LỜI
TỰA
LĂNG
NGHIÊM ẢNH HIỆN
Thượng
Tọa Thích Thiện Thanh
Phật
giáo ngày nay không xa lạ với nhân loại, vì có nhân loại
nên có Phật giáo, như bóng với hình vậy. Sự sống hàng
ngày của nhân loại như cái bóng của vũ trụ.
Mỗi
người là cái bóng, nên nỗi người sống với cái bóng của
mỗi người. Bóng vui chúng ta vui, bóng buồn chúng ta buồn.
Do đó. Phật dạy cho mỗi người “CÁI BIẾT” (Bát chánh
đạo) để mà sống - Khôn thì sống, bống thì chết.
Về
phương diện tâm linh, con người hãy tự giải thoát chính
cho mình, không cần quy lụy hay cầu xin bất cứ thần linh
nào cả. Thiên đàng hay Cực Lạc không phải là nơi chúng
ta về hưởng nhàn.
Về
phương diện siêu hình, đôi khi kẻ Phạm Chí có cật
vấn Phật, Phật chỉ mỉm cười hay đôi khi ngồi lặng thinh.
Nụ cười của Phật chắc cũng dễ hiểu - vì nếu muốn dùng
ngôn ngữ của một thế hệ (1OO năm) để diễn đạt những
việc trừu tượng trong vô lượng kiếp thì chúng ta không
có tiếng để mà nói.
Ai
cũng biết ông nội bà nội sinh ra bố chúng ta, cao hơn nữa
là cao tằng tổ rồi trước cao tằng tổ là ai? - Chịu. Do
đó, Ðức Phật ngài mỉm cười không phải là không có ý
nghĩa.
Vả
lại Ðạo của Ngài không phải là đạo bàn cãi hay lý luận
như một số Thắng luận sư đương thời. Ðạo của ngài
được đặt trên nền tảng khổ đau giữa sự sống và chết,
chứ không phải đặt trên nén tảng lời hay lỗ rồi bàn
tính tìm ra thị trường cho tốt. Lý do taị sao Ngài đặt
nền tảng căn bản giáo lý giữa sự khổ đau và sống
chết, là vì có sinh có chết, và sự sống chết ngoài ý muốn
của moãi người. Mình đã không làm chủ được sự
sống chết của mình, thì sự bàn cãi của mình chẳng
qua là lời nói suông. Do đó Ðức Như Lai đã từng nói. “Suốt
45 năm hóa độ chúng sanh, Như Lai chưa nói một lời. “
Như thế, Phật Tử sẽ đặt nghi vấn - Tam Tạng kinh điển
là gì? Ai nói? Nói khi nào? - Ðể trả lời, hãy xin đọc:
“Hoa
Nghiêm tối sơ tam thất nhật,
A-hàm
thập nhị, phương Ðẳng bát.
Nhị
thập nhị tam Bát Nhã đàm,
Pháp
Hoa Niết Bàn cộng bát niên.
Theo
ý nghĩa bài kệ của ngài Hiền Thủ vừa nêu trên, sau khi
giác ngộ. Phật thuyết lý thâm mật cho hàng thượng thừa
nghe. Chúng sinh thấp kém không hiểu được nên Phật thuyết
về tội phước báo ứng để độ chúng sanh căn tánh thấp
kém đó. Rồi từ thấp Phật hướng dẫn chúng sanh từ từ
lên hàng trung thừa. Sự diễn giải naøy Phật Giáo Nam Tông
không chấp nhận.
Nói
cho rõ hơn, Kinh của Phật giáo Ðại Thừa như Kinh Hoa Nghiêm,
Bát Nhã, Pháp Hoa v. v. . . không có trong Tam Tạng của Phật
Giáo Nam Tông. Kinh của Nam Tông goàm có: Dìgha Nikàya,
Majìhima Nikàya, Samyutla Nikàya, Anguttaranikàya và Khuuuukanikàya.
