LỜI
TỰA
NGUỒN
THIỀN NHƯ HUYỄN
Hòa
Thượng Thích Mãn Giác
Ta
có thể hình dung Ðạo Phật như một con chim Phượng Hoàng
mà đôi cánh của nó là Ðại Trí và Ðại Bi.
Ðại
trí như thanh kiếm báu chặt đứt mọi chướng ngại ngăn
che của bức màn mê vọng, phá vỡ mọi giới hạn phân ly
của thế giới sai bieät đối đãi để mở ra con đường
đi vào chỗ Tuyệt Cùng của Tâm thức.
Chỗ
Tuyệt Cùng ấy, như ta có thể thấy ra được đôi phần từ
kinh điển và từ trong kinh nghiệm Giác-ngộ của các bậc
tu chứng, không phải là chốn cùng đường mà là cả một
chân trời ánh Sáng vô tận của Tâm. Mặc cho bao nhiêu thành
hoại không cùng của kiếp sống, những đảo điên liên hồi
của tâm niệm, chân trời Anh Sáng Vô Hạn ấy vẫn như chưa
từng một mảy may thay đổi, biến mất, chưa từng một giây
phút chết đi sống lại - nghĩa là hằng có đó NHƯ tự bao
giờ. Nhưng chính vì thế mà ta lại không thể lấy cái óc
suy lường vọng động mà nghĩ tưởng, không thể lấy cái
ngôn ngữ giới hạn để tát cạn ý nghĩa, không thể lấy
những khái niệm của không gian vật lý và thời gian lịch
sử để mong kiến giải được nó. Phật học gọi đó là
cảnh giới Bất Khả Tư Nghì. Kinh điển gọi tên nó ra như
là Chân Tâm, Diệu Tâm, Minh Tâm, Bồ-Ðề Tâm. Giác Tánh, Phật-
Tánh, Pháp- giới- Tánh, Không- Tánh. Như-Lai-tạng-tánh, Chân-như
Bát-nhã...thì cũng chỉ là phương tiện giả lập tối yếu
để mở mắt nhìn cho ta thấy.
Các
bậc Tổ-Sư sử dụng cách này, cách khác, dựng lập nên pháp-môn
nọ, pháp-môn kia thì cũng chỉ là phương tiên gỉa lập tối
cần để nhaèm lay động và chuyển đói cái tâm trí mê ngủ
mộng mị của chúng ta trong huyễn cảnh trùng trùng này.
Cho
nên, đường đi thì có Giáo có Tông, có Hiển có Mật, có
Ðốn có Tiệm trải ra trên những bình diện và kích thước
tâm trí khác nhau, nhằm tương ứng với những sai biệt của
thế giới sai biệt này mà chỗ tới thì vẫn là không khác,
vẫn là cái chân trời Anh Sáng Voâ Hạn của Tâm, cái cảnh
giới sở chứng Bất Khả Tư Nghì Vô Sai biệt của Chư Phật
và các bậc Giác-ngộ. Cho nên, con đường thành tựu Ðại
Trí là con đường đi từ sai biệt tới Vô Sai Biệt, từ cái
Nhiều đến cái Một, từ cái phức tạp đa thù đến cái
Ðơn Nhứt Tuyệt Ðối. Nhưng vì, cái Một Vô Sai Biệt, cái
Ðơn Nhất Tuyệt Ðối là cái Nguồn Sanh Không Tịch vô Hạn
tự có đầy đủ ở Tâm cho nên nếu lấy cặp rnắt mê vọng
đề tìm kiếm thì dù có vạn dặm rong duỗi chẳng bao giờ
bắt gặp; ngược lại, nếu con mắt Trí Huệ mà mơû ra được
thì chẳng cần ruỗi giong vạn dặm cũng thấy ra như nó sờ
sờ ở trước mặt. Cũng cho nên, gọi Ðường Ði thật ra
là không nhằm, phải gọi đó là Ðường Về mới hợp nghĩa.
Khi
một Thiền-sư đánh lên một dấu hỏi: “ Vạn Pháp qui Nhứt,
Nhứt qui hà xứ?” thì chính đó cũng là lời kêu gọi chúng
ta quay trở về quán chiếu vào cái Tâm tự có đầy đủ nguồn
Ánh Sáng Không Tịch Vô Hạn này chứ chẳngphải để chúng
ta lên đường tìm kiếm ở một nơi chốn mịt mùng xa xôi
nào khác.
Nếu
Ðại Trí như thanh kiếm báu để khai mở đường đi về chỗ
Tuyệt Cùng của Tâm Thức thì Ðại Bi chính là nguồn năng
lực tác động để mang nguồn Anh Sáng Không Tịch Vô Hạn
từ trong chỗ Tuyệt Cùng này chiếu rọi vào vô lượng pháp
giới, không từ một vật nhỏ nhiệm nào cũng như lớn lao
nào. Ðại Bi như vậy chính là nguồn lực vô tận của Tâm
phóng chiếu vào vô lượng vô biên thế giới để hoạt dụng.
