết ở chính bản thân
ta và tha nhân. Nhưng các bản năng nằm trong tiềm thức,
thì vi tế, khó nhận biết hơn nhiều. Chúng chính là
gốc rể của ngũ uẩn, khó nhận biết, nên không dễ diệt
trừ. Muốn tiêu trừ chúng, ta cần có tâm tinh tấn chánh
niệm và sự nhận thức sâu sắc.
Để tiêu trừ các chướng ngại do ngũ uẩn mang đến, ta có
thể bắt đầu chú tâm vào các bản năng tiềm ẩn nầy.
Hai bản năng đầu tiên, dục và sân, là gốc nguồn của ái
dục và sân hận trong năm uẩn. Ngay chính khi cái ngọn
của ái dục và sân đã hầu như được tiêu trừ, thì cái
gốc của chúng trong tiềm thức của ta vẫn còn nguyên.
Dục vọng phát khởi khi chúng ta bám víu, chấp vào những
điều ta thấy, nghe, ngữi, nếm, xúc chạm hay suy tưởng.
Chúng ta lo lắng về các cảm thọ, không biết rằng chúng
vô thường đến, rồi đi. Khi không có sự nhận thức
sâu sắc nầy, chúng ta thường coi các cảm xúc nầy rất quan
trọng. Chúng ta chạy đuổi theo chúng, tìm nguồn lạc
thú nơi chúng. Tất cả các chúng sanh đều tham dục.
Chỉ có các thánh tăng là đưọc coi như những người đã
diệt trừ đưọc ái dục hoàn toàn. Kinh Từ Bi đã tả
một vị tăng lý tưởng như là người đã hàng phục đưọc
các dục. Và trong nhiều bản kinh, Đức Phật đã nói
rằng diệt trừ đưọc hết ái dục là con đường đưa đến
Niết bàn.
Phải cần nỗ lực tinh tấn và tri kiến sâu xa mới mong thắng
đưọc dục vọng. Không thể hàng phục đưọc dục vọng
bằng chỉ những lời ta thán như: "Dục vọng là bất thiện.
Tôi sẽ buông bỏ chúng". Ta cần phải tri kiến sâu xa
rằng các cảm thọ do giác quan mang đến tự chúng không có
giá trị gì. Đó chỉ là kết quả của các căn (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý) xúc chạm với các trần (sắc, thanh,
hương, vị, xúc, giác). Chỉ có thế. Nếu chúng
ta còn phản ứng, xem các duyên nầy là quan trọng, thì dục
vọng và sân còn dấy khởi -hai thể tính nầy luôn đi chung
với nhau. Dục vọng đưọc thoả mãn khi các duyên trần
tốt đẹp. Ngược lại thì sân nổi lên. Sân không
cần phải biểu lộ bằng giận dữ, la hét, ghét bỏ, chống
đối. Nó có thể chỉ là một cảm giác khó chịu, không
vừa lòng, bất ổn. Nó là bản tính của chúng sanh đầy
dục vọng.
Chỉ có các bậc đã chứng A-na-hàm (Anagami), quả vị cuối
cùng trước khi Giác Ngộ, không còn luân hồi, đã Giác Ngộ
trong cõi thanh tịnh, mới có thể diệt trừ hết các tham sân.
Ngay chính các vị đã chứng các quả vị như Tu-đà-hoàn (sotapanna)
hay Tu-đà-hàm (sakadagami), là quả vị thứ nhất và thứ hai
của Giác Ngộ thanh tịnh, cũng vẫn còn bị khổ vì tham sân.
Một khi ta còn nghĩ rằng các động lực thúc đẩy tham sân
ở bên ngoài chúng ta, thì con đường đến với đạo hãy
còn ở xa ta. Chúng ta phải ý thức rằng các hành nghiệp
là do ta chủ động; chỉ khi ấy ta mới bắt đầu tu sửa
ngay nơi bản thân mình. Nếu không biết các hành nghiệp
từ đâu đến thì làm sao chúng ta biết phải làm gì?
