8.
Thiền Sư Karuna Dharma
9.
Thiền Sư Sharon Salzberg
10.
Thiền Sư Gesshin Prabhasa Dharma
11.
Thiền Sư Sonja Margulies,Yvonne Rand
12.
Thiền sư Jacqueline Mandell, Colleen Schmitz, Ayya Khema
13.
Thiền sư Tsering Everest, Joanna Macy
Chú
thích
Thuật
ngữ chuyên môn
[08]
Thiền
Sư Karuna Dharma
Trên
vỉa hè đường phố Lô-Giang
Mười
gót chân lặng lẽ dấn bước.
Năm
bóng áo cà sa vàng lả lướt
Chùa
phía trên sân rộng thênh thang.
Vang
vọng tiếng hát trong thinh lặng
Trên
Bàn thờ, ánh sáng lung linh, nào hoa nào lá.
Tượng
đức Phật vàng óng nở nụ cười.
Giữa
đám đông một đoàn người Châu Á
Một
cụ già, ôm chặt đứa cháu thơ.
Người
đàn ông mảnh khảnh sụp lạy xá
Dâng
đóa hương lên tận mắt ngang tầm.
Lên
đức Phật và vội nhập đám đông.
Phía
bên ngoài là bầy trẻ lao xao.
Những
cánh tay trần khẳng khiu lộ rõ
Hàng
trăm khuôn mặt hớn hở vui tươi.
Áo
choàng trắng, giày da sạch sẽ
Một
đám trẻ ríu rít tựa chim quyên
Trên
đụn cát, yên tĩnh, yên tĩnh.
Rồi
quanh đó một Karunna rảo bước
Karunna
người Âu đầy chân chất.
Trong
chiếc áo dài phụ nữ Việt nam
Rồi
toàn bộ đám trẻ vẫy tay chào
Karunna
một người hùng bất khuất
Bọn
trẻ líu lo rền vang thật lễ phép
Cánh
tay vẫy gọi tên "Karunna"
Lồng
ngực chúng phập phồng phấn khởi
Tung
cánh bay cao khắp phương trời
Người
chứng kiến buột vội tiếng kêu.
--
Lenore Friedman
Dọc
theo Đại lộ Los Angeles, hai hàng dừa cao xếp hàng thẳng tắp,
lấp ló rất nhiều nhà hai tầng kiểu cổ đẹp tuyệt trần
với mái cong sơn phết rực rỡ, thảm cỏ chăm sóc kỹ lưỡng
và một cánh vườn san sát bên nhau tạo thành môt thứ công
viên riêng tư trong đó bọn trẻ đang đùa giỡn cùng với
bầy chó, mèo và loáng thoáng mấy vị sư đầu cạo nhẵn
xúng xính trong bộ áo cà sa màu vàng. Đó chính là Trung
Tâm thiền Phật giáo quốc tế (International Buddhist Meditation
Center). Được thành lập vào năm 1970 do một học giả Phật
giáo người Việt Nam và cũng là thiền sư Phật giáo thiền
định (Zen). Kể từ sau khi ông viên tịch vào năm 1980, trung
tâm đặt dưới sự điều hành của người đệ tử thân
cận nhất và cũng là người được chọn thừa kế Phật
pháp của ông. Một trong những căn nhà đã được chuyển
thành một phòng hành thiền đầy màu sắc với một tượng
Phật vàng trên bàn thờ. Cho dù đã có những buổi hành thiền
qui định vào buổi sáng và buổi chiều, người ta cũng có
thể đến ngồi thiền vào bất kỳ lúc nào trong ngày. Qua
phố bên kia, bước lên một cầu thang dẫn đến cửa chính
điện, tại đó là nhà ở và phòng làm việc của Karunna.
Trong cuộc viếng thăm Trung Tâm IBMC, tôi đã nghỉ ngơi ngay
trên sàn nhà phòng nho nhỏ dành cho các thiền sinh đối diện
với phòng hành thiền. nhưng những giờ đi bách bộ lại được
thực hiện phía bên kia đường, ngay phía trên dãy bậc thang
rộng.
