Về
Thuyết So Sánh Công Đức
Niệm
Phật của Tuân Thức Đại Sư
Trong kinh
Đại Bát Niết Bàn thuyết minh rằng: Giả sử có thiện nam
tín nữ nào phát nguyện trong thời gian một tháng, thường
đem y phục và các thức ăn uống cúng dường cho tất cả
chúng sanh ( tất cả chúng sanh không phải riêng chỉ cho nhân
loại mà toàn thể chúng sanh trong lục đạo đều gồm trong
ấy, vả lại không phải riêng chỉ cho chúng sanh trong một
quốc độ nào, lại riêng nói một đạo trong sáu đạo là
bàng sanh tức là súc sanh, súc sanh do người nuôi mà mệnh
danh như thế, bàng sanh thì đúng hơn vì hình nó đi ngang đội
trời mà đi, súc sanh chỉ số ít mà thôi. Như trong kinh Lâu
Thán, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ thì bàng sanh chủng loại sai
khác không đồng nhau gồm có 40 ức, lại còn có các vi tế
côn trùng bò bay cựa động số ấy nhiều không thể nói được,
đều thuộc trong bàng sanh, lớn nhất là chim đại bàng, kim
sí điểu và cá ma kiệt, cho đến nhỏ nhất như con kiến
riện, con mạt cũng nhiếp trong bàng sanh. Lại còn những thứ
nhục nhãn không thấy như vi trùng trong không khí, vi trùng
trong nước, thiên nhãn mới thấy? Tại sao chỉ nói đến bàng
sanh đạo? Vì chúng sanh các đạo khác chư Thiên, quỷ, thần
v.v.. nhục nhãn nhân loại không thấy được) công đức này
rất lớn, nhưng không bằng có thiện nam tín nữ nào, phát
tâm chí thành niệm Phật trong một niệm. Chúng ta đem công
đức bố thí rất lớn nói trên mà so sánh với công đức
niệm Phật trong một niệm, thì công đức bố thí chỉ bằng
một phần trong 16 phần mà thôi.
Giả sử
có thiện nam tín nữ nào dùng vàng đúc hình người rồi dùng
xe ngựa vận tải đem đi bố thí, cho đến dùng các vật quý
báu khác mỗi thứ đủ số 100, cũng đem toàn bộ đi bố thí,
công đức này rất lớn, nhưng không bằng công đức của
thiện nam tín nữ nào phát tâm dở chân đi một bước đến
chỗ Phật.
Giả sử
có thiện nam tín nữ đem xe voi lớn vận tải hết tất cả
trân bảotrong nước Đại Tần, và dùng chuỗi anh lạc đủ
số 100 đem đi bố thí, cũng không bằng có thiện nam tín nữ
phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật.
Nếu có thiện
nam tín nữ dùng tứ sự ( tứ sự: 1- Thức ăn; 2- Y phục;
3- Đồ nằm; 4- Thuốc thang) cúng dường cho tất cả chúng
sanh trong tam Thiên đại Thiên thế giới, công đức này rất
nhiều, nhưng vẫn không bằng có thiện nam tín nữ phát tâm
cất chân đi một bước đến chỗ Phật, công đức của các
tiện nam tín nữ đó vô lượng vô biên không thể dùng toán
số ví dụ mà xác định được.
( Như trên
là thuộc về Kinh Văn. Sau đây là lời phổ khuyến của Đại
Sư. Tôi (lời của Đại Sư) thành kính khắp khuyên tất cả
thiện nam tín nữ Phật tử tại gia có tín tâm đối với
Tam Bảo ( trong đây Đại Sư chỉ khuyên nhắc hàng Phật tử
tại gia vì hàng Phật tử xuất gia với việc đi đến Phật
đường là việc hằng ngày) mỗi ngày trong lúc sớm mai mặc
y phục chỉnh tề, giữ tâm thanh tịnh, đi đến Phật đường
( tức là chỗ thờ Phật), một lòng thành kính chiêm ngưỡng
lễ bái Phật như thấy tôn dung của Phật sống không khác.
