LỘ
TRÌNH THIỀN QUÁN ÐẠI THỪA
THEO
ÔNG NGHIÊM XUÂN HỒNG
Nguyễn
Hữu Hòa
Với
khả năng nhận thức vấn đề bao quát và tinh tế của một
học giả từng viết nhiều sách khảo luận rất giá trị,
khi sử dụng riêng trong công trình nghiên cứu và giảng dạy
Phật học, ông Nghiêm Xuân Hồng như đã có được tầm nhìn
nhất quán và sâu sắc về lộ trình Thiền Quán của Phật
giáo Ðại Thừa. Ở đây, khi nhìn lại vài tác phẩm về Phật
học của ông được xuất bản từ thập niên 80 đến
gần đây nhất, tôi thử nhắc lại rất đại cương
những điều ông đã viết về pháp môn thiền quán của Ðại
Thừa nói chung, không riêng về Thiền tông, và sẽ không
nói nhiều về thiền Nam tông. Trong một việc làm chủ yếu
là để tự ôn nhớ lại những gì đã được may mắn
đọc từ một ít sách Phật giáo của ông, tôi sẽ cố gắng
hết sức giữ cho được sự trung thực khi trình bày
những điều ông đã viết, mà tiếc thay có khi phải dựa
nhiều vào phần trí nhớ rất đáng ngờ, chớ không dám
có ý thêm thắt gì khác với ý tưởng của chính ông.
Thoảng hoặc, chỉ có trích thêm vài câu từ kinh sách khác
để làm sáng tỏ thêm ý ông. Thật ra, đối với ông Nghiêm
Xuân Hồng, tôi chỉ là kẻ hậu học , tuy rất ngưỡng mộ
kiến thức và tấm lòng vì Phật pháp của ông, nhưng chưa
chắc hiểu được nhiều điều ông đã viết; cho nên khi làm
cái việc "kể và thuật" lại, nếu có điều gì không đúng,
hay thiếu sót, thì là do khả năng lãnh hội kém cõi của tôi
thôi. Và tốt nhất là nên coi đây như vài lời giới thiệu
đơn sơ , có thể vụng về, về nhiều tác phẩm Phật
học của ông.
Trong
quyển "Lăng Kính Ðại Thừa" (LKDT, 1982), có lẽ đã
khởi đầu cho một công trình nghiên cứu và soạn sách Phật
học trong khoảng 20 năm kế tiếp, ông đã viết những dòng
sau đây mà đối với tôi là rất chân thành đến mức
cảm động : " Kẻ viết mấy giòng chữ này, tự biết mình
phiền não chất ngất, vô minh dầy đặc, và đối với ngưỡng
cửa của những cơn tam muội, vẫn lãng vãng đứng xa hàng
ngàn dặm... Chỉ được cái hạnh ngộ, không biết do một
chút căn lành nào lay lắt rớt lại từ kiếp nào, nên thích
đọc kinh, đôi khi say mê đọc kinh, và thường hay mơ màng
hàng giờ trên những trang kinh xưa ".
Là
người rất say mê đọc kinh Phật, chắc là say mê hơn nhiều
người khác, ông lại khiêm tốn tự nhận là có sự hiểu
biết, kinh nghiệm hạn chế về Phật pháp và về Thiền quán,
là không thể nào nghĩ bàn tới các cõi của pháp giới
mênh mông, không ngằn mé, hay các cảnh giới bất khả
tư nghì của những cơn Ðịnh và Tam Muội rất sâu. Nhưng
trước sau trong nhiều năm, ông vẫn bền bĩ làm cái việc
rất khó làm đó, có thể ít ai dám hay đủ kiên nhẫn làm,
để giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng quan về Thiền
Quán, thấy được mục đích hay chỗ đạt tới
của thiền quán Ðại Thừa Phật giáo, mà rất nhiều
khi đi ra ngoài sức lãnh hội của nhiều người dù
bỏ nhiều công phu tìm hiểu, thực tập. Tất nhiên, phải
hiểu đây là chỗ thấy của riêng ông, và chúng ta không nhất
thiết phải chấp nhận hay đồng ý hết những gì ông viết.