Trách
nhiệm và lịch trình của Karuna khít khao dễ sợ. Nhưng bà
vẫn bỏ ra một khoảng thời gian khá dài để tiếp chúng
tôi. Bà đã báo cho một số người chính yếu trong trung tâm
không được gây gián đoạn cuộc phỏng vấn. Thế nhưng điện
thoại vẫn cứ reo liên tục. "Tôi đang thực hiện phỏng vấn
được nửa chừng - chúng ta sẽ gặp sau được không?” Bà
nhắc lại nhiều lần như thế. Nhưng rồi dù muốn hay không
bà vẫn phải thực hiện những cuộc trao đổi ngắn. tôi
hiểu bà đang tham gia nhiều sinh hoạt rất đa dạng (từ việc
xử lý văn bản, đến những công việc chỉnh trang thành phố
đang gặp khó khăn trong xây dựng) một lát sau lại là một
chính trị gia lỗi lạc. (Ô-hô. Gớm, ông biết đó, hắn có
lý đấy. Rất có thể chúng ta lợi to nếu tham gia vào vấn
đề đó.); tiếp đó, lại một người bị bệnh và nôn mửa
cần tư vấn ("lên giường đi, được không? Kiêng nước trái
cây, uống một chút nước lạnh, đừng lạnh quá đấy nhé.
Sau đó dùng ít trà, một ít dương cúc đừng dùng sữa nhé
một chút xíu cũng không tốt đâu)
Bà
thường phá lên cười luôn. Tiếng cười dài, mạnh mẽ và
rất quảng đại giống như con người Karuna vậy.
Chúng
tôi ngồi thiền tại một bàn thấp trong phòng rộng rãi trải
nhiều thảm nhỏ và gối đệm thiền, đèn, hình ảnh và nhiều
thứ vặt vãnh từ khắp nơi gửi tới. Giữa những cú điện
thoại tôi thấy một bức hình Karuna hồi còn nhỏ. bà sinh
tại thị trấn nhỏ tại Wiscosin trong một gia đình cha mẹ
rất đạo đức. Mẹ bà là một người rất đôn hậu, từ
tốn, bà đã qua đời mười hai năm trước, tương quan giữa
Karuna và mẹ rất tốt. Quan hệ với cha phức tạp hơn, hai
người xung khắc với nhau trong nhiều năm. Ông là người sáng
lập một nhà thờ nhỏ tại đó gia đình đến tham dự các
lễ nghi và sau này Karuna tổ chức dạy học tại đó vào các
ngày Chúa Nhật. Nhưng đến tuổi mười tám, bà khẳng định
truyền thống đạo đức của gia đình không thực sự trả
lời nổi những câu hỏi thiết thực trong cuộc sống và trong
vòng mười năm tiếp theo bà là thành viên phái bất khả tri
(agnostic).
Tuy
nhiên vào cuối tuổi hai mươi bước sang tuổi ba mươi một
ý tưởng tự nhiên chợt đến với bà: bà muốn trở thành
một Phật tử. Thật kỳ cục ý tưởng này không dựa trên
cơ sở tri thức nào cả. Bà có được một số sách của
thiền sư D.T. Suzuki nhưng không bao giờ đọc cả. Ý tưởng
này hoàn toàn tự phát, nhưng rất mạnh mẽ đến nỗi sau
này khi phải nhập viện một thời gian ngắn để mổ tai và
khi điền vào bản lý lịch nhập viện trong mục tôn giáo
bà đã ghi "Phật giáo." Một phần là nhận thức tự nhiên
của bà, phần vì muốn tránh không muốn để các vị chức
sắc Giáo Hội đến thăm. Nhưng sau khi rời bệnh viện được
ít ngày, bà đã quyết định bắt đầu đọc một ít sách
về Phật giáo.
Trong
giai đoạn này bà đang sống tại Los Angeles và đang phải đối
phó với ít nhiều khó khăn trong cuộc sống kể cả phải
ly dị với chồng nữa. Bà đã có một đứa con gái và đang
dạy học tại một trường trung học. Bà cảm thấy cần phải
tổ chức lại cuộc sống, "Tôi thấy quá mệt mỏi vì một
vài điều lẻ tẻ, mệt mỏi trong quan hệ, đặc biệt là
đối với đàn ông. Tôi chỉ muốn được yên ổn và bình
yên."
Trước
kỳ nghỉ hè vào những năm sáu mươi, bà quyết định tham
gia khóa đại học tại UCLA (nếu tốt nghiệp bà sẽ có thêm
được một ít thu nhập.) Nhưng trong cuốn mục lục các môn
học bà không thấy thích môn học nào cả, kể cả văn chương
(Bà đang dạy Anh văn) hay tâm lý học. Triết là môn học bà
thường tránh né ("Tôi không quan tâm đến triết Tây” ) nhưng
lần này bà nhận thấy tại phân khoa về Phật giáo và Phật
giáo thiền định (Zen.) Bà nghĩ "Thật là tuyệt. Tôi sẽ tham
gia khoa này và có thể kiếm thêm được một ngàn đô-la mỗi
năm.”
