Người
dòng Bà La Môn ở nước Thiên Trúc. Vào thời đại xa xưa,
tại nước A Thâu Sa của xứ Thiên Trúc (vì nước Thiên Trúc
vào thời cổ có 16 nước lớn) có một người dòng Bà La
Môn (không thấy nói tên họ) , anh chàng này bẩm tánh chân
thật, nhưng ngu si vô trí lại khổ một nổi là tâm nhiễm
ái thiên trọng, nên anh đối với vợ yêu thương quá mức,
với tình chồng vợ không biết chán nhàm. Trái lại vợ anh
chẳng những là người hiền lành, mà lại thông minh lanh lợi.
Cô này sanh trưởng trong một gia đình kính tin Tam Bảo, riêng
cô là người chẳng những với ngôi Tam Bảo sùng kính đến
mức tối đa, lại rất am tường Phật lý, về việc tu hành
thì cô chuyên về Pháp môn Tịnh Độ, trường trai niệm Phật.
Cô thuê thợ làm một chiếc trống thuần hoàng kim. Mỗi ngày
Cô quy định hai thời khóa niệm Phật khuya và tối, vì trong
lúc ban ngày phải bận việc gia đình, trong thời gian này cô
niệm Phật cũng chỉ nhiếp tâm thầm niệm mà thôi. Mỗi khi
niệm Phật thì cô gõ trống thế cho mõ, như trên đã nói,
chồng của cô đã quá đần độn lại quá yêu vợ không rời,
nên lúc cô vợ đang cúng đánh trống niệm Phật, mà anh nắm
lôi tay cô bảo đi ngủ, cô ôn tồn đáp: "Không được anh
ơi! Nếu anh muốn em cùng đi ngủ thì mỗi tối đồng với
em đánh trống niệm Phật cho xong mới cùng nhau đi ngủ". Anh
vì thương vợ nên sẳn sàng ưng thuận, có những lúc đang
niệm Phật anh ta thúc hối đi ngủ thì cô ấy vẫn từ hòa
nói, chưa đủ anh ơi! Niệm thiếu mang tội chết! Từ đây
anh dòng Bà La Môn này cùng vợ niệm Phật không sót một đêm,
trải qua thời gian ba năm, anh bị trọng bệnh rồi qua đời,
nhưng vì tim vẫn nóng, nên không nhập liệm, trải qua năm
ngày anh sống lại, bấy giờ anh đối với vợ khóc một cách
thảm thiết dường như buồn tủi một việc gì?! Cô Phật
tử vợ anh hỏi lý do, anh nói: "Em ơi! Giờ đây anh không có
một niệm muốn gần em nữa! Duy có tâm niệm lo tu là chăm
niệm Phật để được về Tây Phương Tịnh Độ mà thôi!
Vì sau khi anh chết bị ngục tốt dẫn vào Hoạch Than địa
ngục (địa ngục này hành phạt tội nhân bằng cách nấu
trong vạc dầu sôi), lúc ấy anh thấy tất cả tội nhân đương
bị nấu trong vạc trồi lên chìm xuống, dường như nấu đậu,
lại có tội nhân la khóc thảm thiết, trườn qua vành chảo
mà muốn chạy ra, bị Ngục tốt dùng gậy đánh đập trúng
chảo đồng đang nấu nghe tiếng cảng cảng và nó lại bắt
quăng vào chảo, lúc ấy anh vô cùng kinh hồn khiếp vía sợ
hãi, bỗng nhớ lại khi cùng em đánh trống vàng niệm Phật,
hai tay chắp lại chí thành niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" thì
lại chí thành niệm "Nam mô A Di Đà Phật" thì chảo dầu sôi
tức khắc biến thành một ao nước mát có hoa sen đầy trong
ấy, bao nhiêu tội nhân đều ngồi trên hoa sen, và thấy họ
vui tươi không la khóc. Tất cả đều sanh về Tây phương Tịnh
Độ. Ngục tốt tức khắc tâu với Minh Vương, Ngài liền
đến chỗ chảo dầu sôi đã biến thành ao sen, vui mừng vô
hạn, và tức khắc truyền lịnh phóng thích anh về dương
thế, lại dạy bảo anh sau khi về dương thế phải siêng niệm
Phật, đừng gần vợ nữa. Vì thế, anh giờ đây 100% không
muốn gần em. Anh cũng muốn nói cho em được rõ, Minh Vương
chẳng những vui vẻ truyền lệnh phóng thích anh về, mà Ngài
còn nói:
Trên trời
dưới trời Không ai bằng Phật
Đức từ
bi Ngài Cứu khắp quần sanh
Có những
chúng sanh Tạo nhiều tội ác
Đọa vào
địa ngục Chịu khổ cực hình
Chỉ nghe
một câu A Di Đà Phật
Dầu sôi
lửa dữ Tức khắc biến thành
Tất cả
tội nhân Đều được vãng sanh
Ao nước
thanh lương ( mát mẻ)
Tây phương
Cực Lạc Đức từ bi ấy
Hết sức
cao cả Con không thể gì
Dùng lời
diễn tả Chỉ có chí thành
Tánh mạng
nương về Nơi đấng Lưỡng Túc
( Phước
đức trí huệ).