Vì chúng xảy ra liên tục, ta sẽ có biết bao là cơ hội để
ý thức đưọc những gì đang xảy ra nơi nội tâm.
Nhưng chỉ có biết các phản ứng, hành động của ta do đâu
mà ra cũng không thể giúp ta bỏ đưọc chúng. Ta còn
phải hiểu rằng bực tức với các phản ứng, hành động
của ta chỉ là vô ích, bất thiện. Khi đã nhận thức
đưọc rằng tham sân là những bản năng vô thức tạo nên
ái dục và sân, tri kiến nầy sẽ giúp ta có thể chịu đựng
đưọc những khó khăn, khiếm khuyết của mình và tha nhân.
Như thế còn gì để ta phải bực tức nữa? Việc duy
nhất cần làm là chuyển hóa các tâm hành bằng cách coi chúng
như là các đề tài để thiền quán, soi rọi lại mình.
Coi những khó khăn, vướng mắc của mình như là một cách
để thanh lọc tâm.
Các bản năng và các chướng ngại (năm uẩn) đều tương
quan với nhau. Nếu ta có thể sửa đổi thứ nầy, thì
thứ kia cũng bớt chướng ngại, giảm sức mạnh, không còn
đáng sợ nữa. Người ta thường sợ chính những hành
động của mình. Vì thế họ thường cảm thấy bị kẻ
khác đe dọa -chúng ta ít sợ kẻ khác làm gì hay nói gì hơn
là sợ mình sẽ phản ứng, hành động như thế nào.
Chúng ta không tự tin, sợ rằng mình sẽ quá giận, sẽ tấn
công, do đó sẽ làm đổ ngã hình ảnh của 'cái tôi'.
Tự ngã là một chướng ngại của nội tại, vì nó đưọc
hình thành trên ảo tưởng của sự thường hằng. Trong
khi tất cả pháp đều thay đổi, kể cả chúng ta, thì tự
ngã đã hàm chứa một sự thường hằng, vĩnh cữu. Phút
nầy ta là người tham dục, phút khác ta lại sân si. Có
lúc ta tự tại, lúc lại bất an. Vậy ta là ai? Một
hình ảnh bất biến về chính mình không thể dựa được
trên nền tảng nào. Hình ảnh đó sẽ ngăn trở ta soi
rọi lại các bản năng vô thức, đưa ta đến những nhận
thức sai trái một cách mù quáng.
Bản năng vô thức thứ ba là hoài nghi hay do dự. Vì hoài
nghi, nên ta do dự. Tôi sẽ phải làm gì đây? Lo
lắng về khả năng, về con đường ta đã chọn, khiến ta
lãng phí thời giờ vô ích hay theo đuổi những hoạt động
không đem lại ích lợi gì. Sự không chắc chắn và bất
ổn bao trùm chúng ta. Ta lo sợ cho sự an toàn của mình.
Nhưng không ở đâu là hoàn toàn an ổn chỉ trừ Niết bàn.
Vì thế nếu ta có thể quán sát sự sợ hãi, bất an của
mình, chúng ta sẽ vượt qua được tất cả để thành tựu
được nhiều hơn.
Các vị chứng đưọc quả vị Tu-đà-hoàn đều là những
người đã diệt bỏ đưọc lòng hoài nghi, do dự. Họ
là những người đã đạt đưọc quả vị siêu phàm đầu
tiên, không còn có lòng hoài nghi. Đã tự chứng đưọc
chân như, một thực tại khác hẳn thực tại tương đối
nơi chúng ta đang sống, vị chứng Tu-đà-hoàn có thể xông
tới mà không lo lắng, sợ hãi. Không thể hoài nghi một
kinh nghiệm tự chứng. Thí dụ, nếu như ta bảo một
đứa bé: "Con đừng sờ vào lửa, sẽ bị bỏng đấy", vậy
mà nó vẫn sờ. Nhưng một khi đã sờ, đã bị đau vì
phỏng, chắc chắn là nó sẽ không bao giờ làm thế nữa.