"Đang
kỳ nghỉ hè vào buổi chiều vì thế chúng ta đến lớp hai
lần một tuần và mỗi lần ba tiết. Tôi bước vào. và có
một người Á Đông đang giảng ở khoa đó. Tôi ngồi xuống
và nhìn ông ta và vào buổi tối tôi mới phát hiện ra đó
là một Tôn giáo dạy về những gì cuộc sống mách bảo tôi.
Ông ta bắt đầu với những điều cơ bản về Tứ Diệu Đế
và Bát Chánh Đạo. Và tôi thực sự hiểu được đau khổ!
Tôi nghĩ “đây là điều hết sức thực tế.”
Đây
chính là một tôn giáo có thể trả lời được nhu cầu trong
cuộc sống đã không được giải đáp cho bà trong nhiều năm.
Trong nhiều năm qua, xét về vật chất bà thật thoải mái,
nhưng không được thỏa mãn về tinh thần. Khi rời khỏi lớp
học đầu tiên về Phật giáo bà nhận ra rằng, bà phải theo
học khóa này và quyết định tìm gặp cho được ông thầy
Á đông đó ngay trước lớp học.
Bà
nói, "Những thầy giáo ít khi gây được ấn tượng với tôi.
Tôi chưa bao giờ để ý đến ông thầy Hindu bao giờ. Nhưng
khi tôi nhìn vào con người này, ông tỏ ra rất đôn hậu và
có nụ cười hết sức hấp dẫn, ông cười to và cười rúc
rích, không phải là người nghiêm nghị cho lắm, ông thực
sự đang thể hiện được những gì ông giảng dạy. Nhìn
vào ông tôi thấy hình như toát ra xung quanh ông một bầu khí
đặc biệt lan tỏa ra khoảng độ mười hai bộ. Tôi thực
sự không nhìn thấy ông trong thực tế. Tôi không biết cắt
nghĩa điều đó ra sao. Tôi chỉ biết ông là một con người
thực sự. Nhưng sau này, khi đã quen biết ông trong nhiều năm
và trở thành đồ đệ thân cận của ông tôi đã tiết lộ
cho ông biết, khi mới gặp ông lần đầu tiên tôi cảm thấy
ông không phải là con người thực sự. Và ông đã phá lên
cười khoảng mười lăm phút liền. Ông nói, “đó là điều
thật tuyệt vời làm sao con có thể nghĩ ra được những điều
như vậy?”
"Nhưng
trong vòng mười hai năm tôi sống hằng ngày với ông, tôi
không bao giờ mất đi cái cảm giác đó tức là ông không
phải là con người thực sự. Ông di chuyển trong thế giới
này, ông hành động với những phong cách nhân loại nhưng
ông thực sự không dính dáng gì với cái thế giới ông đang
đi lại và hành động.”
Karuna
còn kể lại một sự kiện khác đã xảy ra trong những giai
đoạn đầu khóa học tại Đại học UCLA. Bổn sư của bà
không nói cho ai biết ông là một nhà sư. Nhưng do linh cảm
bà đã biết điều đó. Bà tự hỏi làm sao có thể trở thành
thiền sinh của ông được. Trong buổi giải lao vào một buổi
học ban chiều, bà ra ngoài và ngồi ở lối ngang cạnh lớp
học để hút thuốc. Khi đó bà thấy ông đi ra và ngồi ngay
đối diện với bà, bà cảm thấy bối rối. Nhưng ông nhìn
bà và mỉm cười, rút ra một túi thuốc và một cái tẩu.
"Con thấy đó, thầy cũng hút thuốc đây này." Bà chưa bao
giờ nói chuyện với ông trước đó. nhưng ông đã nhận ra
hơi khó chịu. Bà rất cảm kích (sau này bà nói cho tôi hay,
cả hai chúng tôi đều bỏ thuốc).
Cuối
cùng bà xin được nói chuyện với ông sau giờ học. Ông đã
đề nghị cả hai đi uống cà phê. Và ngồi đối diện trên
chiếc bàn trong quán. Điều rõ ràng là "Ông biết hết mọi
sự về tôi đã lâu. Ông biết những gì tôi đang tiến hành
thực hiện, ông kể hết những biến cố xảy ra trong đời
tôi. Đó là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau,
thế mà ông nói, ông đã biết tôi biết bao nhiêu lần trong
đời. Ông đã kể rất chính xác cho tôi nghe những gì ông
không thể biết về tôi được. Và ngược lại, cho dù tôi
không thể cắt nghĩa được, tôi cũng biết được nhiều
điều về ông.”