Thế
thì theo ông Nghiêm Xuân Hồng mục đích của việc tu học,
và nói riêng của thực tập thiền quán Phật giáo Ðại Thừa
là như thế nào ? Ðó là đi tìm kiếm cái Thực Tại cuối
cùng, tức thực thể bên trong của các hiện tượng, mà con
người chỉ trực nhận được qua những cơn đại định hay
tam muội rất sâu. Thực thể đó là Pháp thân thường trụ,
là Thật tướng, là Chân Tâm Diệu Minh. Nó cũng gọi là Chân
Không nhưng tính chất của Chân Không lại là Diệu Hữu, vì
chỉ từ cái Tột Không mới có thể đột khởi lên cái có
mà thôi (theo LKDT trang 24). Do đó, ta sẽ thấy được pháp
Thiền Quán ông trình bày không thể chỉ dừng lại ở
cái Không mà có khi ông gọi là Không Hải, bờ mé của biển
tâm rỗng lặng, nhưng còn phải đi xa hơn nhiều.
Theo
ông, cái Thực Tại này sẽ được tìm thấy ở ngay trong "chân
tâm" và cũng ở trong pháp giới nữa. Và cuộc
hành trình khởi đầu khi hành giả đi sâu vào bên trong tâm
thức, để vào đến Tàng thức và đến khi chuyển biến được
tàng thức thành Bạch Tịnh thức hay Như Lai Tạng là chuyển
tâm mê thành tâm ngộ, là được giải thoát. Còn chuyện nhập
Niết Bàn theo ông cuối cùng chính là đi vào pháp giới, giống
như là chuyện Nhập Pháp giới của đồng tử Thiện Tài
trong kinh Hoa Nghiêm, là ôm trọn cả pháp giới để
từ đó "sống" trong Pháp thân thường trụ, như
các chư Phật.
Nói
là tìm thấy Thực Tại ở tâm và bắt gặp nó ở cả trong
pháp giới là vì pháp giới chính là do Tâm sở hiện mà thành.
Kinh Kim Cang dạy : "Các pháp vốn không thật, không hư".
Vậy pháp giới, tức các pháp, các cảnh giới, các hiện tượng
hữu hình hay vô hình đối với cảm nhận của giác quan, đều
cũng không thật không hư, mà chỉ là như huyễn, như hoá.
Theo lời kinh Lăng Già :
Pháp
giới như không hoa
Sự
vật đều như huyễn
Thế
gian hằng như mộng
Mặt
khác, khi đi vào pháp giới như Thiện Tài đồng tử để tìm
Thực Tại, cũng chính là tìm lại cái Tâm của mình, và đó
là theo pháp thiền định Ðại Thừa. mà ông gọi là "Nguồn
Thiền Như Huyễn" (tên một quyển sách của ông NXH). Ông
đã dựa vào các pháp tu tập thiền định được thấy trong
các kinh Thủ Lăng Nghiêm, Viên Giác, và đặc biệt là
của tông Thiên Thai khi nói chung về pháp thiền quán Ðại
Thừa. Theo ông pháp giới mà hành giả như Thiện Tài đi tìm
kiếm đúng ra phải nói vừa là Như Huyễn vừa là Như Như
, và "Nguồn Thiền như Huyễn" là tâm đi vào chốn
Như Huyễn của pháp giới để tìm ra cái Như Như, hay
Chân Như.
Ở
khởi điểm, ông Nghiêm Xuân Hồng cũng dựa vào những lý
giải về Tâm của truyền thống kinh điển Ðại Thừa. Theo
đó, từ nguyên thủy là Chân Tâm vốn lặng lẽ,
thường tịch chiếu soi, trong sáng cùng tột. Nhưng bỗng nhiên
một niệm mê mờ nổi lên, rồi vô lượng niệm mê mờ tiếp
nối. Từ đó cái diệu minh trong sáng tột cùng trở thành
hư minh, và chân tâm bị bao phủ, ngăn che bởi những màn vô
minh lớp lớp, chuyển thành Tàng Thức sơ biến, cỗi nguồn
của Tâm sinh diệt, và của các hiện tượng sinh diệt. Vô
minh lại quay về tự chiếu soi, nên liền phân thành năng với
sở, chủ thể với khách thể, và ngã tướng, ngã chấp
nổi lên dầy đặc làm thành lớp Mạt na thức. Còn các
si mê vọng tưởng có ít nhiều linh minh phân biệt thì kết
lại thành thân căn của các loài chúng sinh.
Từ
nhận thức trên , ông Nghiêm Xuân Hồng trình bày cuộc hành
trình tu chứng như là làm cái việc lội ngược dòng vô minh,
vượt qua các màn ngăn che của năm ấm (ngũ uẩn), của bảy
đại, của mười tám giới, đi qua các tầng lớp sắc, thọ,
tưởng, hành, thức của thân tâm, cho đến khi phá vỡ được
cái vỏ Mạt na thức chấp ngã, dứt bặt hết nhơn tướng,
ngã tướng, để thanh tịnh hoá Tàng thức, và trở
về lại với Diệu tâm nguyên sơ.