Kinh nghiệm thực chứng xóa tan đi nỗi hoài nghi, do dự.
Bản năng vô thức kế tiếp là tà kiến (ditthi) về một cái
ngã. Đa số chúng ta đều không tránh khỏi điều nầy.
Rất ít biết rằng: 'Đó chỉ là tâm sở', nhưng lại tin 'Tôi
nghĩ thế nầy, thế nọ'. Khi cơ thể bất an, rất ít
người nói: 'Chỉ là một cảm giác khó chịu', nhưng lại
cho rằng: 'Tôi không khỏe", "Tôi bị đau". Sự miêu tả
của bất cứ việc gì xảy ra đều xoay quanh một cái 'tôi'
là một bản năng tiềm ẩn sâu xa mà muốn bứng đưọc gốc
rể của nó cũng phải cần biết bao nỗ lực.
Muốn buông bỏ tà kiến về 'cái tôi' không phải chỉ thuần
có tri thức hiểu biết rằng cái tôi không thực có là đưọc.
Nó đòi hỏi ta phải có sự hiểu biết từ nội tâm rằng
sự kết hợp giữa thân tâm không gì hơn là những hiện tượng
không do ai làm chủ. Người có chánh kiến về cái ngã,
đạt đưọc quả vị đầu tiên, quả dự lưu, nhưng chỉ
có các vị A-la-hán mới hoàn toàn diệt trừ hết mọi vướng
mắc về tự ngã.
Kế tiếp là ngã mạn, hay tự cao (mana), ở đây cũng hàm chứa
ý nghĩa của khái niệm về ngã, như là nam hay nữ, già hay
trẻ, xấu đẹp. Chúng ta có nhận thức về những ao
ước, cảm thọ, suy nghĩ, hiểu biết hay các hành của chính
mình. Tất cả những khái niệm đó tạo nên ngã sở,
và chúng ta trở nên tự hào về những sở hữu, về trí tuệ,
khả năng, cảm giác, cảm thấy mình đặc biệt hơn hẳn người
khác. Lòng tự hào nầy có khi rất khéo đưọc che đậy,
phải cần nhiều quán chiếu, soi rọi lại mình mới có thể
biết đưọc, vì nó chính là sự hiện hữu của ta. Khi
ai đó nói với chúng ta: "Hãy cho tôi biết khái niệm về nữ
giới", câu trả lời của người phụ nữ thường là: "Tôi
là một phụ nữ, đủ chưa?" Nhưng khi còn nghĩ ta là
gì đó -nam, nữ, trẻ, già, khôn dại- thì Niết bàn còn xa
thăm thẳm. Các khái niệm về tự ngã là chướng ngại
cho đường tu của ta.
Chỉ có các bậc A-la-hán mới diệt trừ đưọc bản năng
vô thức về ngã mạn, tự cao tự đại. Bản năng nầy
không có sự liên hệ trực tiếp, rõ ràng với năm uẩn, nhưng
cũng như tà kiến (ditthi), nó là biểu hiện chính của vọng
tưởng, là nguồn gốc của bao phiền não, cấu uế nơi ta.
Kế đến là sự bám víu vào hiện hữu (bhavaraga). Đó
là bản năng sinh tồn của ta. Chúng ta chấp chặt vào
cái sống, không muốn rời bỏ, không bao giờ sẳn sàng để
chết ngay bây giờ. Nhưng ta phải tập sẳn sàng để
chết ngay giờ phút nầy -không có nghĩa là muốn kết thúc
sự sống ngay, nhưng là chấp nhận cái chết như một việc
có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Muốn đưọc chết là
một thái cực của muốn đưọc sống mãi. Đó là muốn
hủy diệt 'cái tôi' vì cuộc đời quá đau khổ. Nhưng
việc sẳn sàng chấp nhận cái chết ngay bây giờ có nghĩa
là ta đã thấy đưọc cái giả dối trong việc bám víu vào
cái ngã và ta buông bỏ nó.