(Liên tông Thập Tam Tổ thường dạy, khi lễ Phật phải một
lòng thành kính xem Phật Bồ Tát mình đang đảnh lễ như Phật
Bồ Tát thật, đừng nghĩ là tượng vàng, đồng, giấy v.v..
tức là tương tự với lời dạy của Tuân Thức Đại Sư)
đừng cho một ngày nào thiếu sót. Nếu vì quá bận rộn về
việc công hay việc tư cũng cần phải lưu tâm tạm vào Phật
đường, đốt hương cúng dường, hai tay chấp lại chí thành
cung kính xá Phật ba xá, đoạn lui ra đi làm việc. Nếu những
vị có thời giờ rãnh rỗi, thì không hạn định trong lúc
sớm mai, mà mai chiều hay tất cả thời đều có thể đến
Phật đường làm các Phật sự như lạy Phật, tụng kinh,
sám hối cho đến cúng dường hoa hương, hay lau chùi bàn Phật,
tượng Phật v.v.. Quý vị nên nhận chân thân người khó được,
Phật Pháp khó gặp, cơ hội thuận tiện lại còn khó hơn,
vì sự vô thường không nhất định, giờ trước còn khỏe
mạnh, giờ sau chẳng biết thế nào.. Xin quý vị xem kỹ đoạn
Kinh Văn trên nói về công đức niệm Phật trong một niệm,
và dở chân đi một bước đến Phật đường còn thù thắng
đến dường ấy, huống chi mỗi niệm mỗi niệm đều niệm
Phật, mỗi bước mỗi bước đi đến chỗ Phật, hay là nhiễu
Phật niệm Phật, thì tội chướng được tiêu diệt, công
đức được tăng trưởng thật không thể dùng tâm suy nghĩ
hay lời luận bàn cho cùng được.
Lời phụ:
Nguyên đề bài văn này là so sánh công đức niệm Phật của
Tuân Thức Đại Sư.
Đại phàm
nói so sánh thì phải đem việc này so sánh với việc khác,
như thế tại sao chỉ nói so sánh công đức niệm Phật không
thấy nói đem công đức gì để so sánh? Sự việc này chúng
ta không nên thắc mắc, cứ đọc Kinh Văn của Đại Sư đã
trích dẫn thì biết. Nghĩa là, Kinh Văn có nói rõ là đem công
đức bố thí để so sánh với công đức niệm Phật, và đem
công đức bố thí để so sánh với công đức phát tâm dở
chân đi một bước đến Phật.
Trong đây
có điều nên lưu ý là, phát lòng thành kính niệm Phật trong
một niệm, và phát tâm cất một bước đi đến Phật, là
để thấy rõ niệm Phật quá ít, cũng như cất chân đi đến
Phật chỉ một bước, mà công đức dường ấy. Thì mỗi
niệm đều niệm Phật, và mỗi bước đều để tâm đi đến
Phật, thì công đức ấy làm sao diễn tả cho cùng. Sự việc
này trong lời khuyến tấn Đại Sư có nói rõ, ở đây Thuật
giả chỉ nhắc lại cho quý vị lưu ý mà dụng tâm niệm Phật
trong mỗi niệm, và dù gần hay xa cũng gắn đi cho tới chỗ
Phật, đừng sợ nhọc tâm nhọc sức mà sanh lười nhác chỉ
niệm vài ba trăm câu rồi nghỉ, hay đi vài trăm bước sợ
mỏi chân. Như thế thì với công đức vô lượng vô biên
không thể nghĩ bàn kia không gặt hái được phần nào, và
trong đây nói đi đến chỗ Phật không nhất định như thờ
Phật trong nhà, đi vài chục bước thì tới, nếu từ nhà
đến Chùa thì không nhất định là bao nhiêu bước. Công đức
phát tâm cất chân đi một bước đến chỗ Phật, cũng gồm
nhiếp trong công đức niệm Phật. Nên ở đề mục chỉ nói
so sánh công đức niệm Phật là đủ và có điều chúng ta
nên ý thức là trong bài văn nói sự so sánh công đức niệm
Phật này, nói việc phát tâm đi đến Phật là thuộc về
việc sau khi Đức Thế Tôn đã nhập diệt. Thế nên lời khuyến
tấn của Tuân thức Đại Sư có nhấn mạnh những vị bận
rộn việc công tư cũng nên lưu tâm vào Phật đường v.v..