Nếu
vậy thì cả kinh điển của Phật Giáo Ðại Thừa không phải
Phật nói sao? Ðến đây xin dở lại trang sử của Phật Giáo
lúc khởi nguyên. Theo sử sách của Nam hay Bắc Tông, cũng như
các bia đá của vua Ashoka, Gupta và Kanishaka còn giữ lại đến
ngày nay đều đồng ý rằng (Xin đọc quyển History of Indian
Vol. II. “ của Maurice Winternitz) thuở Phật còn tại thế,
chỉ có một Tăng đoàn duy nhất dưới sự lãnh đạo của
Ðức Sakya Muni, không coù Ðại hay Tiểu Thừa, Nam hay Bắc
Tông. Tăng đoàn này được duy trì cho đến sau khi Phật nhập
niết bàn 100 năm. Ðếøn kỳ kiết tập Kinh điển laàn thứ
hai tại Vaisali, có sự xung đột mãnh liệt giữa Ngài Yasa,
con của Kàkandaka với các hàng chư tăng trẻ tuổi về mười
điều giới luaät nhỏ nhặt. Rồi từ đấy, Tăng đoàn chia
ra hai nhóm. Nhóm trẻ và đông nhất gọi là Ðại Chúng Bộ
(Mahàsanghika), nhóm thứ hai gồm người già và ít được gọi
là Mahàthera. Giáo đoàn từ đấy càng ngày càng đi sâu vào
hố chia rẽ... Dĩ nhiên Kinh Luật và Luận của mọi tông phái
sắp đặt đều có sự khác nhau. Mỗi học giảmcủa mỗi
Tông Phái lấy ý chính của Phật trong các Kinh Trường A Hàm,
Trung A Hàm v. v. . . (Hai boä Kinh này ngày nay được các nhà
học Phật Á cũng như AÂu cũng như các nhà Khảo Cổ học
cho là tác phẩm của Phật. Những tảng đá có khắc một
vài kinh trong bộ Trường A Hàm đã tìm thấy ở thung lũng
Gilgit (Pakistan) Bapyam (Afghamstan) Kashmir (India) và Svayambhu (Nepal)
) - và cộng thêm những triệt thuyết đương thời của ấn
Ðộ đề làm thành những bộ kinh baát hủ của Phật Giáo
ngày nay.
Cái
hay của Phật Giáo không phải những mớ giáo lý cứng nhắc
trong Tam Tạng Kinh điển. Cái hay của Phật Giáo phát xuất
từ cái hay nhất của nhaân loại theo từng địa phương. Ngày
nào nhân loại còn khổ đau, ngày đó lời dạy của Phật
còn có giá trị. Nói cho dễ hiểu, chúng sanh cần Phật
như cây cỏ bị nắng hạn cần nước. Người vật cây cỏ
thiếu nước là chẽt. Anh thiếu Phật tánh, Anh sẽ vĩnh viễn
khổ đau. Anh không thích Phật Giáo, anh có thể đốt Phật
phá chùa, nhưng lời dạy của Phật làm sao anh từ chối được?
Anh ghét nước, anh có thể đổ nước đi, hay làm cho nước
dơ bẩn, chứ anh không thể nào làm mất phẩm chất của nước
được. Cái hay của Phật là ở chỗ đó. Do đó người học
Phật như con ong hút nhị hoa. Bông nào có mật là ong đến
lấy, có lẽ ong chả phân biệt bông này tốt hay xấu.
Nói
như thế để quý vị có sự dung thông về Ðại hay Tiểu
thừa Phật giáo. Thành thật mà nói có nhiều phần giáo lý
của Phật Giáo, nhưng không phải từ kim khẩu của Phật nói
ra. Chẳng hạn như Thập nhị nhân duyên được ghi trong bộ
Trường A Hàm, cùng một kinh Sơ Ðại Bổn, nhưng có sự khác
biệt giữa Pali Tạng và Tạng chữ Trung Hoa. Trong Tạng chữ
Tàu đủ 12 nhân duyên, nhưng trong Pali Tạng chỉ có 10 duyên.
