NHỮNG
ÁNG MÂY SẦU
Nghiêm
Xuân Hồng
Gặp
anh mấy lần trên đất này, lần nào anh cũng than phiền về
sự buồn bã. Nhưng không cứ anh, tôi gặp nhiều người
cũng thấy than phiền như vậy, và ngay chính tôi nhiều khi
cũng thấy sự buồn bã thấm thía. Nó đôi khi ùn ùn
kéo đến chẳng hiểu từ đâu, tương tự như một áng mây
chiều, rồi bủa giăng đằng đặc.
Có
lẽ thân phận của con người, của bọn mình là vậy, phải
đối diện với những nỗi buồn phiền liên miên, những áng
mây sầu gần như bất tuyệt. Có lẽ đó là một niềm
khổ đau, nhưng cũng là một niềm vinh hạnh hy hữu của Người.
Vì người là loại động vật gần như độc nhất được
nếm mùi vị của buồn phiền. Và chắc rằng các động
vật khác không có nếm đâu, vì chúng không hề có nhớ tưởng
đến quá khứ, cũng không hề dự tưởng đến tương lai.
Nhất
là bọn mình lại là những kẻ lưu đầy lữ thứ, vừa lữ
thứ lại vừa tóc bạc.
Có
những nỗi buồn phiền nhè nhẹ, hầu như vô duyên cứ.
Phải chăng là vì vắng bạn? Hay thiếu một khung cảnh
quen thuộc, thiếu một chén rượu nồng, thiếu một nụ cười
một ánh mắt một hình bóng để thân mến? Hay phải
chăng là sự e ngại âm thầm trước một cuộc sống lạ hoắc?...
Nhưng cũng có áng mây sầu của những kẻ thấy mình như những
khách lữ hành lang thang trên con đường bất tận, và chợt
thấy rằng con đường mình đi là một thứ Ðường-Ði-Không-Ðến.
Không những đường đi không đến mà chính là kẻ lữ hành
đó cũng không thể hiểu mình là gì nữa, mình làai, mình
là Thực hay Mộng, và sống làm cái gì đây?... Bởi vậy,
những áng mây sầu quỷ quái của tâm tưởng cứ ùn lên đằng
đặc.
Tuy
nhiên, không riêng gì bọn mình, mà trong những người đã
đi qua mặt trái đất này, đã có nhiều kẻ bị ám ảnh bởi
nỗi sầu lữ khách đó. Chỉ cần nhớ lại Ðỗ Phủ,
Bạch Cư Dị, Ôn Như Hầu, Nguyễn Du:
Mây
Tần khóa kín song the
Bụi
hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao
Hoặc
Nhất Linh:
“Làm
gì mà băn khoăn thế? Dù có núp mình trong cánh hoa, dù ẩn
mình trong hạt bụi, thì nỗi băn khoăn vẫn còn nguyên vẹn...”
Hoặc
nhớ lại mấy câu thơ tiền chiến:
Sao
ở đâu mọc lên từ đáy giếng
Lạnh
như hồn u tối vạn yêu ma?
Hồn
của ai trú ẩn ở đầu ta
Ý
của ai trào lên đáy óc?...
Ai
bảo giùm: Ta có ta không?
Anh
cũng có lần nói với tôi: “Khi tôi ngồi bồng bềnh trên
biển cả, nhìn biển sâu tăm thẳm, tôi nghĩ nếu mình rớt
xuống đáy, chắc là phải lơ lửng lâu lắm, rớt lâu lắm,
rớt sâu đến mấy chục dặm mới được nằm ở đáy biển
cả.”
Lời
nói khiến tôi nghĩ đến nhu cầu của Ðiểm Tựa của con
người, của những kẻ lữ hành bất đắc dĩ.
Vì
thân xác chúng ta nặng nề về phần cát bụi, nặng về đất,
nên ngay khi rớt xuống biển, ta cũng chỉ thích nương về
một nơi điểm tựa là đất ở điểm tựa là nước hoặc
hư không. Cái lòng muốn nương đó, nhà Phật gọi là
Nghiệp.
Trên
Ðường-Ði-Không-Ðến của lữ khách bất đắc dĩ, thực
ra ai cũng thầm mong kiếm một điểm tựa, một bến nước
tạm dừng chân. Kiếm được thì thấy hồ hỡi, chưa
kiếm được thì thấy âu sầu... Tùy theo tâm tưởng
từng người, điểm tựa có thể muôn hình vạn trạng.