Truyện này
tôi thành kính y trong bộ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục thuật
lại chữ Việt. Trong bộ sách này ghi lại truyện vãng sanh
có mấy ngàn, truyện anh chàng Bà La Môn là một truyện trong
ấy (trong truyện này ai là người được vãng sanh? Tức là
các tội nhân bị nấu chảo).
Quý vị đọc
truyện này có vài điểm nên lưu tâm:
_ Hành động
của cô Phật tử (vợ anh Bà La Môn).
_ Niệm Phật
đã ba năm mà bị đọa địa ngục.
_Hành động
của cô Phật tử trong truyện ngắn này, chúng ta nên tán thán,
vì nếu cô ấy như những người khác, thì có nhiều thất
bại.
_ Gia đình
không an vui, tại sao vậy? Vì khi cô đương niệm Phật mà
bị chồng quấy rầy như vậy, theo như những người phụ
nữ khác, sẽ nổi sân si la mắng rằng đồ khốn nạn, người
ta đang trong giờ tu niệm mà nắm tay lôi kéo hối thúc đi
ngủ. Trong khi ấy anh Bà La Môn chắc 100% không nhịn, vì dù
anh là người đần độn vô trí, nhưng vẫn có tâm tự ái,
hơn thế nữa là chồng thì bao giờ cũng ở trong thế thắng,
nghĩa là người có quyền hơn vợ, đương nhiên anh sẽ chửi
mắng và có thể xảy ra việc đánh đập là khác.
_ Không
thể an tu. Vì như trên đã nói, thì làm sao an tâm mà
tu niệm?
Thế là đại sự của mình bị hỏng!
_ Không
hướng dẫn chồng vào Phật pháp. Điểm này không
cần dài
dòng vì giữa hai bên đã bất hòa, đã chạm tự ái, tâm sân
đã
sùng sục
nổi dậy, là vì ái với sân nó đi đôi không rời nhau, niệm
đầu vì
anh ấy quá yêu vợ và yêu trong trường hợp về nhục dục,
mà không như ý thì đương nhiên lửa sân nổi dậy. Sơ lược
ba điểm như trên, chúng ta thấy cô Phật tử trong truyện
rõ là người khôn ngoan có trí lại gồm hiền từ.
_ Niệm Phật
ba năm mà bị đọa. Sự việc này mới nghe qua, ai ai cũng phải
có tâm nghi ngờ đối với lời vàng của đức Thế Tôn. Vì
trong Kinh Ngài có dạy rõ "Niệm một câu A Di Đà Phật, sẽ
tiêu diệt tội trọng trong đường sanh tử 80 ức kiếp". Chỉ
một câu mà còn có hiệu lực dường ấy, tại sao anh Bà La
Môn kia mỗi đêm đều cùng vợ niệm Phật suốt 3 năm mà
bị đọa? Nam Mô A Di Đà Phật! Xin quý vị bình tâm, tôi sẽ
trong Kinh mà lược thích sự nghi ngờ ấy. Chúng ta nên biết
tất cả pháp, thì tâm đứng đầu, tâm làm chủ, nếu dùng
tâm ấy mà tạo nghiệp thì như bóng theo hình không bao giờ
sai chạy. Thế mà anh Bà La Môn niệm Phật, bằng cách đọc
Thánh hiệu Phật mà thôi, trong tâm tưởng hoàn toàn không
có niệm. Tại sao? Vì dù anh suốt ba năm niệm Phật theo vợ,
nhưng trong tâm bao giờ cũng nghĩ được vợ theo ý mình. Chuyện
này tôi nói phớt qua, quý vị thừa hiểu nhiều, hơn nữa
cũng không nên nói. Có điều chúng ta 100% nên lưu ý là, dù
anh Bà La Môn ấy suốt ba năm không có một phút thành tâm
niệm Phật, chỉ miệng đọc Thánh hiệu bằng cách bắt buộc
theo lời vợ đã hứa (tức là cô Phật tử ấy bảo anh nếu
muốn đi ngủ phải cùng em niệm Phật cho đủ), do sự đọc
Thánh hiệu bằng cách bắt buộc ba năm, nó huân sâu vào tạng
thức, thành hạt giống niệm Phật nằm mãi trong tâm, như
hạt kim cương không bao giờ hư hoại, nên khi gặp duyên thì
hạt giống sẳn có ấy nó phát ra rất mạnh mẽ, theo Duy Thức
Học của Phật dạy gọi là chủng tử khởi hiện hành. Do
vậy nên anh Bà La Môn khi bị ngục tốt dẫn vào ngục nước
dầu sôi, thấy bao tội nhân đang bị hành hình đã vô cùng
khiếp sợ, lại nghe tiếng đánh đập tội nhân cây côn trúng
vào chảo kêu lản cảng thì trong tâm thức anh tức khắc nhớ
lại tiếng gõ trống vàng niệm Phật với vợ khi ở dương
thế, liền thành kính chấp hai tay lại mà niệm Nam Mô A Di
Dà Phật thật lớn! Kính thưa quý vị, với câu niệm Phật
của anh Bà La Môn lúc này có công năng tiêu tội trọng vô
lượng vô biên kiếp chứ không phải chỉ trong 80 ức kiếp,
vì câu niệm Phật lúc này của anh chẳng những chí thành
mà tất cả tâm lực đều dồn hết vào đó, nên mới được
kết quả vĩ đại như vậy. Ví dụ cho dễ hiểu, như nhà
tối vạn vạn năm, mà đem ngọn đèn pha soi vào, thì tất
cả sự tối tăm đều tan tức khắc. Vì lý do này, mà chảo
dầu sôi đang sôi sùng sục, tức khắc biến thành ao nước
mát mẻ đầy cả hoa sen, bao nhiêu tội nhân đều ngồi trên
ấy.