Tiện đây
soạn giả xin y trong kinh Hiền Ngu kính dẫn một đoạn nói
về việc Trưởng giả Cấp Cô Độc phát tâm đi chiêm bái
đức Bổn Sư Thích Tôn khi còn tại thế cũng tương tự như
trong kinh Niết Bàn đã nói trên. Sau đây là Kinh Văn:
Tu Đạt nghe
nói một việc (việc ấy thuộc Kinh Văn ở trên) quý hóa,
vui mừng bủn rủn chân tay một lòng tin kính, mong cho chóng
sáng, để đến yết kiến Phật. Vì lòng thành kính thiết
tha có thần cảm ứng, đương nửa đêm tối trời mà ông
tự thấy ánh sáng tỏ soi khắp mặt đất như ban ngày, lòng
hoan hỉ khôn xiết! Đứng dậy đi sang nước La Duyệt Kỳ
để yết kiến Đức Thế Tôn, vừa ra khỏi thành gặp ngôi
miếu thờ thiên thần, ông bước vào làm lễ, tự nhiên quên
mất tâm khát vọng Phật, lại thấy tối om, sợ mãnh thú
ác quỹ, ông định trở về thành chờ đợi sáng sẽ đi.
Cũng may ông
có người bạn thân, chết được sanh lên cõi trời Tứ Thiên
Vương, thấy ông hối hận trở về, liền xuống bảo rằng:
"Cư sĩ! Ông chớ e ngại nữa! Đi yết kiến Phật được phúc
đức vô biên, ví nay được một trăm cỗ xe chở châu báu,
không bằng cất chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn,
còn được lợi gấp muôn ngàn.
Cư sĩ! Ông
đi yết kiến Phật, chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này
được một trăm con voi chở châu báu, cũng không bằng rời
chân một bước để đi yết kiến đức Thế Tôn còn được
lợi ích khôn kể.
Cư sĩ! Ông
nên đi chớ ngần ngại nữa, chính như ông có được vàng
bạc châu báu, đầy cõi Diêm Phù chăng nữa, cũng không bằng
dời chân một bước đi yết kiến đức Thế Tôn, còn được
lợi trăm muôn ngàn triệu.
Cư sĩ! Ông
nên đi chớ ngần ngại nữa, ví như kiếp này ông được
vàng bạc châu báu đầy bốn thiên hạ, cũng không bằng cất
chân một bước đi viếng đức Thế Tôn, còn được lợi
ích gấp trăm muôn ngàn triệu kể trên.
Muốn Khỏi
Tam Tai Phải Gấp Niệm Phật
Tam Tai trong
Tam Tạng Thánh giáo nói có hai thứ: 1- Đại tam tai, 2- Tiểu
tam tai, nhưng đại tam tai ít nói đến, mà thường nói là
tiểu tam tai. Với đề mục muốn khỏi tam tai trong bài này
là chính nói về tiểu tam tai.
Tiểu tam
tai ở trong tiểu kiếp. Tiểu kiếp là một trong 20 tiểu kiếp
của thời kỳ trụ. Thời kỳ trụ là một trong bốn thời
kỳ (thành, trụ, hoại, không) của một đại kiếp. Mà 20
tiểu kiếp trong thời kỳ trụ hiện tại thuộc về tiểu
kiếp thứ 9. Trong tiểu kiếp này có bốn đức Phật xuất
thế. Thánh hiệu bốn đức Phật ấy như sau:
Một là,
Câu Lưu Tôn Phật. Khi ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân
loại giảm đến sáu vạn tuổi. Nghĩa là từ 84.000 giảm còn
sáu vạn.
Hai là, Câu
Na Hàm Mâu Ni Phật. Khi ngài xuất thế thì tuổi thọ của
nhân loại giảm còn bốn vạn tuổi.
Ba là, Ca
Diếp Phật. Khi Ngài xuất thế thì tuổi thọ của nhân loại
giảm còn hai vạn tuổi.