Có người tìm điểm tựa ở đồng đô la, ở quần áo đẹp,
ở một chiếc ô tô mới, ở một căn nhà, ở một chút danh
vọng, ở vợ con, ở bạn bè, ở một tác phẩm. Có những
kẻ rắc rối hơn, muốn tìm điểm tựa ở một tâm tư, một
tâm tưởng: Cái vu này nó vô hình, khó sờ mó, nhưng
có vẻ bền bỉ hơn.
Có
lẽ bọn mình thuộc loại lữ khách bất đắc dĩ và rắc
rối. Nói đến Ðường-Ði-Không-Ðến, lại nhớ đến
những câu chuyện cổ xưa, cùng những nhân vật có vẻ huyền
thoại. Nhớ đến Tôn Ngộ Không cùng ngài Thiện Tài
đồng tử. Tôn Ngộ Không cũng đi hoài đi hủy trong bàn
tay Phật tổ Như Lai, nhưng cũng chẳng đi đến đâu, và cũng
không thoát ra khỏi được bàn tay ấy. Còn ngài Thiện
Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, thì đi hoài đi hủy trong
“lỗ chân lông” của đức Phổ Hiền Bồ Tát và vẫn thấy
những cảnh giới gần như vô tận, không biết đâu là ngần
mé...
Tôn
Ngộ Không là một nhân vật sáng tạo ra do một vị đạo
sĩ Tầu, để tượng trưng cho cái tâm-biến hóa, nhưng sự
mơ màng của tác giả cũng không đến nỗi sai lời kình cho
lắm. Còn ngài Thiện tài là một vi Bồ Tát rong kinh, và theo
chỗ tôi biết, thi lại kinh không cỏ mảy may hư vọng...
Ngài
Thiện Tài là một bậc đã đắc đạo khá cao rồi, nghĩa
là tâm đã Tương Ưng với vô trụ, tương ưng với vật, có
thể chuyển được vật rồi, có thể tùy ý tạo những “hóa
thân” mà vẫn phải đi hoài đi hủy. loanh quanh luận quẩn
chưa thoát được ra khỏi vòng pháp giới.
Nếu
không có gì lạ, nếu chúng ta còn loanh quanh luẩn quẩn trong
giòng đời. chưa thoát ra khỏi giòng đời cùng bàn tay của
thần linh...
Có
một thời tôi say mê lời nói của Trang Tử: “Châu này
nằm ngủ, mộng thấy mình hóa bướm, nhởn nhơ bay lượn,
tỉnh dậy lại thấy mình lù lù là Châu. Chợt nghĩ, không
hiểu mình có phải là Châu nằm mộng thấy hóa thành bướm,
hay chính mình là bướm nằm mộng thấy hóa thành Châu?”
Tôi
say mê, vì đó chính là giấc mơ “hóa thân”, giấc mơ biến
hóa vô cùng, giấc mơ tâm chuyển vật để tiêu dao du
tại của một kẻ áo vải là Trang Châu.
Vào
thời kỳ đó, tôi đôi khi cũng mơ tưởng muốn đánh một
giấc ngủ cô miên để hóa thành bướm mộng, được tiêu
diêu tự tại thì thực thích thú vô cùng.
Ngày
nay, tôi đọc kinh Phật, thì thấy muốn dừng chân lại đó.
Trên con đường đi không đến, muốn dừng chân lại nơi trang
kinh huyền hoặc. Vì tất cả lời kinh cũng chẳng dạy gì
khác, mà chỉ dạy cách thực hiện giấc mơ “hóa thân”
đó đến chỗ tuyệt vời mà thôi, dậy cách làm thế nào
để chuyển cái xác thân nặng nề u ám này thành một hóa
thân tuyệt diệu. Và đồng thời cũng chỉ cách hóa giải
tất cả những áng mây sầu.
Vì
thế, nên nơi lữ thứ này, mỗi khi có áng mây sầu hiện
đến, thì tôi lại giở mấy trang tôn-kinh-huyền-hoặc:
Trở
giấc mình với bóng
Mây
sầu dâng ngang mây
Khép
cửa niệm kinh cũ
Mưa
khi nào chẳng hay
Chúc
anh tìm được cái thú cô tịch trong cử chỉ nâng chén rượu
và nhìn tuyết bay, và nghĩ rằng tâm tư của mình nhiều khi
cũng bời bời như tuyết bay vậy.
Nghiêm
Xuân Hồng