Ở đây chúng
ta sẽ thấy rõ, cái công đức niệm danh hiệu Từ phụ A Di
Đà của anh Bà La Môn không mất cũng vì vậy mà trong Kinh
Phật dạy niệm Phật dù không chí thành cũng là nhân xa sẽ
được giải thoát trong vô lượng kiếp về sau. Nói đến
đây thuật giả nhớ lại, hay dùng bánh trái dụ trẻ con niệm
Phật là chính ý ấy vậy. Còn việc tại sao do một câu niệm
Phật của anh Bà La Môn mà tất cả tội nhân được ảnh
hưởng lợi ích vĩ đại như vậy, điều ấy tôi xin dẫn
một đoạn trong kinh Pháp Hoa ở Phẩm Phổ Môn quý vị sẽ
rõ: Trăm ngàn vạn ức người, vì kiếm bạc, vàng, lưu ly,
xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu, và những thứ
quý báu cùng loại, nên ra biển cả; giả sử bị trận gió
lớn trong bầu trời u ám thổi bạt thuyền tàu sa vào đảo
quốc La Sát, trong những người ấy, nếu chỉ có một người
trì niệm danh hiệu Quán Âm Đại Sĩ, thì những người kia
cũng vẫn thoát được cái họa La Sát.
Tiếp theo
thuật giả thành kính y trong các Kinh. Kinh địa ngục, kinh
Lâu Thán, Kinh A Hàm, Chánh Pháp Niệm Xứ, trang Thung Lục Bộ
Sách lược thuật về nguyên nhân vì sao vua Diêm Vương tức
trong truyện gọi là Minh Vương. Khi thấy tội nhân vạc dầu
sôi biến thành ao nước mát và có nhiều hoa sen tội nhân
ngồi trên đó. Ngài vui mừng đến tột độ tức khắc truyền
lệnh phóng thích người Bà La Môn và cung kính thuyết kệ
diễn tả đức từ bi cứu khổ ban vui của Đức Từ Phụ
Di Đà. Vì các Diêm Vương âm phủ đối với tất cả tội
nhân quý Ngài đều có từ tâm với họ nên mỗi khi Ngục
tốt bắt người dẫn đến liền truyền lệnh bảo Tàu quân
đem bộ sổ ra xem, căn cứ theo lời
khai của
mỗi tội nhân phù hợp với trong ấy, gặp những người nào
khi còn ở trên dương thế tu nhiều phước đức nhất là
có tâm tin kính Tam Bảo ăn chay niệm Phật thì các Ngài vui
mừng vô cùng. Trái lại gặp những tội nhân tạo nhiều tội
ác thì các Ngài quở trách, nơi đây thuật giả xin dẫn nguyên
văn chính cú của vua Diêm Vương đối với tội nhân quở
trách như sau:
"Các ngươi
may mắn Đã được thân người
Mà chẳng
lo tu Khác nào như người
Đã đến
núi báu(núi có vàng ngọc) Mà về tay không
Hôm nay đến
đây Phải chịu cực hình
Là do các
ngươi Tạo nhiều tội ác
Tự mình
tạo tội Thì tự thọ khổ
Đâu có người
nào Đem khổ đến cho
Giờ đây
các ngươi Kêu la than khóc
Mong cầu
việc gì! Ta đâu cứu được
Ta cũng không
thể Chịu thay các ngươi!"
Như trên
là nói qua Diêm Vương rất trọng Phật Pháp và rất
thương kính
người tu hành, mà nhất là ăn chay niệm Phật siêng làm các
việc lành, lánh xa tất cả điều ác, việc ấy cứ xem trong
ba câu chuyện ngắn Thuật giả dẫn trong Long Thơ Tịnh Độ
sau đây thì rõ.
_ Phật tử
Phòng Chữ Triều nhà Đường ở Trung Hoa, có một Phật tử
tên Trần Chữ. Người này thành kính Tam Bảo, tu hành rất
tinh tấn. Một hôm không hề bệnh hoạn gì bổng nhiên bị
bạo tử, xuống Minh phủ yết kiến Diêm Vương. Diêm Vương
tiếp đãi rất sùng hậu. Ngài phán rằng, căn cứ trong bộ
sổ ghi tội phước thì Trẫm thấy khanh có một việc công
đức rất lớn, là khuyên một người cao niên niệm Phật.