Bám víu vào sự sống khiến ta phải phụ thuộc vào nó.
Chúng ta muốn mọi việc đều xảy ra theo ý mình muốn, nếu
không đưọc, ta sinh khổ đau. Từ đó đưa đến tham
sân. Chúng ta thường dễ quên rằng mình chỉ là những
người khách trên trái đất nầy. Cuộc viếng thăm của
ta ngắn ngủi và có thể chấm dứt bất cứ lúc nào.
Bám víu vào sự sống khiến ta phải toan tính cho tương lai,
vì thế không thể sống ở giây phút hiện tại. Trong
tương lai, không có sự sống, tất cả chỉ là tưởng tượng,
phỏng đoán, một niềm hy vọng, một ước nguyện. Nếu
ta thật sự muốn sống, muốn kinh qua mọi thứ trong đời,
thì ta phải có mặt ngay bây giờ, tỉnh thức từng phút giây.
Điều đó giúp ta dễ buông bỏ việc chấp vào những gì sẽ
xảy đến cho ta trong tương lai, nhất là câu hỏi không biết
ta sẽ tiếp tục hiện hữu không. Hiện hữu, sống ngay
giây phút nầy là đủ. Làm được thế ta sẽ có đưọc
chánh niệm mạnh mẽ, chú tâm thật sự và tri kiến sáng suốt.
Bám víu vào sự sống cũng khiến ta có ý mong chờ một cái
gì tốt đẹp hơn sẽ xảy ra nếu ta biết chờ đợi, khiến
ta thiếu sự nỗ lực. Nỗ lực phải đưọc thực hiện
ngay bây giờ. Làm sao ai biết tương lai sẽ mang đến
cho ta điều gì?
Và cái cuối cùng trong bảy bản năng là vô minh (avijja): không
biết đến Tứ Diệu Đế. Chúng ta phủ nhận thực tế
bằng vô minh, không biết rằng mọi khổ đau đều từ lòng
ham muốn mà ra, dầu điều ta ham muốn không phải là bất
thiện. Nếu chúng ta tiếp tục u mê về hai sự thật
đầu tiên (khổ đế, tập đế), chưa nói đến sự thật
thứ ba là đạo đế, thì ta sẽ mãi mãi ở trong khổ đau.
Bản năng vô thức của vô minh cũng đưa ta đến tà kiến
về ngã -khái niệm về một tự ngã- mà nếu không có nó,
sẽ không có tham sân, không có hoài nghi, do dự, không có tà
kiến, không ngã mạn, tự cao, cũng như không có việc bám
víu vào sự sống.
Theo kinh nghiệm tu tập của chúng tôi, nếu ta có thể biết
được bản năng vô thức nào gây cho ta nhiều trở ngại nhất,
hãy lấy nó làm trọng tâm tu tập của ta. Vì mọi bản
năng đều tương quan mật thiết, nên giảm đưọc một bản
năng nào, thì các bản năng khác cũng đưọc giảm thiểu.
Để nhận ra đưọc các bản năng vô thúc nầy trong ta, đòi
hỏi rất nhiều chú tâm rốt ráo, có nghĩa là đòi hỏi ta
phải có thời gian và không gian. Không thể thực hiện
đưọc nếu ta phải bận rộn tiếp xúc với tha nhân.
Nếu tâm thanh tịnh, chúng ta có thể thực hiện đưọc điều
đó trong lúc tọa thiền hay quán chiếu.