Bốn là,
Thích Ca Mâu Ni Phật. Khi Ngài xuất thế thì tuổi thọ của
nhân loại giảm đến 100 tuổi. Hiện nay đức Bổn Sư Thích
Ca của chúng ta nhập diệt đã 2540 năm, thì thọ mạng của
nhân loại còn chỉ 75. Nhưng hiện tại cũng có những người
sống đến 80 hay nhiều hơn nữa, đây chỉ là thiểu số mà
thôi. Vì theo trong kinh nói, nhân loại ở châu Diêm Phù không
nhất định về đời sống, nên có lắm người mới sanh thì
chết, hoặc 2, 3, 4, 5.. cho đến 30. 40, 50 tuổi.. không nhất
định, không như nhân loại ở Bắc Câu Lô Châu thọ số nhứt
định 1000 tuổi, sự việc này không phải phần chính của
bài này, xin gác qua.
Giờ đây
xin nói vào phần chánh là tiểu tam tai. Trong tiểu kiếp thứ
9 này. Như trên đã nói, hiện tại thọ mạng của nhân loại
còn 75 tuổi. Cứ 100 năm giảm 1 tuổi, giảm đến 30 tuổi
thì có tai nạn đói khát phát sanh. Tai nạn này trải qua thời
gian bảy năm bảy tháng bảy ngày. Trời không mưa một hạt,
thế là quả đất khô thành bột, ngũ cốc hoàn toàn không
trồng tỉa được, đến nổi không có một cọng cỏ, chúng
ta thử tưởng tượng nhân loại làm sao sống còn?! Vì lí
do này trong một ngày một đêm bị chết đói vô số không
thể nói được. Bởi nhân duyên này, nhân loại bấy giờ
có những người sanh tâm cực nhàm chán với tội ác, thiện
niệm phát sanh, do vậy mà tai nạn đói khát chấm dứt. Từ
đây nhân loại giảm đến lúc 20 tuổi thì có tai tật dịch
(bệnh dịch, bệnh thời khí) phát sanh, trải qua bảy tháng
bảy ngày nạn dịch tiếp tục lan tràn nhân loại bị bệnh
ấy hoành hành chết gần hết, cái thảm kịch này không sao
tả xiết! Do dó có những người cực chán cho cái khổ bệnh
dịch hành hung, nên khởi niệm lành thì nạn thời khí chấm
dứt. Từ đây thọ số con người giảm đến 10 tuổi thì
nạn đao binh nổi dậy, do ác tâm của nhân loại lúc này quá
mãnh liệt, nên gặp nhau như kẻ thù địch lập tức giết
hại, lại do nghiệp lực của ác nghiệp, khiến cho tất cả
cỏ cây trên quả địa cầu đều thành gươm giáo đụng đến
là chết. Tai nạn đao binh này trải qua bảy ngày đêm, nhân
loại chết vô số. Bởi đó, có những người thấy vậy sanh
tâm cực chán, trước kia thấy nhau như kẻ thù địch, giờ
đây ngược lại vừa thấy nhau như mẹ hiền thương con thơ,
có người ôm nhau hôn rồi tự nói chúng ta ngu si quá, ác độc
quá, giết hại lẫn nhau gần hết, giờ đây phải thương
nhau như cha mẹ thương con, để mà sống còn đừng giết hại
nhau nữa, nên tai nạn đao binh đình chỉ, và ngang đây (nhân
loại 10 tuổi) thì thời kỳ kiếp giảm đã hoàn toàn chấm
dứt. Trở lại đến thời kỳ kiếp tăng, cũng cứ 100 năm
tăng lên một tuổi, tăng mãi cho đến tám muôn bốn ngàn (84.000)
tuổi.