"Một
cuộc gặp gỡ thật tuyệt vời" tôi nói với Karuna "Bà quả
là người may mắn"
"Tôi
không biết phải cám ơn ông làm sao trong cuộc đời này và
vì ông đã chỉ vẽ cho tôi con đường tiến lên. Đó là điều
tôi không thể đền đáp lại được. Toàn bộ quan điểm
của tôi về cuộc sống đã thay đổi. Những gì làm cho tôi
ham thích, tôi không cảm thấy như vậy nữa. Và hiện nay tôi
chỉ còn cảm thấy lòng tri ân tràn trề đối với người
thầy của tôi mà thôi."
Vào
thời điểm khóa học thứ nhất tại UCLA kết thúc, Karuna
đã chính thức trở thành đệ tử của Ngài. Thoạt đầu
bà tham gia một nhóm học hỏi Phật giáo nho nhỏ do ông điều
hành. Nhưng sau đó ông chuyển nhóm đó cho một nhà sư Phật
giáo trẻ người Mỹ, thì bà lại xin được học riêng với
ông. Cùng với một vài học sinh khác để có thể thường
xuyên thâu thập thêm kiến thức từ phía ông. Hàng ngày bà
đã thực hiện luyện tập hành thiền (được chỉ định
như là "Bài tập ở nhà" trong suốt khóa nhập môn.)
Trong
khi đó, đa số các đồ đệ cao cấp hơn trong khóa học đề
nghị ông ở lại quốc gia này để thành lập trung tâm thiền.
Khi hiện trạng cư trú thường xuyên được vãn hồi. Ông
quyết định thử nghiệm tiềm năng này xem sao. Ông thuê một
căn nhà gần Holliwood và một nhóm đồng ý đưa ra một dự
án trong vòng một năm, trong thời gian đó có thể tìm mua một
tài sản rộng hơn hiện nay họ đang cư ngụ tại Los Angeles.
Karuna
vẫn tiếp tục đi dạy học nguyên buổi vào thời điểm đó
(Bà tiếp tục công việc cho đến năm 1981) và con gái Bà là
Christine đã được mười một tuổi. Karuna vẫn đến trung
tâm thiền vào mỗi cuối tuần và ba bốn lần trong tuần từ
thị trấn nơi hai mẹ con đang sinh sống gần đó. Hàng ngày
vẫn có các buổi hành thiền, các khóa tập luyện hàng tuần
và rất nhiều công việc cần được thực hiện. Năm 1973
bà đã gia nhập tập viện và nhận luật giới tập sinh.
Bà
Karuna nói với tôi, "Qui trình xuất gia theo truyền thống Việt
nam có phần nghiêm khắc hơn là theo truyền thống Nhật Bản.
Gắn bó gần gũi với giới luật cổ Đại Thừa hơn. Thí
dụ, xuất gia đầy đủ yêu cầu phải tuân thủ đủ 250 luật
giới đối với nam giới và 348 luật giới đối với nữ
giới. Và các nhà sư yêu cầu phải là người chưa lập gia
đình và phải sống độc thân. Tuy vậy Ngài cho thấy ông
là một nhà cải cách. Ông đã học tại Đại học Nhật Bản
trong bảy năm và hoàn toàn thoải mái với cách tiếp cận
phóng khoáng hơn tại Nhật. Tại đó các nhà sư có thể lập
gia đình. Ông cảm thấy rất thích hợp với văn hóa nước
Mỹ nếu người ta được tự do một trong hai loại xuất gia
chung cuộc. – có nghĩa là những lời khấn của một nhà
sư Nhật Bản hay những lời khấn theo kiểu tỳ kheo hoặc
nữ tỳ kheo truyền thống. Tuy nhiên tất cả những người
muốn nhận xuất gia được yêu cầu phải học hỏi tất cả
những lời khấn trong vòng ba tháng trước khi xuất gia, một
phần vì để cho họ có thể xác định rõ ràng loại nào
thích hợp cho họ. Cuối cùng họ có thể nhận hoặc là tuyên
thệ 25 lời khấn để trở thành thiền sư Phật pháp hay là
tuyên thệ 250 lời khấn để trở thành tỳ kheo hay nữ tỳ
kheo. Cả hai loại đều nhận chung trong một nghi thức và một
loại áo cà sa và được coi như có địa vị giống nhau.
