SEN
BÁT NHÃ TRĂNG LĂNG GIÀ
Tường
Vũ Anh Thy
Hình
như thế kỷ thứ 21 đang ú ớ cựa mình trên đỉnh Bắc cực
và Nam cực của địa cầu.
Nhưng
người ta có lẽ vẫn còn đắm đuối trong giấc ngủ nặng
nề, trong ác mộng triền miên của thế kỷ 20. Trăng ở Mỹ
châu đêm nay đang chiếu sáng như suốt về mấy ngàn mùa trăng
xưa.
Ðột
nhiên ngồi nhớ bốn câu thơ của Thiền sư Huệ Sinh
từ thế kỷ thứ 11 đời Lý:
tịch
tịch Lăng Già nguyệt
không
không độ hải chu
tri
không không giác hữu
tam
muội nhiệm thông châu
Ðột
nhiên dịch thành chữ Việt:
thuyền
vượt biển có không không có
trăng
Lăng già lặng gió bao la
đã
hay không có không là
luồng
tam muội đã đi vào biển tâm
Trăng
Lăng gỉà hay trăng sơ huyền - hay trăng cổ độ - hay trăng
lòng- trăng cõi - từ mấy ngàn năm xưa vẫn tịch nhiên là
trăng bây giờ – và tức thị trăng thế kỷ 21. Chữ “tức
thị” hiển lộ bài Bát Nhã Tâm Kinh trong lòng. Vã bài Bát
Nhã tức thị là lòng người vời vợi giữa thời gian, giữa
không gian ta bà và tịnh độ.
Có
tức thị không
Không
tức thị có
và
như lời thơ bát ngát ẩn mật của Thiền sư Từ Ðạo Hạnh
thế kỷ thứ 12:
Tác
hữu trần sa hữu
Vi
không nhất thiết không
Hữu
không như thủy nguyệt
Vật
trước thị không không
Có
thì có tự mẩy may
Không
thì cả thế gian này cũng không
Thử
xem bóng nguyệt lòng sông
Ai
hay không có có không là gì
(bản
dịch của Phan Kế Bính)
Có
lẽ Ðạo Hạnh và Minh Không là hai Thiền sư Mật Tông và
Ðại thừa đã hiển lộ nhiều hóa thân hóa hiện nhất trong
lịch sử Thiền Mật tông và Ðại thừa Việt nam. Sự tích
của các ngài đều được chép trong chính sử. Tinh thần
Mật tông và Ðại thừa bao giờ cũng bàng bạc trong lịch
sử thiền Việt -nam, và Thiền Việt-nam cũng bàng bạc trong
lịch sử Việt-nam từ đầu thế kỷ thứ 3 đến nay.
Lịch sử ấy cũng là lịch sử của Lăng-nghiêm và Bát-nhã
- của Trăng và Thuyền - Trăng và Sen - Sen và Lòng người .
Trăng sáng tự nhiên, sen nở ngào ngạt, và lòng người thơm
ngát vượt có không không có. Chính vì thế mà vua Lý Thái
Tông viết được 2 câu thơ kỳ lạ:
Hạo
hạo Lăng Gìa nguyệt
Phân
phân Bát-nhã liên
toan
dịch là:
Vầng
trăng lồng lộng Lăng già
Cánh
sen Bát-nhã chói lòa sắc không
Nhưng
thật không nắm bắt được thần ý của vua. Trong kinh Lăng-già
(Sutamgama Sutra) mục Phật hỏi về Viên-thông, thì có ngài
Quán Thế âm ra trình bày chỗ đắc viên thông của mình:
Tòng
văn, tư, tu
Nhập
sa-ma-đề
Bí
quyết giản dị này ai cũng có thể theo được: “Hãy nghe,
hãy nghĩ, hãy làm, thì nhập định”. Chữ “văn”
là nghe, cũng phải hiểu như “Kiến” là thấy, Nghe và Thấy
có nghĩa lã sự vụ đó có thật, không dối (Chân thực, bất
hư. Chữ “Tư là nghĩ, là nhớ, nhận, nhập). Chữ
“Tu" là quán chiếu, soi chiếu, thực hành, làm thành. Cả
ba chữ có thể tóm lại 2 chữ “hành thâm” trong bài Kinh
Lòng Bát Nhã Ba La Mật Ða. Ðây là khởi điểm của Mật tông
và Ðại-thừa. Không có “hành thâm” thì không có gì hết.
Ngược lại, có “hành thâm” thì có tất cả Mật-tông,
Ðại-thưà, Tiểu-thừa. . .
Hơn
300 trang chữ nghĩa của cư sĩ Nghiêm Xuân Hồng trong tập tiểu
luận về Kim Càng Thừa nhằm khai mơ’ ý nghĩa của hai chữ
“hành thâm” đó. Chỉ khai mở thế thôi, còn có “hành
thâm” hay không lại là tuỳ túc duyên của người đọc.
Những
trang kinh Mật-tông và Ðại thừa đôi khi huyền hoặc như
một đêm trăng sáng, bí ẩn như một nụ sen, và những hình
bóng mơ hồ của vô lượng kiếp người lang thang ngoài núi
rừng khe động, trong phố thị phồn hoa, đều chập chờn
theo sương khói. . . Một chữ khởi đi là ngàn vạn chữ kêu
gào. Cho nên ngòi bút cũng dễ lạc vào mê đồ ảo phố. Cái
khó sẽ ló cái hay. 300 trang của cư sĩ vẫn thơ thẩn, nhẩn
nha như một người đang bước trong vườn nhà. Không một
bước quá chậm hay quá nhanh. Không một hơi thở nào được
ghi nhận là khẩn cấp.
Trăng
trên cao vẫn vằng vạc và sen trong hồ, hay sen trong lòng vẫn
từ ái nở ra.
Hạo
hạo Lăng già nguyệt
Phân
phân bát nhã liên
Hình
như vầng trong đó, và đóa sen kia đã từ vô lượng thời
gian xưa. . . từ thế kỷ thứ 3, thứ 4, thứ 11, thứ 12, thứ
20, hay thế kỷ thứ 21 đang ú ớ cựa minh trên Bắc-cực.
Và tâm thức kẻ lên đường là tấm lòng người viễn khách.
Một lần đi lã vĩnh viễn bước đi đến kỳ cùng cuộc lữ
hành (Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða). Ðến tột bờ mé vẫn
hằng hằng mở phơi cứu độ không lời.
“Yết
đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề
tát bà ha.”
Tường
Vũ Anhthy,
San
Jose, mừa trăng tháng 6/1986