Quán chiếu là một hành động hỗ trợ đắc lực cho tĩnh
tâm tọa thiền, một người bạn quan trọng trong việc hướng
ta đến tri kiến, trong khi thiền chỉ thì hướng đến sự
tĩnh lặng. Quán chiếu là nhìn vào bên trong, tìm xem cảm
thọ nào vừa dấy khởi. Xem điều gì đã khiến tôi
hành động thế nầy, thế nọ? Nếu thực hiện đưọc
rốt ráo, với sự chân thật tột cùng, quán chiếu sẽ giúp
ta nhận biết đưọc các bản năng vô thức của mình; nhắc
nhở ta rằng tất cả chúng sanh đều có các bản năng nầy,
và sẽ khiến ta tự hỏi mình: chúng đã ảnh hưởng đến
tôi như thế nào? Khi đã khám phá ra đưọc điều đó,
chúng ta có thể quán tưởng sâu hơn: làm thế nào để buông
bỏ bản năng nầy, hay ít nhất là giảm thiểu nó? Mỗi
ngày nên dành ra ít thời gian để quán chiếu. Như thế,
khi ngồi xuống chiếu tọa thiền, chúng ta sẽ thấy dễ dàng
đi vào định hơn.
Chương
17
Vô
Khổ, Vô Nhiễm & Tự Tại
Vô Khổ, Vô Nhiễm và Tự Tại là ba đặc tính của các vị
A-la-hán. Vô khổ có nghĩa là đã giải thoát khỏi khổ
đau; vô nhiễm là không còn cấu uế, ô nhiễm và tự tại,
không sợ hãi. Rõ ràng là các đức tính nầy rất đáng
trân trọng, vì chúng mang đến cho ta sự bình an, hạnh phúc.
Nhưng khi nghe nói đó là đức tính của các vị A-la-hán, hẳn
là ta không dám ước mơ mình sẽ thực hiện đưọc.
Hình như chúng quá xa tầm tay chúng ta.
Tất cả chúng ta ai cũng nếm biết sầu khổ, cũng từng bị
cấu uế, cũng luôn lo lắng. Khổ đau luôn ở quanh ta.
Còn khi ta cảm thấy bực tức, lo âu, bồn chồn, ganh ghét,
hay tị nạnh, là ta đã bị phiền não, uế nhiễm. Và
tất cả chúng ta cũng đều đã biết qua lòng lo lắng, sự
sợ hãi; sợ chính cái chết của ta hay của người thân thích,
sợ bị người ghét hay bị chê bai, chống báng, sợ không
đạt đưọc những gì mình mong ước.
Tuy nhiên ta cũng đưọc biết đến sự đối nghịch của ba
điều bất thiện nầy. Nếu trong ta không có hạt giống
thiện, thì có lẽ Giác Ngộ giải thoát chỉ là chuyện viễn
vông. Không có sự cấu uế nào có thể len vào tâm đang
chánh niệm -không phải chú tâm đến những điều cấu
uế mà đến những chủ đề thiền quán- dù chỉ trong một
giây, cũng đã là tốt. Lúc đó, sẽ không có lòng sợ
hãi vì không có gì để lo. Sự chú tâm trong thiền quán
đem lại niễm vui, niềm hạnh phúc nội tại mà không liên
quan gì đến những yếu tố bên ngoài; đó chỉ là những
trạng thái của tâm. Chúng ta không thể vun trồng đưọc
các trạng thái nầy, nếu trong những giờ phút không ngồi
thiền, ta chẳng đoái hoài chi đến chúng. Chúng ta cần
phải luôn cảnh giác bảo vệ tâm không bị uế nhiễm bởi
các ý nghĩ bất thiện.
Nếu ta có thể trãi qua những trạng thái tâm không phiền
não, không cấu uế và bất an, càng nhiều thì chúng càng dễ
trở thành thân thuộc với ta. Khi ta nhận thức đưọc
rằng ta có thể thực chứng được những kinh nghiệm đó,
dầu ngắn ngủi thế nào, chúng cũng trở thành một phần
của ta. Hãy nghiệm xem lòng sợ hãi -sợ hãi không đưọc
chấp nhận hay ngưỡng mộ- đã ảnh hưởng đến tâm lý của
người thiếu tự tin như thế nào. Những người như
thế không cần phải làm gì, lòng sợ hãi cũng tự động
khởi lên . Các trạng thái tâm an lạc cũng thế.