Thuật giả
đã y kinh mà lược thuật về tam tai như trên chúng ta thấy
rõ. Chúng sanh trên thế giới tu tập pháp lành thì tuổi thọ
tăng, lại đời sống an lành. Trái lại tạo ác nghiệp thì
tuổi thọ giảm, đời sống chịu nhiều đau khổ, đây là
luật nhân quả, mà cũng là pháp duyên sanh, nó tự nhiên như
vậy. Không phải do một đấng thiêng liêng tạo hóa nào làm
ra. Mà là do nghiệp chúng sanh chiêu cảm. Chúng ta biết rõ
cái kịch khổ ấy rồi, thì phải làm sao để tránh hay thoát
hẳn cái khổ ấy, chỉ trong hiện đời? Thuật giả xin thưa,
muốn chắc chắn thoát hẳn khổ ấy, có một con đường duy
nhất là thành kính tin lời Phật huyền ký. Dưới đây thể
văn chỉnh cú:
Thật vì
sanh tử Phát lòng Bồ đề
Tin sâu nguyện
thiết Nhất tâm niệm Phật
Xem cái kịch
khổ Sanh tử luân hồi
Như lửa
cháy đầu Cùng với cái khổ
Của tiểu
tam tai Nó cũng gần bên
Ngày cũng
niệm Phật Đêm cũng niệm Phật
Đi đứng
nằm ngồi Không rời Phật hiệu
Thật hành
như thế (1) Cho đến thời kỳ
Vô thường
nó đến Từ Phụ Di Đà
Cùng với
Thánh chúng Đồng đến trước mặt
Tiếp về
Tây Phương Ở trong lúc này
Đối với
cái khổ Sanh tử luân hồi
Vĩnh viễn
thoát ly Chừng ấy cái tên
Của tiểu
tam tai Không còn nghe đến
Huống là
thật sự Chịu cái khổ ấy
Chúng ta đã
được Về Cực Lạc rồi
Ở tại nơi
đây, Đủ mọi thắng duyên
Không các
chướng ngại Một mặt tiến tu
Chứng vô
sanh nhẫn Nương thuyền từ nguyện
Trở lại
Ta bà Và cũng phân thân
Trần sát
mười phương Cứu vớt chúng sanh
Đồng về
An Dưỡng Cuối cùng Thuật giả
Một lòng
thành kính Hy vọng nhân loại
Khắp trên
thế giới Đây là nói chung
Toàn thể
Phật tử Trong giới xuất gia
Cũng như
tại gia Đây là nói riêng
Là người
có trí Đừng có lầm lẫn
Cho khổ là
vui Nói cho rõ hơn
Đừng cho
sanh tử Là cảnh an vui
Đến kỳ
tam tai Khổ không nói được
Dù cho gặp
lúc Nhằm thời kỳ tăng
Tuổi thọ
nhân loại Tám muôn bốn ngàn
Hưởng vui
tự nhiên Nhưng cũng vẫn còn
Trong vòng
sanh tử!
Ghi chú (1)
Đây là nói
những vị rảnh rỗi, trái lại những vị bận rộn vì việc
sanh nhai, cũng gắng nhín chút thì giờ mỗi ngày hai thời,
tối trước khi đi ngủ và sáng mai khi mới thức dậy lạy
Phật niệm Phật phát nguyện hồi hướng trong 30 phút nếu
quá bận thì khi mới thức dậy tu theo pháp thập niệm rất
gọn cũng được vãng sanh, chỉ cần dụng tâm chí thành thì
có kết quả vãng sanh. Dù là phẩm thấp cũng thoát luân hồi,
xin cố gắng. Đừng để trôi qua đời sống con người. Một
khi sa vào ác đạo khổ không nói được chừng ấy ăn năn
cũng chẳng ích gì.
Kính thưa
quý vị! Trong tam tạng Thánh giáo, đức Phật dạy về việc
tu hành có 84.000 pháp môn, nhưng tóm tắt lại chia ra làm hai
loại: Một là tự lực, hai là tha lực.
Một là về
tự lực, phải trãi qua ba cái vô số kiếp mới chứng Phật
quả, vả lại ở trong ba vô số kiếp ấy, khi thăng khi trầm
chứ không phải một mặt đi thẳng tới, vì thế trong Kinh
Luận có khẳng định sự tu hành tiến được một bước,
thối lùi vạn bước.
Hai là về
tha lực, ý nghĩa của môn tha lực nầy như trong thể văn chỉnh
cú đã nói, nhưng đây là việc thuyết minh về việc hành
trì. Ngoài ra như trong Kinh Luận tán dương về đặc điểm
của tha lực thường dùng, ví dụ như người đi thuyền gặp
nước xuôi lại trương buồm theo chiều gió thuận, người
què mà được ngồi trên xe kim luân của Thánh Vương, con trùng
ở trong cây tre 100 đốt mà đục ngang để ra khỏi v.v.. Tu
theo pháp môn niệm Phật chóng thoát sanh tử luân hồi cũng
tương tự như vậy.