Người ấy đã vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, khanh nương
nhờ công đức ấy cũng chắc chắn được vãng sanh. Nên Trẫm
mời khanh đến đây để được gặp nhau lần cuối cùng,
và cũng có vài lời tán thán công đức vĩ đại ấy, vì khanh
đã làm cho một người sẽ thành Phật, độ vô lượng hằng
sa chúng sanh. Phòng Chữ sau khi nghe Diêm Vương ân cần tán
dương công đức mình, anh nói một cách quả quyết rằng,
kính tâu Diêm Chúa, con chân thành vạn tạ ơn Ngài đã chiếu
cố gọi con đến đây, và có những lời dạy bảo quý hóa
ấy. Con vô cùng cảm kích! Nhưng tâu Diêm Chúa, trước kia
con có phát hai điều thiện nguyện: Một là trì tụng một
vạn quyển Kinh Kim Cang, hai là đi Ngũ Đài Sơn chiêm bái Đức
Đại Bi Quán Âm Đại Sĩ, vì vậy nên con chưa muốn vãng sanh
Cực Lạc trong lúc này. Đức Diêm Vương phán rất quý hóa!
Nhưng khanh nên biết với hai thiện nguyện ấy hoàn toàn không
bằng sớm được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Vì được
về cõi nước của Đức A Di Đà, chẳng những khỏi hẳn
tất cả khổ thống trong sanh tử, mà sự tu hành đủ thắng
duyên hơn ở cõi Ta Bà đến vạn ức lần. Hơn nữa, được
diện kiến Đức Giáo Chủ cõi Cực Lạc, và hai Đại Thánh
Quán Âm, Đại Thế Chí luôn hầu cạnh bên. Lúc bấy giờ
khanh chẳng những được yết kiến lễ bái Phật A Di Đà
mà lại được lễ bái Quán Âm, Đại Thế Chí lại được
làm bạn với chư Thượng Thiện Nhân ở Lạc Bang. Nếu khanh
ở lại cõi này đi chiêm bái, chẳng qua chỉ là Thánh tích
của Quán Âm Đại Sĩ mà thôi. Những lời trên vừa tỏ bày
và khuyến tấn đối với khanh đều là y theo Thánh giáo chứ
không phải từ nơi ý kiến riêng của Trẫm, mong khanh nên
nghĩ kỹ. Diêm Vương đã cạn lời huấn dụ như vậy mà ông
cũng không vâng theo, nên Ngài cũng tùy thuận mà bảo Ngục
tốt dẫn trở về dương thế.
Đọc truyện
này chúng ta thấy rõ khuyến người niệm Phật tu hành chẳng
những được phước rất lớn, mà chính mình cũng được
vãng sanh Cực Lạc, lại cảm động chốn u minh được Diêm
Vương kính phục. Thế nên Đức Đại Từ Bồ Tát làm kệ
thuyết minh về công đức khuyên người tu pháp môn niệm Phật
như sau:
Nếu ai có
thể Khuyên được hai người
Tu hành niệm
Phật Như thế tức là
Bằng mình
tự tu Rất là tinh tấn
Nếu khuyên
cho được Mười người trở lên
Thì phước
đức ấy Vô biên vô lượng
Nếu mà khuyên
được Trăm người ngàn người
Làm được
như vậy Thật là Bồ Tát
Lại tiến
lên thêm Cho đến số vạn
Như vậy
tức là Phật A Di Đà.
_ Vua Diêm
Vương khuyên bà lão tuổi đã 70 niệm Phật, ở tại xã Châu
Lâm, huyện Kim Đàn, xứ Trân Giang. Bà này chết xuống âm
phủ, nhưng chưa hết số phải trở về lại nhân gian. Trước
khi bái biệt Diêm Vương để trở về chổ cũ, Diêm Vương
khuyên bà lão: " Bà đã cao niên rồi, khi trở về dương thế
lo tu phước đức sẽ được sanh đến cảnh giới an vui .
Ngài lại hỏi bà niệm Kinh được không? Bà đáp: Thưa Đại
Vương! Con không biết chữ tụng không được. Diêm Vương
bảo không sao! Bà tụng kinh không được, chỉ thành tâm niệm
Phật A Di Đà cho nhiều, đến kỳ mãn số sẽ về Tây phương
Cực Lạc, không còn trở lại chốn này. Sau khi bà lão sống
lại, bà thường nói với những người quen biết rằng: Tôi
từ nào vô phước không ai chỉ dạy tu hành tụng kinh niệm
Phật. Hôm nay nhân chết xuống âm phủ, vua Diêm Vương dạy
tôi niệm Phật, do đó tôi biết đạo Phật không gì hơn.
Đức Diêm Vương mà còn khuyên tôi niệm Phật, thì đâu nghi
ngờ gì nữa.Từ nay tôi nguyện gác bỏ tất cảû mọi việc,
đói no không quản đến, con cháu nó có thương cho bữa đói
bửa no gì cũng được. Bà từ đấy chuyên tâm niệm Phật,
lại sống lâu 120 tuổi mới mãn phần. Khi bà sắp qua đời
không bệnh khổ gì lắm, chỉ mệt không đi đứng được
nhiều như ngày thường, rồi niệm Phật mà thoát hóa. Cứ
theo truyện này thì thấy có hai điều đặc biệt. Một là
bà lão chắc chắn được vãng sanh vì bà niệm Phật không
bê trễ, chẳng những từ ngày xuống âm phủ rồi về nhân
gian, mà lúc lâm chung chánh niệm hiện tiền. Hai là do niệm
Phật mà thọ
số rất
cao, lại không bệnh khổ.