Trong
phần trình bày phương pháp thực tu, trước hết ông kiểm
nghiệm lại lộ trình tu tập của Thanh Văn Thừa , mà theo
ông là tu giới và Thiền Quán ể đi đến chỗ diệt
trừ hết phiền não, giải thoát được cá nhân. Về Thiền
Quán thì căn bản là đi vào Tứ Thiền Bát Ðịnh, tức sơ
thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, bốn vô sắc định,
để vượt qua các lớp Sắc, Thọ, Tưởng, và Hành ấm. Nhưng
sau đó còn đi thêm vào Diệt Tận Ðịnh của riêng Phật giáo
để vào được Thức Ấm. Quả vị tu chứng đạt được
ở đây là A La Hán, và các ngài thường đắc các thứ Ðịnh
trên và nhập vào Diệt Tận Ðịnh. Nhưng theo ông, pháp môn
tu này chỉ chú trọng nhiều ở pháp Chỉ để có được định
lực cao, từ đó giúp phá vỡ được thức Mạt Na, đạt tới
chỗ vô ngã, đồng thời cũng tiêu trừ được các phiền
não chướng. Nhưng như vậy vẫn là chưa đi hết con đường
tu, hay chỉ mới được một phần ba quãng đường. Khi
hành giả đi ngược dòng sinh tử vượt qua các màn lớp
sương mù là sắc, thọ, tưởng, hành, để đến thức ấm
(hay uẩn), thì là thành tựu Không quán. Nhưng khi vào đến
được Không hải ấy rồi , các vị Thanh văn thường dừng
lại ở đó, không khởi tâm tiến tu thêm nữa. Lúc đó các
ngài đã tiêu trừ được những mầm móng của sinh tử, và
vào được Niết Bàn; nếu còn sắc thân thì gọi là
Hữu Dư Niết Bàn, và sau khi tan mất sắc thân thì gọi
là Vô Dư Niết Bàn. Nhưng các ngài vẫn còn tập khí của
những biến dịch sinh tử, những vi tế của sở tri chướng,
còn chấp trước vào thọ giả, tri giả, vân vân..., cho nên
trong kinh Pháp Hoa mới nói đó chỉ là Niết Bàn hoá thành
mà thôi. Chứ chưa phải là Niết Bàn thực, chưa là Ðại
Tịch Diệt của Như Lai mà phải là sự nhập pháp giới trọn
vẹn, đồng thời cũng là sự giải thoát rốt ráo, hay nói
như ông Nghiêm Xuân Hồng, là ôm trọn cả Pháp giới
vào thân tâm mình (quyển Nhập Pháp Giới).
Tới
đây chắc phải có câu hỏi là tại sao ông cho con đường
thiền định phải đi qua các màn ngăn che của ngũ ấm ? Có
lẽ ông đã dựa vào lời Phật thuyết giảng về
ngũ ấm ma trong kinh Thủ Lăng nghiêm, kể lại những bước
thành tựu thiền định kế tiếp và lên cao dần khi hành giả
vượt qua được sắc, thọ, tưởng, hành và thức ấm.
Lộ
trình tiến tu của Bồ Tát Ðạo thuộc Ðại Thừa còn đi
xa hơn, để tiêu dung thêm phần sở tri chướng, và đi đến
chỗ nhập pháp giới, có đưọc pháp thân thường trụ.
Các Bồ Tát sẽ phải tu thêm các pháp quán Giả và
quán Trung. Cũng là tu theo Nhất tâm tam quán
của ngài Trí Khải thuộc Thiên Thai tông, tức quán
Không, quán Giả và quán Trung hay Trung đạo song chiếu (quán
chẳng có chẳng không). Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Viên Giác cũng
nói tới ba thứ quán đó. Trong kinh Viên Giác, quán Không gọi
là Xa ma tha (Chỉ) , quán Giả là Tam ma bát đề (Quán Huyễn),
và Trung quán song chiếu gọi là Thiền na (được giải thích
là Chỉ Quán song tu) .
Thử
trích vài đoạn kinh Viên Giác :
"...Bồ
Tát giữ tâm rất vắng lặng, nhờ sức vắng lặng này mà
đoạn được các phiền não, được vĩnh viễn, ...thì vị
Bồ tát ấy lúc bấy giờ chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập
được Niết Bàn. Bồ tát tu như thế gọi là tu một
pháp Xa Ma Tha (tu Chỉ, quán Không)."