Pali thiếu duyên Hành và Si. Phật Tử nhớ rằng những duyên
này không phải không có trong kinh Vệ-Ðà của Ấn Ðộ Giáo.
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm nằm trong hệ thống Phương Ðẳng. Trong bộ
kinh này, có ba đặc điểm Ðức Phật đề cập đến: Chân
Không Diệu Hữu, Thiền Quán và Mật Ngôn. Chân Không Diệu
Hữu và Thiền Quán, Nam và Bắc Tông luôn luôn đề cập đến,
về Mật Tông Pali Tạng không bao giờ đề caäp đến. Nam Tông
cho Mật Tông là của ngoại đạo. Ðến đây xin để độc
giả thẩm định. Trong phạm vi nhỏ hẹp này không cho phép
chúng tôi đeà cập đến chi tiết. Ðiểm hay nhất trong
bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật dùng Quang Minh diệu hữu
để chỉ rõõ chân tâm của chúng sanh trong vô lượng kiếp
về trước. Nhưng nếu chúng ta không khéo thì dầu có tu trong
vô lượng kiếp đi nữa, nghiệp lực hải chưa chắc đoạn
tuyệt được. Nhưng theo Phật thì:
“Nhất
niệm viên quang tội tánh không
Ðẳng
đồng pháp giới hằng thanh tịnh ‘? . .
Ðấy
Phật chúng sanh chỉ khác nhau ở chỗ nhất niệm có viên quang
hay không. Pháp giới có mênh mang hay không, hay chỉ là: “Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung ‘? Chữ “Nhất niệm viên quang“
vừa nghe thì nhẹ nhàng ai cũng có thể thực hành được.
Nhưng làm thế nào để diệt được nghiệp lực hải? Chính
nghiệp lực hải tác tạo nên vũ trụ vạn hữu, sanh tử luân
hồi đều do nghiệp lực cả. Vậy nghiệp lực laø gì? Dĩ
nhiên lực là sức mạnh, nhưng không phải sức mạnh của
thể xác hay máy móc mà là sức mạnh của:
“Thập
truyền thập sử tích thành hữu lậu chi nhân
Lục
căn lục trần vọng tác vô biên chi tội”
Chẳng
hạn như dẫn lực của tình yêu vừa chớm nỡ, anh ấy sẵn
sàng: “Mấy truông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua.“
Mới vừa chớm nở, dẫn lực đã phi thường như thế, huống
nữa đaõ thương nhau trong vô lượng kiếp, dẫn lực mạnh
dường nào. .. . Hơn nữa, dẫn lực theo triết học Ấn Ðộ
giáo có tầm mức rất ư quan troïng. Theo thuyết này. vũ trụ
gồm có:
-
Vật chất (Akasha)
-
Dẫn lực (Prana)
Trong
vũ trụ có hàng triệu triệu hình thức khác nhau, nhưng cùng
một thể chất. Từ mùi hương thơm cho đến màu sắc do cực
vi điện tử (Paramanu) tạo nên. Triết gia hiện đại S. Vivekananda
nói: “Mặt trời mặt trăng và con người là một không có
sự khác biệt. “ (Les yogas pratiques trang 402). Akasha tự nhiên
không tác tạo ra gì cả, phải có Prana hay dẫn lực để tác
tạo nên vũ trụ vạn hữu và ngay cả tế bào li nhi trong cơ
thể của chúng ta nữa. Trong hạt nhân Paramanu, có sự chuyển
động như hệ thống mặt trăng và trái đất quay chung quanh
mặt trời.