_ Thấy người
sát sanh niệm Phật được phước.
Trong bộ
Quán Âm Linh Cảm Ký thuyết minh Diêm Vương khuyên người niệm
Phật như sau: Ở tại Nhiêu Châu (Trung Quốc) có người tên
Trịnh Lân coi về việc trong quân đội, chết xuống Âm phủ,
nhân vì bắt lầm nên được thả về dương thế( giống với
truyện hai trên). Trước khi bái biệt Diêm Vương, Ngài có
mấy lời khuyên nhắc Trịnh Lân rằng: Anh về dương thế
gắng sức làm lành, kiếp người quá ngắn ngủi như bóng
câu( ngựa) qua kẽ hở, như đèn leo lét giữa gió, như sương
mai đầu ngọn cỏ..
Những việc
lành thì có vô lượng, mà trong ấy công đức niệm Phật
là lớn nhất. Vậy Trẫm khuyên anh cố gắng niệm Phật cho
nhiều, khi tận số sanh được Cực Lạc không còn trở lại
chốn Diêm Đài, lại bất luận lúc nào anh thấy người sát
sanh thì anh chí thành niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ
Tát cầu nguyện cho chúng sanh bị giết sanh về Cực Lạc,
dù chúng nó không được sanh Cực Lạc, thì cũng được thác
sanh cảnh giới lành, anh được phước rất lớn. Căn cứ
theo truyện này thì thấy rõ niệm Phật có ba điều lợi lớn:
Một là đem công đức ấy tiến bạt cho tiên vong, hai là được
phước, ba là được vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ.
Giờ đây
xin nói qua mấy ông chủ ngục và mấy chú A bàn đối với
tội nhân thôi khỏi nói, vì mấy ổng họ ghét tội nhân hơn
ghét kẻ oan gia, cừu thù, cọp dữ, rắn độc và xem rẻ như
thú vật. Họ đã hành hạ chửi mắng đánh đập một cách
tàn nhẫn, vậy mà họ không vừa lòng. Họ muốn làm sao cho
các tội nhân bị đau khổ cho thật dữ, không một phút một
giây được yên thì họ mới hả dạ. Thật không có chút
từ tâm, thế nên trong văn cảnh thế nói: "Tàu quan bảo án
một nhân tình, Ngục tốt trì xoa vô tiếu diện.." ( Tàu quan
xử thét la chẳng vị, Ngục tốt hờn tay chùy tay xoa) có người
thấy vậy mới hỏi mấy ổng rằng: Tất cả tội nhân nơi
đây cùng mấy ông đồng là chúng sanh, tại sao quá nhẫn tâm
tay đánh miệng chửi mà chưa đã giận hết tức là nguyên
nhân nào? Mấy ổng đáp: "Ông trách chúng tôi cũng đúng, nhưng
nếu mấy ông ấy mà ở vào trong hoàn cảnh như chúng tôi,
thì mấy ông cũng vậy. Vì tất cả tội nhân họ đến đây
chịu cực hình, trong lúc họ còn trên dương thế toàn là
những người có thể tu tập pháp lành, là vì được thân
người yên ổn, dù trong ấy cũng có sai khác nhau rất nhiều,
là nghèo giàu, khổ vui, nhưng không có một phần nào như chốn
hắc ám khủng khiếp này! Thế mà nó không có một chút thiện
niệm, đừng nói là làm lành. Chúng nó bất hiếu với cha
mẹ ông bà quyến thuộc, hủy báng Tam Bảo, không kính trọng
Thánh Hiền, mạ nhục lục thân quyến thuộc. Với bậc Sư
Trưởng thì họ ngạo mạn khinh chê, với tất cả người
thì xảo trá quỷ quyệt gian tham lường gạt tìm đủ mưu
mô hãm hại họ, miệng thì nói lời thô ác, nói lưỡi đôi
điều, làm ly gián quyến thuộc của người, nói dối trá,
nói thêu dệt. Tâm thì tham lam keo kiết chỉ muốn cho mình
vàng đầy rương, bạc đầy tủ, lúa đầy kho, thấy người
đói thiếu không lòi một xu, dù họ lâm vào tình trạng đến
chết cũng mặc kệ, nhưng đây là việc thường. Còn có những
kẻ tàn ác hơn nữa, giết người cướp của, sát hại thú
cầm, trên không gian thì dùng lưới rập dùng súng ná, đất
liền thì gài bẫy đào hầm, dưới nước thì chài lưới
lờ dẹp đó đăn.. cho đến phá làng phá xóm đốt nhà cửa
lương dân, hãm hiếp vợ con người làm cho mất tiết mất
trinh, buông lung kết án gây thù với người. Chúng tôi chỉ
nói sơ lược như vậy, nếu nói cho đủ thì không biết bao
giờ cho cùng tận, những tội ác của những kẻ đã đến
đây!