"Nếu
có Bồ tát trước giữ gìn nơi rất tịnh (Chỉ), sau
dùng tịnh huệ chiếu soi các pháp như huyễn, như hoá, lúc
bấy giờ khởi ra hạnh Bồ Tát,... như thế thì gọi là trước
tu Xa Ma tha (quán Không), sau tu Tam Ma Bát Ðề (quán Giả)".
"...
Bồ tát dùng trí huệ thanh tịnh ( Xa ma tha, quán Không ), lấy
sức huyễn hoá biến hiện ra các hình thức, để hoá độ
chúng sinh (Tam ma bát đề, quán Huyễn, Giả), sau đoạn các
phiền não rồi nhập vào cảnh giới tịch diệt (Thiền Na,
Chỉ Quán song tu)"
(Theo
bản dịch kinh Viên Giác của Thích Thiện Hoa)
Có
chỗ khác biệt ở đây là Thanh Văn dùng Chỉ để có
Ðịnh lực, và Quán để có Huệ lực, nhưng chú trọng Ðịnh
lực nhiều hơn, trên bước đường đi vào Không, hay Không
hải. Còn Bồ Tát cũng dùng Chỉ và Quán, nhưng với dụng
tâm sâu sắc hơn, lại có thêm một điều quan trọng, đó
là nguyện lực, nằm trong phần phát khởi Bồ đề tâm. Vì
vậy Bồ Tát có đầy đủ Ðịnh Lực, Huệ Lực lại thêm
Nguyện lực nữa, ngoài ra còn được sự gia hộ của chư
Phật.
Xin
mở ngoặc ở đây để nói thêm về pháp Tam Quán theo lời
chú giải trong Từ Ðiển Phật học. Trước hết là quán Không,
là quán mọi pháp vốn không , xét mọi vật đều không có
thật tánh, thật tướng, được coi như là pháp tu của Thanh
Văn Thừa. Quán Giả là xét thấy mọi vật vốn vô thường,
giả hợp. Trung quán lại có hai: quán các pháp vừa là phi
không, vừa là phi giả, tức là Trung, đó gọi là trung quán
song phi, hay quán các pháp vừa là Không vừa là Giả, tức
là Trung, đó gọi là Trung quán song chiếu.
Ông
Nghiêm Xuân Hồng cho là có thể tìm thấy phương cách tu "Tam
quán" đó qua một đoạn kinh trong Tâm kinh. "Sắc chẳng
khác Không" là Không quán , tức quán tất cả các pháp
là không. "Không chẳng khác Sắc" là Giả quán, tức
quán từ không các pháp có thể giả hợp mà hiện thành hình
sắc. "Sắc tức là Không, Không tức là Sắc" là Trung
đạo song chiếu, qua lại không ngừng giữa Không và Giả
, tạo thành quán Như Huyễn, thấy vạn pháp không thật cũng
không hư.
Quán
Giả thực chất là pháp Quán Tưởng thấy ở Tịnh độ tông,
như trong kinh Quán Vô Lượng, nhất là trong Mật tông. Theo
thuyết Duy Tâm Sở Hiện của kinh Hoa nghiêm, khi quán tưởng
thuần thục, với tâm thanh tịnh, thì các cảnh giới hay chư
Phật, như Phật A Di Ðà sẽ hiện khởi lên trong Tàng thức
của mình, vì ngài cũng ở trong tâm mình. Nói cách khác, nhờ
pháp quán Giả, tức quán tưởng, đức A Di Ðà bên Cực Lạc
hiện tướng và nhập làm một với đức A Di Ðà trong tâm
mình, và trong trường hợp này quán Giả tức là quán chiếu
cái hiện thân tuyệt vời của diệu tâm, tức đức Phật.