Ở đây Thuật
giả thành kính nêu lên hai pháp môn tự lực và tha lực để
quý vị tự chọn lựa và khỏi nghĩ rằng khuyên người chuyên
tu theo pháp môn Tịnh độ là thuộc về thiên kiến.
HAI CÂU KINH
VĂN
Phiên âm:
Quá khứ
sanh tử thạch kiếp nan cùng
Vị lai luân
hồi giới thành mạt tận.
Dịch nghĩa:
Sự sanh tử
thời quá khứ dùng thạch kiếp
Thí dụ cũng
không cùng
Việc luân
hồi thuở vị lai đem giới thành
Thí dụ vẫn
chẳng hết (Kinh Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp).
Lược thích:
Chia làm ba đoạn.
1- Chữ kiếp
2- Hai câu
kinh văn
3- Tìm phương
thoát khổ
1/ Chữõ
kiếp: là tiếng nói tắt từ kiếp ba của tiếng Phạn, Trung
Hoa dịch là phân biệt thời tiết, chính là chỉ cho thời
tiết quá lâu xa rộng lớn ( trường huyễn quảng đại) không
thể dùng năm tháng ngày giờ thông thường trong thế gian mà
tính biết cho được nên cũng gọi là đại thời.
2/ Lược
thích hai câu Kinh văn: Hai câu kinh văn đã dịch nghĩa như trên,
ai đọc qua cũng hiểu không cần giải thích. Tuy nhiên cũng
nên nói sơ lược ý nghĩa, nghĩa là hai câu Kinh văn ấy chính
là từ kim khẩu của Bổn Sư Thích Tôn tuyên thuyết. Đức
Phật Ngài dùng Phật nhãn thấy rõ sự sanh tử luân hồi của
tất cả chúng sanh về thời gian quá khứ thì vô thỉ vô thỉ,
về thời gian vị lai thì vô chung vô chung, tức là không có
đầu mối cũng không có kết cuộc. Nên Đức Phật Ngài quá
thương xót chúng sanh, sanh tử tử sanh ở trong cảnh luân hồi
vô biên bất tận như thế, mà vẫn không hay không biết. Vì
lí do ấy nên Ngài dùng hai thí dụ: Thạch Kiếp, Giới Thành,
để chúng sanh nương theo đó mà biết tự mình chìm đắm
trong sanh tử đã quá lâu xa, phải mau tỉnh ngộ tầm đường
giải thoát.
Thạch kiếp:
Nói cho đủ là Bàn thạch cùng với Giới tử thành mà thí
dụ cho ý nghĩa của kiếp sanh tử luân hồi quá lâu xa. Giờ
đây trước tiên giải thích Từ Bàn thạch kiếp.
Bàn thạch:
tức là chỉ cho tản đá rất to, nghĩa là dụ như tản đá
vuông vức 40 dặm, có một trượng phu nam tử trường thọ
vô biên vô số (đây là thí dụ chứ không ai thọ số lâu
dài như vậy) cứ mỗi một trăm năm đến nơi tảng đá ấy
dùng chiếc thiên y rất mềm mịn phất lên tảng đá ( cũng
có chỗ gọi là núi đá) lớn nói trên một cái, cứ làm mãi
như vậy chừng nào tảng đá mòn hết, nhưng kiếp sanh tử
của chúng sanh cũng không cùng. Nên trong Kinh văn nói Thạch
kiếp nan cùng.
Giới tử
thành kiếp: Như trên đã nói tản đá vuông vức 40 dặm, giờ
đây Giới tử thành kiếp cũng như thế. Nghĩa là có một
thành quách rộng lớn 40 dặm trong ấy hoàn toàn không chứa
đựng một vật gì ngoài hạt cải ra, dĩ nhiên là trong đại
thành ấy chỉ chứa toàn là hạt cải (giới tử). Cũng như
trên, nghĩa là cứ mỗi một trăm năm có một nam tử trượng
phu trường thọ đến nơi đại thành chứa hạt cải lấy
đi một hạt, chừng nào hạt cải trong thành ấy hết, nhưng
kiếp luân hồi của chúng sanh vẫn chưa hết. Nên trong Kinh
văn gọi là Giới thành mạt tận.