Ông có biết
không? Trong những giờ phút mà các tội nhân được thoát
khỏi ngục hình, trên thì Đức Diêm Chúa, dưới thì chúng
tôi vui mừng khôn xiết. Nên mỗi lần tội nhân được ra
khỏi ngục, Diêm Vương Ngài đinh ninh dạy bảo khuyên răn
một cách thống thiết rằng: Quý tội nhân! Từ ngày quý vị
đến đây thọ tội, lòng Trẫm cũng buồn đau lắm, nhưng
có biết làm sao! Vì quý vị tự tạo tội thì phải chịu
khổ quả, không một ai thay cho, dù người chí thân như cha
mẹ, anh em, chồng vợ.. Vậy hôm nay Trẫm xin nhắc quý vị
luôn nhớ sự kịch khổ trong đây, thật không thể gì diễn
tả! Trong thời gian qua quý vị đã nếm đủ rồi. Vậy trong
giờ phút này, Trẫm mong quý vị ráng nhớ, đã ra được rồi
đừng trở lại!!! Trẫm mong quý vị đừng tạo tội ác nữa
nghe chưa?!
Thế mà những
tội nhân này, với lời Diêm Chúa khuyên răn dạy bảo, chúng
vẫn như nước chảy lá môn, như đàn khảy tai trâu, không
một niệm chừa bỏ. Mới ra khỏi chốn cực hình ngày này,
chốc lát vẫn lại vào. Chúng sanh trong cảnh luân hồi thọ
khổ xem như nhà ở của mình, mê muội không chút ngao ngán,
không sợ đau khổ. Làm cho chúng tôi khổ cực vì họ, bởi
ngày đêm đánh đập hét la hao hơi rát cổ, thân thể mệt
mỏi, gân xương đau nhức. Việc này không phải một, hai ngày,
mà phải trải qua kiếp này đến kiếp nọ. Vì duyên cớ ấy,
ông bảo chúng tôi đối với tội nhân phải có từ tâm, sự
thật không thể khởi từ tâm với chúng nó được mà trái
lại chúng tôi còn muốn cho chúng nó đau khổ, càng thêm đau
khổ, đau khổ cho đến mức tận cùng không thể chịu nổi.
Vì chúng tôi có ác ý như vậy là mong tội nhân biết khổ,
đau biết hổ thẹn, biết chán ngán đừng trở lại nữa!
Nhưng mà chúng tôi thấy vô số tội nhân không một niệm
chán khổ, không chịu tu thiện cầu về Niết Bàn, không chịu
niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Với lờøi Phật dạy, họ
bỏ ngoài tai. Các tội nhân đã như vậy, thật như vật vô
tri thì làm sao bảo chúng tôi khởi từ niệm với họ cho được?!
Ghi chú số
(1)
Mấy ông
A-bàn nói tội nhân dưới địa ngục ngày hôm nay ra khỏi,
chốc lát, lại rơi vào, là một sự thật 100% chứ không phải
vì giận ghét mà nói như vậy. Xin quý vị lưu ý Thuật giả
sẽ nói rõ điều này, vì một ngày đêm dưới địa ngục
lâu dài ngoài sức nghĩ tưởng của chúng ta. Như trong kinh
luận thường nói, ngày đêm ở cõi Trời (ở đây Thuật giả
dẫn các cõi Trời ở Dục giới rất lâu đối với ngày đêm
ở nhân gian. Vì ở cõi Trời Tứ Thiên Vương một ngày đêm
bằng ở nhân gian 50 năm. Cho đến một ngày đêm ở cõi Trời
thứ 6 là Tha Hóa Tự Tại bằng 1.600 năm ở nhân gian. Thế
là chúng ta thấy hai nơi nhân gian và Thiên Thượng đã khác
nhau quá nhiều rồi. Giờ đây Thuật giả y theo kinh Quán Phật
Tam Muội thì, một ngày đêm ở địa ngục A Tỳ bằng ở
nhân gian là 60 tiểu kiếp. Mà một tiểu kiếp ở nhân gian
là 1680 vạn năm (16.800.000 năm) mà tội nhân nơi đây (ngục
A Tỳ) đời sống của họ trọn một đại kiếp. Niên số
của một đại kiếp ở nhân gian là 1.344.000.000 (một tỷ
ba trăm bốn mươi bốn triệu năm). Có điều nên lưu ý là,
thọ số của tội nhân ở ngục A Tỳ một đại kiếp tức
là tính theo đại kiếp dưới địa ngục không phải ở nhân
gian. Vì nếu tính theo nhân gian thì một ngày đêm trong địa
ngục A Tỳ đã 3/4 của một đại kiếp. Vì một đại kiếp
là 80 tiểu kiếp. Nói cho rõ thêm thì, một ngày đêm trong
địa ngục A Tỳ là 60 tiểu kiếp, tức là đã trãi qua 3/4
của một đại kiếp ở nhân gian. Một đại kiếp là 80 tiểu
kiếp. Về con số của đại kiếp hay tiểu kiếp ở nhân gian
hay âm phủ đồng nhau. Nghĩa là một đại kiếp thì 80 tiểu
kiếp, nhưng chỉ khác nhau ở điểm ngày dưới địa ngục
A Tỳ, khác với nhân gian, như trên đã nói: Một ngày đêm
ở ngục A Tỳ là 60 tiểu kiếp ở nhân gian.