Hành giả cũng có thể tuỳ ý quán tưởng các cảnh sơn
hà,
hải địa, hay các cõi tịnh độ, nói chung là các hiện tượng,
các cảnh giới. Trước hết, các cõi tịnh độ đó là cảnh
giới nằm sẵn bên trong Tàng thức, nhưng đồng thời cũng
là cảnh giới của pháp giới được ánh ra từ tâm chư Phật,
để rồi hiện ra được trong tâm của hành giả khi có sự
tương ưng với tâm Phật, và gọi được đó là sự gia hộ
của chư Phật theo ý kinh Viên Giác. Do đó nhờ quán Giả tâm
thức dễ đi được vào cõi Diệu Hữu. Ông Nghiêm Xuân
Hồng nhắc lại một chuyện kể trong sách Thiền như sau :
Sau
khi Huệ Khả tu ít lâu, một hôm ngài Bồ Ðề Ðạt Ma hỏi
rằng :"Ông đã buông được muôn duyên chưả". "Con đã
buông được rồi “. Tức là buông tất cả giả pháp
để vào đến Không hải của tâm. Nhưng ngài Ðạt Ma vội
nhắc ngay :" Cẩn thận, chớ rơi vào đoạn diệt, hãy đi
vào diệu hữu...". Ý ngài muốn nói rằng : Ông nên cẩn
thận, đừng dừng lại ở không hải, phải nhớ đến cái
bi nguyện từ nhiều kiếp mà trở ra Giả quán để độ sinh.
Bây
giờ nói được Giả quán của Thiên Thai Tông cũng chính là
pháp Quán Tưởng là vì pháp môn của Thiên Thai tuy dựa trên
pháp thiền Chỉ Quán, nhưng cũng chứa đựng các yếu
tố Mật tông, như thần chú (mantra ), Mạn Ðà La (Mandala).
Chính Thiên Thai tông đặt vấn đề nghiên cứu rất sâu rộng
kinh Pháp Hoa, và có thể từ đó đã chuyển kinh này qua Thiền
Tông (nên nhớ là Huyền Giác, tác giả Chứng Ðạo Ca,
lúc đầu tu theo Thiên Thai tông). Do đó, pháp thiền quán
Không, Giả, Trung bao gồm đầy đủ các pháp tu Thiền
căn bản nhất của Phật giáo là Chỉ Ðịnh, Quán Chiếu,
và Quán Tưởng.
Lộ
trình Thiền Quán do đó theo ông Nghiêm Xuân Hồng là đưa tâm
thức lắt lay qua lại giữa Không và Giả, như
đi theo vòng tròn nhưng không trở lại chỗ cũ mà mỗi lúc
một lên cao hơn theo đường xoáy ốc. Sự lắt lay này càng
lúc càng nhanh như con thoi qua lại, theo pháp môn Nhất Tâm Tam
quán, hay Trung đạo song chiếu, để dần dần tâm thức
hành giả càng lên cao hơn hay vào sâu hơn, tiếp cận
rồi trực nhận được với thực tại, sau khi xuất nhập,
chuyển biến rất nhiều qua những trạng thái tâm thức
gọi là Tam muội.
Ông
Nghiêm Xuân Hồng phân biệt có sự khác nhau giữa Ðịnh và
Tam muội (Samadhi, Tam Ma Ðề). Theo ông, Ðịnh thường
được dùng trong hành trình đi vào Không quán. Trong bước
đường đi vào Không hải có những thứ bậc rõ rệt. Khi
hành giả vào sơ thiền, nhị thiền rồi đến tam thiền
là đã vào đến bình diện thọ ấm, qua đến tứ thiền là
vào đến bình diện tưởng ấm, vào đến vô sắc định là
vào đến bình diện của hành ấm, đến khi vào diệt tận
định là vào được bình diện thức ấm. Còn trong Giả quán,
hành giả có thể quán tưởng bất cứ cảnh giới nào, lên
cao hơn nữa là quán cái biến hoá của cảnh giới đó, và
như vậy có thể vào vô số tam muội, vì mỗi tam muội là
một cảnh giới và trong pháp giới có vô số cảnh giới.
Theo ông, khi hành giả quán Không là đi vào biển Bát Nhã của
Thanh Văn, còn quán Giả là dùng tâm Ðại Bi để đi vào tam
muội của Bồ Tát.
Về
phần này ông Nghiêm Xuân Hồng đã viết :" Quán Giả
để trưởng dưỡng tâm đại bi thêm lớn, và có thể biến
hóa không lường được. Nên chư Phật bao giờ cũng khuyên
rằng chớ có dừng chân nơi Không hải (là biển tâm rỗng
lặng), vì đó mới chỉ là một phần ba đoạn đường thôi.
Phải "yết đế, yết đế ", vượt lên, vượt lên nữa để
lặn sâu đến chỗ tột không, đi từ Không ra Giả, từ
Giả vào Không, mà mỗi lần ra vào như vậy thì lại xuống
sâu Không hải một nấc, ngày càng biến hoá thêm cho đến
mức viên dung gọi là "chân không mà diệu hữu"." (trích
từ quyển Nhập Pháp Giới).