Theo
triết thuyết vừa nêu trên, chúng ta có thể suy luận rằng:
Muốn điều khiển Prana trong khắp vũ trụ, hãy điều khiển
Prana ngay chính trong bản thân chúng ta. Khi điều khiển dẫn
lực chính bản thân của chúng ta được, chúng ta trừ được
tật bệnh. Tự trừ được tật bệnh của chúng ta, chúng
ta có thể trừ bệnh cho bất cứ ai. Trường hợp dùng thần
lực hải trị bệnh cho người điên hay bệnh nan y là chính
điều khiển Prana này vậy. Người hùng mạnh là người có
thần lực mạnh. Bậc vĩ nhân là bậc điều khiển được
Prana. Nhà tiên tri là nhà điều khiền được Prana, chứ vị
ấy đâu có bùa ngãi gì đâu? Ðã điệu khiển được Prana,
quý vị có thể điều khiển được vũ trụ vạn hữu, khi
đó quý vi có thể mang mặt trời hay mặt trăng nhét vào hạt
cải chả khó khăn gì. Do đó, Ðức Quán Thế AÂm ngài chỉ
duøng: “Nhứt đích tài triêm thập phương câu tịnh”
Tóm
lại, người tu muốn điều khiển Prana phải tu tâm để có
thần lực hải để diệt nghiệp lực hải. Muốn tu tâm, xin
quý vị đọc cho kỹ bộ Thủ Lăng Nghiêm. Ðức Phật đã
chỉ rõ thế nào là vọng tâm và thế nào là chân tâm? Và
nếu ý nghĩa thâm trầm quá, quý vị không lãnh hội nghĩa,
xin quý vị đọc Tiểu Luận về Kinh Lăng Nghiêm Vương của
Cụ Nghiêm Xuân Hồng. Có lẽ, nghiền ngẫm nhiễu năm, nên
Cụ diễn đạt một cách rất khéo léo từ cách dùng ngôn
từ cho đền cách thâm giới giáo lý Phật Ðà. Ðiểm đặc
biệt trong quyển tiểu luận nầy, Cụ dùng đặc ngữ Quang
Minh Ảnh Hiện để diễn giải mọi khía cạnh tâm thức thường
xảy ra trong cuộc sống hằng ngày cuûa chúng ta: Như Mộng
là gì? Hội ngộ cùng chia ly là gì? Trần là gì? Vật là gì?
vân vân. . . Nghĩa lý rất thâm uyên, nhưng cái khéo léo của
Cụ làm độc gỉa say mê như đọc một mẩu chuyện hay và
dễ nhớ hơn là đọc cả bộ Duy Thức Học.
Khoảng
40 mươi năm trở lại đây, thỉnh thoảng có vài bộ Kinh Ðại
Thừa ra đời bằng tiếng Việt. Ða số những bộ Kinh này
là dịch từ Haùn Văn ra Việt Văn và có chú thích, nhưng cũng
chưa đủ để những nhà hâm mộ giáo lý của Phật nghiên
cứu. Trong thời gian một hai năm gần đây Cụ Nghiêm Xuân
Hồng cho ra đời ba quyển sách tương đối nhỏ - Lăng Kính
Ðại Thừa, Tánh Không và Kinh Kim Cang, và Lăng Nghiêm Ảnh
Hiện - tầm mức giáo lý Ðại Thừa rất thâm mật. Là nền
tảng vững chắc cho những ai muốn đi sâu vào hệ thống Hoa
Nghiêm và Bát Nhã thì không the thờ ơ được.
Tôi
xin khen ngợi công đức của cụ, và đồng thời trang trọng
giới thiệu đến những Phật tử thích nghiên cứu giáo lý
của Phật, nhất là giáo lý Ðại thừa. Và hy vọng rằng
quyển Lăng Nghiêm Ảnh Hiện sẽ giúp tất cả chúng ta, “xuất
phiền não chi thâm uyên “ để chúng ta cùng: “đáo Bồ Ðề
chi bỉ ngạn “
Chùa
Phật Tổ, Long Beach
Mùa
Vu-lan 1983
Thượng
Tọa Thích Thiện Thanh