Thuật giả
nói đi nói lại là vì sợ quý vị không lưu tâm đến điểm
này thành, sai chi hào ly, thất chi thiên lý, hay tục ngữ có
câu "Sai một con toán thì bán cái nhà".
Nam Mô A Di
Đà Phật.
Kính thưa
quý vị! Mỗi khi Thuật giả nhớ đến việc này, trong tâm
cảm thấy kinh hoàng khủng khiếp, rởn óc cả người, muốn
nhịn ăn bỏ ngủ để chuyên tâm niệm Phật cho kịp. Vì nếu
lần lựa qua ngày mà lọt vào trong khám lớn ATỳ thì vạn
vạn lần nguy to. Biết như vậy mà không thực hành được
cũng là một điều đại tàm quý đáng buồn, đáng trách.
Tại sao các vị Diêm Vương đối với tội nhân có tâm đại
từ như mẹ hiền đối với con thơ? Các Ngài thốt ra những
lời khuyên dạy tội nhân bằng một màu sắc từ bi đáng
ái kính như vậy. Vì mười vị Diêm Vương trong mười điện
( mười điện thế gian gọi là 10 cửa ngục) toàn là chư
Phật Bồ Tát hóa hiện không phải phàm phu. Sau đây xin nêu
danh hiệu của mười vị Diêm Vương trong mười điện, đồng
thời cũng nêu rõ Thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát thị hiện
làm mười vị Diêm Vương hóa độ tội nhân trong địa ngục,
để quý vị càng rõ đức Diêm Chúa khi thấy các tội nhân
đang bị khổ não cực hình trong chảo dầu sôi, mà nghe cảm
Thánh hiệu của Đức A Di Đà Như Lai Giáo Chủ Tây Phương
Cực Lạc liền biến thành ao hoa sen, tất cả tội nhân đều
an tọa trên đó. Ngài mừng đến cực độ lập tức phóng
thích anh chàng Bà La Môn và khuyên anh về trần gian lo tu niệm,
lại dùng kệ tán dương đức từ bi cao cả có một không
hai của đức Từ Phụ A Di Đà.
Quý vị A
Bàn họ nói tội nhân ra khỏi địa ngục chốc lát lại vào.
Thuật giả xin tạm dùng một việc khác làm ví dụ để quý
vị dễ hiểu. Mỗi ngày lúc sáng điểm tâm, trước khi đi
làm, quý vị bảo cháu bé năm tuổi ra trước cửa ngõ mua
cho má một ly cà phê và nửa ổ bánh mì đem vào cho mau, theo
Thuật giả nghĩ thời gian này có thể lâu hơn thời gian của
mấy ông A Bàn nói về sự ra vào của tội nhân ở địa ngục.
Đây là danh
hiệu của mười vị Diêm Vương trong mười điện ở Minh
Đồ.
Đệ nhất
điện - Tần Quảng Minh Vương
Đệ nhị
điện _ Sơ Giang Minh Vương
Đệ tam điện
_ Tống Đế Minh Vương
Đệ tứ
điện _ Ngũ Quan Minh Vương
Đệ ngũ
điện _ Diêm La Minh Vương
Đệ lục
điện _ Biến Thành Minh Vương
Đệ thất
điện _ Thái Sơn Phủ Quân Minh Vương
Đệ bát
điện _ Bình Đẳng Minh Vương
Đệ cửu
điện _ Đô Thị Minh Vương
Đệ thập
điện _ Chuyển Luân Minh Vương
Tiếp theo
đây nêu rõ Thánh hiệu của chư Phật Bồ Tát thị hiện làm
Diêm Vương để lợi ích chúng sanh ở Minh Giới.
_ Bất Động
Như Lai: Đức Như Lai này khi ở Minh Đồ thì thị hiện làm
Tần Quảng Minh Vương, chủ coi về lễ cúng dường tuần thất
thứ nhất các vong linh.
_ Thích Ca
Như Lai: Ở Minh Giới thị hiện làm Sơ Giang Minh Vương, chủ
coi về lễ cúng dường tuần thất thứ hai cho các vong linh.
_ Văn Thù
Đại Sĩ: Vị đại sĩ này thị hiện làm Tống Đế Minh Vương
ở Minh Giới, để coi về lễ cúng tuần thất thứ ba các
vong linh.
_ Phổ Hiền
Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này thị hiện làm Ngũ Quan Minh Vương
ở địa ngục, chủ coi về lễ cúng thất thứ tư cho các
vong linh.
_ Địa Tạng
Đại Sĩ: Vị Đại sĩ này khi ở trong địa ngục thị hiện
làm Diêm Ma (cũng gọi là Diêm La) Minh Vương, chủ coi về lễ
cúng dường tuần thất thứ năm cho các vong linh.