Theo
ông, trong kinh Viê n Giác có nói đến chỗ khởi Giả quán
là Tam ma bát đề, là phải khởi huyễn để trừ huyễn, và
bậc Bồ tát đã dựa vào đó mà khởi cảnh huyễn để
độ huyễn. Trong kinh cũng thường nói đến chữ "thiện thệ",
tức là qua lại, sang Giả rồi trở lại Không, vào Không rồi
trở ra Giả, cứ thế luôn luôn qua lại, không trụ bờ bên
này, không trụ bờ bên kia, cũng không dừng lại ở giữa
dòng. Thiện thệ tức là làm con thoi qua lại giữa Không và
Giả, đó là quán Như Huyễn, tức là quán "không thật không
hư", lâu ngày sẽ biến thành trung đạo song chiếu tuyệt
vờị, và trôi dần vào biển Ðại Giác.
Vì
chỗ khác nhau giữa hai pháp tu nên ông mới phân biệt
Ðịnh với Tam muội là vậy. Nói ngắn gọn, Ðịnh là
trạng thái nhất tâm an tịnh nhờ pháp Chỉ, còn Tam muội
là trạng thái tâm tập trung bất loạn trong lúc Quán Tưởng.
Nhưng theo ông, khi lên đến Trung quán, vào được Huyễn Tam
ma đề (samadhi) ở bực Bồ tát Thập địa, lúc đó Ðịnh
và Tam muội là một., nên Ðại Ðịnh Thủ Lăng nghiêm cũng
là Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, cũng là Như Huyễn Tam ma đề.
Cũng là lúc mà Chân Không cũng là Diệu Hữu, hai đường tu
gặp nhau ở chỗ rốt ráo.
Như
Huyễn Tam muội đó đã được Phật dạy trong kinh Viên Giác,
là điểm đến cuối cùng của cuộc hành trình Như Huyễn.
Nhưng chúng ta có thể nêu lên câu hỏi như Bồ Tát Phổ Hiền
trong kinh :
"Bạch
đức Thế Tôn, nếu chúng sanh biết các pháp đều như huyễn,
thân và tâm cũng như huyễn thì cần gì phải tu, ... Lại nữa,
nếu các pháp hư huyễn đều diệt hết, thì thân tâm này
cũng diệt ; nếu thân tâm này đều diệt thì lấy ai tu hành
mà gọi là "pháp tu như huyễn ?" (kinh Viên Giác).
Phật
đã dạy là khi huyễn cảnh diệt, huyễn thân diệt, huyễn
tâm diệt, thì Phi huyễn tức Viên Giác sẽ tự hiện bày,
và có nghĩa là cuộc hành trình đi vào nhiều lớp hư
huyễn cuối cùng làm hiển lộ cái phi huyễn ra. Bài kệ
sau trích trong kinh Viên Giác :
Cũng
như các hoa đốm
Sanh
trong thái hư không
Hoa
đốm diệt hết rồi
Hư
không vẫn trong tịnh
Các
huyễn từ "Giác" sanh
Huyễn
diệt "Giác" viên mãn
Nhưng
theo ông Nghiêm Xuân Hồng, lộ trình thiền quán đó không phải
là cuộc hành trình đơn giản, dễ dàng, và càng không thể
thực hiện nhanh chóng được. Vì bối cảnh của cuộc hành
trình là cả pháp giới, được dệt bằng những quang minh
tâm thức, nên thực ra con đường đi tới cũng chỉ trải
rộng ra trong Tàng thức sơ năng biến, với những nghiệp lực
điên đảo của mỗi loài chúng sanh, tạo thành vô lượng
sắc tướng trùng trùng điệp điệp, chập chùng xen lẫn,
chập chùng ẩn hiện, như một màn ảo hoá dầy đặc, lại
biến hiện không lường . Ði sâu vào biển Tâm là làm cuộc
hành trình miên viễn, cho đến khi thân tâm bao trùm
pháp giới, nhập làm một với pháp giới. Ðó là cuộc
hành trình như không bao giờ ngừng dứt, trên một lộ
trình mịt mùng xa, mà theo ông cũng lại như rất gần :
"Ði,
đi mãi... đi hoài đi hủy... trong pháp giới sum la vạn tượng
và như không ngằn mé nầy, cũng chỉ là đi trong Vườn Tâm
của mình thôi ".
(Trích
Lời Tựa quyển Nhập Pháp Giới)
Nguyễn
Hữu Hòa