Nói cách khác, nếu Ðại Trí mở ra con đường Trở về thì
Ðại Bi mở ra con đường Ði Ra - từ vô sai biệt đi ra chỗ
sai biệt. từ caùi Một đi ra cái Nhiều, từ cái Ðơn Nhất
Tuyệt Ðối đi ra cái đa thù phức tạp - hay nói theo ngôn-ngữ
Hoa Nghiêm - từ Lý đi ra Sư, Và nếu, với Ðại Trí đi vào
không ngăn ngại thì với Ðại Bi đi ra cũng chẳng hề ngăn
ngại. Cho nên, với đại Bi thì Tâm trải rộng ra đến vô
cuøng vô tận trên tất cả những sai biệt của thế giới
hiên tượng, thì Tâm ôm trọn tất cả mọi chúng sanh, tất
cả mọi pháp giới. Biểu hiện của sự phóng chiếu để
hoạt dụng ấy của Ðại Bi chính là Ðại Nguyện cứu độ
tất cả chúng sanh không một mảy may phân biệt, không một
giây phút ngừng nghỉ, vượt khỏi mọi giới hạn của không
gian, thời gian; cũng chính là phương tiên độ sanh bất khả
tư nghì của mười phương chư Phật và Bồ Tát.
Tuy
nhiên, Ðại Trí và Ðại Bi vốn chẳng phải là hai cái riêng
khác. Nói hai chữ là vì cái lề lối suy nghĩ phân biệt của
chúng ta. Cùng là Tâm mà với Ðại Trí thì Tịch, với Ðại
Bi thì Chiếu. Nói Tịch là nói đến Theo Tánh của Tâm; Nói
chiếu là nói đến Diệu Dụng của Tâm. Theå Tánh và Diệu
Dụng vốn chẳng tách rời nhau. Bi là Tâm đó. Trí cũng là
Tâm đó. Trí càng chứng nhập sâu vào thể Tánh Không Tịch
của Tâm thì Bi càng khởi chiếu Diệu Dụng Biển Chiếu vô
tận của Tâm. Bi càng khởi lên Diệu Dụng Biển Chiếu vô
tận của Tâm thì Trí càng chứng nhập sâu vào Thể Tánh Không
Tich của Tâm. Cho nên, nói Trở về và Ði Ra hay mượn
ngôn ngữ triết lý Hoa Nghiêm mà nói thì hai cái này vốn đoàng
thời tương tức, tương nhập, tương dụng tương ứng
và viên minh cụ túc và cả hai đều là những biệt hiệu
viên mãn tuyệt vời của Tâm.
Một
vài diễn giải như trên chỉ để mong giới thiệu một phần
nào cái điểm ách yếu của con đường Phật và của chân
lý Phật chứng ngộ. Những diễn giải đó - hoặc diễn giải
theo một cách thế nào khác chăng nĩa - thì cũng chỉ nằm
trên bình diện của khái niệm. Diện mục của chân lý vẫn
luôn luôn đòi hỏi ở ta một sự lên đường, đi tới và
thâm nhập hơn là một diễn giải. Ðó cũng là điều mà Ðức
Phật luôn luôn kêu gọi ở mọi chúng ta: cho nên, trong khi
làm hiển lộ diên mục của Chân Lý ở nhiều bình diện khác
nhau cho đến chỗ viên mãn rốt ráo, đạo Phật đồng thời
cũng mở ra cho ta con đường để thành đạt chân lý từ những
bình diện khác nhau cho đến chỗ viên mãn rốt ráo. Ðã hẳn
chân lý không nằm ở những kinh nghiệm tri giác thường tục-
những kinh nghiệm luôn luôn bị sự tác động của những
làn sóng vô minh cho nên chân lý và con đường thành đạt
chân lý cũng vượt ra ngoài sự truy nhận của những kinh nghiệm
tri giác thường trực này. Khốn thay, đó lại là cái mà chúng
ta mắc phải như cá mắc trong lưới!
Không
thể truy nhận bằng những kinh nghiệm tri giác thường tục
cho nên con đường mà Ðạo Phật mở ra kêu gọi ở chúng
ta một nỗ lực khác để lên đường, đi tới và thâm nhập:
nỗ lực Thiền Quán. Và do đó. ta gọi con đường này là
con đường Thiền Quán.
Trình
bày, mô tả diễn trình của con đường Thiền Quán đó là
nội dung của tập sách này. Chủ đề của tác phẩm có lẽ
chẳng phải là đieàu mới lạ. Tuy nhiên, chẳng phải vì thế
mà tác phẩm lại không mang lại cho chúng ta những soi sáng
mới mẻ và cần thiết để nhìn và thấy rõ hơn con đường
Thiền Quán này. Bởi vì, đây không phải là một tác phẩm
thuần túy về Thiền như ta vẫn thường thấy. Ðây là một
tác phẩm trình bày về con đường Thiền Quán đối chiếu
với những kiến giải từ kinh điển Ðại Thừa của tác
giả.
Chính
tính chất đối chiếu này mà tác phẩm sẽ cho chúng ta thấy
ra được cái thuần nhứt giữa rất nhiều những dị biệt
trong thế giới tư tưởng mênh mang của Phật Giáo với rất
nhiều những tông phái, khuynh hướng đã phát triển từ đó.
Cũng chính tính chất đối chiếu này mà tôi nghĩ rằng, tác
phẩm còn cung cấp cho chúng ta cái cơ sở cần thiết để
nhận chân ra được con đường Thiền Quán truyền thống của
Phật Giáo giữa những trá ngụy hư phù trong sinh hoạt tâm
linh và trí thức của con người ngày nay.
Los
Angeles.
chùa
Viêt-nam, giữa Mùa An-cư năm Giáp-tý (1984)
Thích
Mãn Giác