_ Di Lặc
Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào trong địa
ngục làm Biến Thành Diêm Vương, chủ coi về lễ cúng tuần
thất thứ sáu cho chư vong linh.
_ Dược Sư
Như Lai: Đức Như Lai này biểu hiện thân hình vào Minh Giới
làm Thái Sơn Phủ Quân Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần
thất thứ bảy cho các vong linh.
_ Quán Âm
Đại Sỹ: Vị Đại sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh Đồ
làm Bình Đẳng Minh Vương, chủ coi về tuần bách nhật cho
các vong linh.
_ Đại Thế
Chí Đại Sĩ: Vị Đại Sĩ này biểu hiện thân hình vào Minh
Đồ làm Đô Thị Minh Vương, chủ coi về lễ cúng tuần tiểu
tường cho các vong linh.
_ A Di Đà
Như Lai: Vị Như Lai này biểu hiện thân hình vào chốn địa
ngục làm Ngũ Đạo Chuyển Luân Minh Vương để coi về lễ
cúng đại tường cho các vong linh.
Như trên
là thành kính y trong Kinh Thập Vương nêu Thánh hiệu Chư Phật
Bồ Tát biểu hiện thân hình làm mười vị Diêm Vương để
tế độ chúng sanh trong Minh đồ. Đây chỉ lược nêu danh
mà không giải thích, vì quá rộng, lại ở đây cũng không
phải cần điều ấy, mà chỉ cần rõ 10 vị Diêm Vương là
chư Phật Bồ Tát thương xót chúng sanh trong chốn u đồ mà
thị hiện thân hình làm Diêm Vương để tế độ đó thôi.
Có một điều quan trọng nhất là chúng ta đã có thân này,
thì không ai mà lại chẳng có cha mẹ ông bà quyến thuộc,
thế nên trong những lễ thất tuần.. phải hết lòng thương
nhớ thâm ân của cha mẹ ông bà mà lo tạo phước hồi hướng
cầu nguyện. Nếu thật hành như vậy thì chẳng những trọn
hiếu đạo cá nhân mình, mà chư Phật Bồ Tát cũng rất hoan
hỉ.
Đồ biểu
ghi về điểm đồng dị ngày, tháng, năm, tiểu kiếp, trung
kiếp, đại kiếp của nhân gian và địa ngục A Tỳ.
_ Nhân gian
và địa ngục A Tỳ. (1)
1 tháng =
30 ngày
1 năm = 12
tháng
1 tiểu kiếp
= 16.800.000 năm
1 trung kiếp
= 336.000.000 năm
1 đại kiếp
= 1.344.000.000 năm
_ Ngày, tháng,
năm, tiểu, trung, đại kiếp của địa ngục A Tỳ. (2)
1 ngày = 60
tiểu kiếp của nhân gian
1 tháng =
1.800 tiểu kiếp của nhân gian
1 năm = 21.600
tiểu kiếp của nhân gian
1 tiểu kiếp
=
1 trung kiếp
=
1 đại kiếp
=
Biểu số
(1) là nói về điểm tương đồng nhân gian và địa ngục
A Tỳ. Nghĩa là ở nhân gian 1 tháng là 30 ngày, 1 năm là 12
tháng cho đến một đại kiếp là 1.344.000.000 năm. Ở địa
ngục A Tỳ cũng vậy, hoàn toàn không khác nhau ( trong đây
riêng nói địa ngục A Tỳ, các địa ngục khác cũng vậy,
nghĩa là 1 tháng là 30 ngày).
Biểu số
(2) nói về điểm tương dị của nhân gian và địa ngục A
Tỳ nghĩa là:
1 ngày đêm
ở địa ngục A Tỳ bằng 60 tiểu kiếp ở nhân gian,
1 tháng dưới
địa ngục A Tỳ bằng 1.800 tiểu kiếp ở nhân gian,
1 năm ở
dưới địa ngục A Tỳ bằng 21.600 tiểu kiếp ở nhân gian.
Đây là chỉ
lấy 1 ngày, 1 tháng và 1 năm dưới địa ngục A Tỳ để so
sánh sự sai khác với nhân gian. Còn tiểu, trung, đại kiếp
con số quá lớn, Thuật giả kém về toán học, nên không tính
được. Vậy xin quý vị nương theo một ngày, 1 tháng và 1
năm để tính tiểu, trung đại kiếp nhơn lên cho biết sự
sai khác của hai nơi nhân gian và địa ngục A Tỳ.
Nam Mô A Di
Đà Phật
Kính thưa
quý vị! Thuật giả nhận thấy 27 trang giấy này có nhiều
khuyết điểm vậy xin quý vị khi đọc cảm thông cho! Vì thâm
ý của Thuật giả chỉ mong đem lại sự lợi ích về việc
tu hành được thoát khổ sanh tử, vãng sanh Cực Lạc là điểm
chính.
Những trang
giấy này Thuật giả chẳng những không viết được một
chữ, mà chỉ tự nói ra và nhờ một Phật tử viết lại
để nghe qua vậy thôi. Thế nên rất nhiều khuyết điểm.
Rất mong thông cảm hỉ xả cho!
Xem
Tiếp