_ Như trên
đã lược thích ý nghĩa hai câu kinh văn thì chúng ta thấy
rõ sự sanh tử luân hồi của chúng sanh ngoài đức Phật ra
không một ai thấy được tường tận như vậy. Chúng ta cũng
nên biết Phật dùng hai thí dụ ấy để chỉ rõ sự sanh tử
luân hồi trường viễn không thể gì nói cho cùng. Nhưng đức
Phật đã nhấn mạnh "thạch kiếp nan cùng"- "giới thành mạt
tận" là cốt để cho chúng ta thấy rõ sự sanh tử luân hồi
theo tỷ dụ đức Phật đã dạy lâu xa như thế cũng chưa
chấm dứt. Nghĩa là phỏng sử có Bàn thạch 40 dặm, cùng
với Giới tử thành 40 dặm, lại cũng có trượng phu nam tử
trường thọ thực hành công việc như trên, chừng nào tản
đá mòn và hạt cải trong đại thành kia hết. Nhưng kiếp
sanh tử luân hồi chúng sanh cũng vô cùng bất tận ( đây là
Thạch kiếp Giới tử thành thứ hai).
_ Chúng ta
cũng nên hiểu thâm ý của đức Phật dùng thí dụ để nói
lên sự sanh tử luân hồi của chúng sanh trong tam giới vô
cùng bất tận như thế để làm gì? Đương nhiên là muốn
cho chúng ta đối với luân hồi sanh tử nên sanh tâm ghê sợ
mong cầu thoát ly.
Trái lại
dù nghe thấy lời Phật dạy mà vẫn vui ở trong sanh tử không
một niệm chán nhàm, sợ hãi thì thực có thể gọi là người
sắt đá, nếu là người huyết nhục thì ai cũng phải rùng
mình rởn óc. Tại sao thế? Vì chúng sanh luân hồi trong tam
giới hưởng vui nhân thiên trong chốc lát, thọ khổ trong tam
đồ quá lâu dài. Sự việc này muốn biết rõ thì nên xem
trong các Kinh Luận như Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ, Luận Câu
Xá v.v..
Tuy nhiên
ở đây xin nói lược: Như trong Luận Câu Xá thuyết minh về
niên số của cõi người, cõi Trời và địa ngục như sau:
Một ngày
một đêm ở cõi Trời Tứ Thiên Vương đem so sánh với cảnh
nhân gian này trải qua 50 năm (nửa thế kỷ).
Cõi Trời
Đao Lợi thứ hai một ngày một đêm, ở nhân gian trải qua
một trăm năm (một thế kỷ).
Cứ như thế
nhân lên đến cõi Trời thứ sáu là Tha Hóa Tự Tại Thiên,
thì một ngày một đêm cõi Trời này, ở cõi nhân gian đã
trải qua 16 thế kỷ, mà thọ mạng nhất định của hàng nhân
thiên ở cõi Trời thứ sáu này một vạn sáu nghìn (16.000)
năm . Đem thọ số trọn đời của người cõi Trời thứ sáu
nàylà một vạn sáu nghìn năm mà so sánh với Viêm-Nhiệt địa
ngục thứ sáu trong 8 đại địa ngục thì chỉ là một ngày
một đêm của tội nhân trong địa ngục ấy .
Nói sơ lược
như trên để thấy rõ chúng sanh trong cảnh luân hồi hưởng
vui ở cõi nhân thiên chỉ là chốc lát, thọ kịch khổ trong
địa ngục quá lâu dài. Hơn nữa trong các cõi Trời dù được
hưởng thọ vui ngũ dục thắng dịu nhưng cũng còn cái khổ
ngũ suy tướng hiện. Trong cõi người dù nói vui ấy chẳng
qua là tương đối với tam ác đạo. Thực ra vui ít khổ nhiều,
một điển hình rất rõ rệt, chúng ta vào trong các bệnh viện
và các trại lao, trại cùi sẽ thấy cái kịch khổ trong ấy
dường như cảnh địa ngục ngạ quỷ, thế có gì gọi là
vui! Đây là chưa nói đến cảnh lao ngục của những tội
nhân bị hành hình..