Do đó ta có thể tận hưởng chúng, vui mừng khi biết rằng
ta có thể đạt đưọc các trạng thái đó. Sau đó, bản
năng tự nhiên sẽ khiến ta thường hồi tưởng đến những
giây phút tự tại, do đó giúp ta tiến trên con đường đạo.
Mỗi giây phút tỉnh thức khi hành thiền là mỗi phút giây
không ô nhiễm, không phiền não và không sợ hãi. Khi
các kinh nghiệm nầy đưọc nhân lên, đưọc lập đi lập
lại là ta đã củng cố, thêm sức mạnh cho các trạng thái
của tâm giải thoát. Hãy nhớ rằng ta có thể làm chủ
tâm, hành động với chủ tâm dù trong hoàn cảnh nào.
Không phải trong ta lúc nào cũng đầy những bất thiện, cấu
uế. Cũng có những lúc ta không sân giận, mà chỉ có
lòng từ bi, không ái dục mà chỉ có sự độ lượng, buông
xả. Tất cả chúng ta đều có những giây phút không
khổ não. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta vô nhiễm,
vô khổ và tự tại. Chúng ta cảm thấy dễ chịu, an
tâm. Dầu bao nguy hiểm vẫn chực chờ, đe dọa sự sống
còn của ta, nhưng khi tâm trí ta tràn đầy sự bình an, thanh
tịnh thì sợ hãi không có cơ hội để phát khởi.
Khi ta có đưọc những giây phút của tâm thanh tịnh, đừng
nghĩ là do những yếu tố bên ngoài mang đến. Vì nếu
như ta không thể đổ lổi cho hoàn cảnh bên ngoài khi tâm
bất ổn, thì cũng đừng tán thán hoàn cảnh khi ta đưọc
an vui. Các yếu tố bên ngoài không đáng tin cậy, lại
không ở trong vòng kiềm tỏa của ta. Dựa vào những
gì không đáng tin cậy thì thật là u mê. Hành giả thực
hành, tu tập là để phát triển tâm thanh tịnh, dẫn đến
thiền định, giải thoát. Khi tâm vô nhiễm, không có
những tư tưởng phân biệt rối rắm, khi tâm chỉ đơn giản
biết, trong sáng, tự tại, thì hạnh phúc và an bình sẽ khởi
lên. Những giây phút đó, dầu ngắn ngủi, cũng giống
như ánh sáng ở cuối đường hầm đen tối, tù túng và dường
như bất tận. Nếu hành giả tiếp tục vun trồng, nuôi
dưỡng những giây phút đó, thì con đường hầm đen tối
dường như có lối ra. Và rồi tâm ta sẽ tràn đầy an
lạc.
Đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường trung đạo, đó
là giúp ta thấy được chân lý, biết rằng khổ đau ở khắp
mọi nơi, nhưng không phải để tuyệt vọng, mà để nhận
ra rằng có con đường giải thoát ra khỏi khổ đau. Nếu
chúng ta quá nặng lòng với những khổ đau, nghĩ rằng khổ
đau là con đường ta phải đi suốt cuộc đời, thì các hành
động của ta cũng phụ thuộc vào những nỗi khổ đau đó.
Để khổ đau phủ trùm lấy ta, thì hành thiền cũng không
ích lợi, và cũng khó thể sống hòa hợp với người.
Nhưng nếu ta đè nén hay trốn tránh khổ đau thì đó là không
dám đối mặt với thực tế. Trái lại nếu ta có thể
nhận thức rằng khổ đau là bản chất của nhân loại, đồng
thời cố gắng để thoát khỏi khổ đau, là ta đã biết sống
một cách hài hòa. Ta cần có sự hài hòa, thăng bằng
để có thể tu tập thành công.