3-Tìm phương
thoát khổ: Chúng ta vì si mê nên không thấy rõ sanh tử luân
hồi trong tam giới, do đó từ vô lượng kiếp đến nay đã
trải qua sanh tử không biết bao nhiêu lần ( điều này nên
xem lại hai câu kinh văn đức Phật dạy trên) mà cứ sống
say chết ngủ, khác nào những con phù du trên mặt nước mai
sanh chiều chết, mà vẫn cho là an vui tự tại. Hôm nay có
chút phước lành được làm thân người, dù không có phước
duyên gặp Phật xuất thế, nhưng còn gặp được Chánh Pháp
của Phật để lại, do đó mà được biết rõ lời vàng ngọc
của Ngài đinh ninh dạy bảo.
Về sự sanh
tử luân hồi quá lâu xa như trên đã diễn tả. Vậy chúng
ta phải mau thức tỉnh tìm phương thoát khổ, nhưng muốn được
thoát khỏi cái khổ luân hồi trong ba cõi cũng chẳng phải
là việc dễ dàng, vì cần phải đoạn hai thứ phiền não
Kiến tư, mà Kiến hoặc là thứ thô thiển nhậm lẹ dễ đoạn,
nhưng đoạn được nó cũng rất khó khăn, khác nào ngăn chặn
dòng nước từ 40 dặm chảy xuống, kiến hoặc mà còn khó
đoạn dường ấy, huống chi Tư hoặc là một thứ vi tế lại
ám độn khó đoạn gấp trăm nghìn lần. Vì thế Đức Bổn
Sư Thích Tôn xuất hiện trong thế gian này, tùy cơ thuyết
pháp 49 năm, giảng kinh hơn 300 hội. Pháp môn nhiều đến tám
muôn bốn nghìn (84.000) trong ấy chỉ có pháp môn niệm Phật
(Tịnh Độ) là một pháp tối thắng độc tôn. Tại sao vậy?
Vì pháp môn này có hiệu lực làm cho tất cả chúng sanh mau
thoát ly sanh tử luân hồi và thẳng tiến đến Phật quả.
Vả lại luận về căn cơ thì gồm thu nhiếp cả ba căn: Thượng,
Trung, Hạ.
Luận về
phần hạ thủ công phu thì dễ thực hành, mà thành công cao
nên nếu người nào có đủ lòng tin sâu, chí nguyện thiết,
nhứt tâm niệm Phật thì chỉ trong một đời này bảo đảm
100% được thoát khỏi cái khổ sanh tử luân hồi vô cùng
bất tận như đã nói trên. Cuối cùng tôi rất mong những
người thiện căn vì lòng mong muốn thoát ly sanh tử luân hồi
trong tam giới nên phát tâm Bồ đề khởi niệm tin sâu nguyện
thiết nhất tâm trì Thánh hiệu của Đức Từ Phụ A Di Đà,
cầu vãng sanh Cực Lạc, trên cầu thành Phật quả, dưới
cứu độ chúng sanh, thì nơi tự mình chẳng những không phụ
được thân này, vì có được thân người này rất khó như
đất dính trong móng tay, mà cũng đền đáp thâm ân của Bổn
Sư Thích Tôn và chư Phật trong sáu phương (nói 6 phương tức
gồm đủ 10 phương) đồng đinh ninh dạy bảo khuyến hóa.
Chúng ta và tất cả chúng sanh phát nguyện vãng sanh Cực Lạc.
Toàn bài
văn này tôi nương theo ý của lời Phật, Bồ Tát, chư Tổ
thuật lại không có một lời nào thuộc về tự ý của kẻ
phàm phu si ám này. Vậy mong quý vị đừng vì người hèn mà
bỏ qua diệu Pháp.
PHẬT HỌC
VIỆN QUỐC TẾ XUẤT BẢN
PHẬT
LỊCH 2543 - 1999.
Word Process:
Nguyễn Thị Thanh Tâm