Vì
ông quan tâm mạnh mẽ đến việc đem nhiều truyền thống
Phật giáo khác nhau nhích lại với nhau. Nên tiến sĩ Thiên-an
đã mời "các thiền sư chứng giám" từ nhiều trường phái
Phật giáo khác nhau càng nhiều càng tốt đến tham dự nghi
lễ xuất gia.
"Điều
đó hình như để đem lại một phong cách thống nhất tại
các trung tâm thiền hiện nay.” Tôi đề nghị: “Đó là điều
hết sức dễ dàng được chấp nhận từ nhiều phía, cũng
mang phong cách hết sức đại kết (ecumenical). Đó có phải
chính là ảnh hưởng của ông ngay từ đầu không?”
"Vâng,
dứt khoát là thế," Karuna nói, "Ngay từ đầu đó là điều
ông rất quan tâm. Chúng tôi đã có các nhà sư Đại thừa,
các thầy tu Phật giáo Tây Tạng tại trung tâm chúng tôi.”
Tôi
thắc mắc có phải là tinh thần này có liên quan đến bản
chất Việt Nam của ông hay không?.
"Rất
nhiều thiền sư Việt nam theo khuynh hướng đại kết. Điều
đó cũng đúng với trường hợp vị thiền sư, trụ trì tại
một chùa tại đây. Và cũng rất đúng trong trường hợp một
đại sư trụ trì tại San Diego. Tôi thực sự không biết lý
do tại sao."
"Vậy
thì bà nhận xuất gia theo kiểu nào? Bà đã chọn loại lời
khấn nào vậy?"
"Tôi
yêu cầu được nhận tất cả các luật giới nữ tỳ kheo
một khi đến thời điểm xuất gia chung cuộc. Cho tới thời
điềm đó tôi vẫn chưa chắc lắm. Điều đó không phải
vì tôi nghĩ tôi có thể tuân thủ toàn bộ các luật giới
– tôi không chắc lắm. Nhưng tôi muốn càng truyền thống
và càng hợp với việc xuất gia là điều tốt. Một phần
cuộc sống tôi vẫn là cuộc sống "đời thường” – tôi
đang dạy học tại trường và con gái tôi đang lớn lên. Tôi
biết chắc một điều là trong tương lai tôi phải thực sự
gắn bó và càng sớm càng tốt tôi nhất định phải được
nhấn chìm vào công việc Phật giáo."
"Bà
có cảm nhận gì về việc phụ nữ lại có nhiều luật giới
hơn nam giới không?"
"Có,
tôi cũng có một vài suy nghĩ về điều đó. một vài điều
không gây rắc rối cho tôi chút nào cả. Một vài điều chỉ
mang tính phục vụ. Thật rất khó nếu không đề cập đến
một cách đặc trưng và đó là một vài điều chúng ta không
nên làm (và tôi thực sự không muốn để cho mọi người
biết về những luật giới đó.) Nhưng tôi nghĩ có một vài
luật giới không được áp dụng một cách vô tư. Nhưng đối
với Ngài, chúng ta chỉ bàn luận đến những gì đằng sau
những luật giới này mà thôi, điều gì luật giới này nhắm
tới và cuối cùng là chỉ nhắm tới những điểm chính yếu
sau đây: điểm chính yếu nhất là loại bỏ bản ngã và lòng
tự buông thả, nuông chiều. Mặc dù chúng không là những
luật giới tột đỉnh nhất. Nhưng theo Phật giáo Đại Thừa,
họ nhấn mạnh đến tinh thần hơn là theo từ ngữ của luật."
"Nhưng
điều đó không cắt nghĩa được lý do tại sao lại cần
đến nhiều luật giới hơn đối với phụ nữ.”
"Không
đâu, điều đó không thực sự là như thế. Tôi có một vài
nguyên tắc về điều đó. nhưng tôi không biết có chính xác
hay không. Thoạt tiên có một vài thắc mắc về việc không
hiểu có phải tất cả các luật giới đó đều đã được
tống đạt từ thời Đức Phật còn sống hay không hay là
được thêm vào sau này. Điều thứ hai là phải nhìn vào luật
Vinaya (kỷ luật tu trì) như là những qui luật đã được
truyền lại 2.500 hoặc 2.600 năm trước tại một nền văn
hóa đặc biệt và chúng ta không có cách nào biết được.
Nếu Đức Phật xuất hiện vào thế kỷ hai mươi tại Mỹ
thì thử hỏi chúng ta sẽ có cùng một thứ luật giới hay
không."
"Tôi
nghĩ bà có thể đoán thử xem”
"Chúng
ta chắc không cần phải có nhiều đến thế rất có thể
là một luật chơi hoàn toàn khác hẳn. Điều thứ ba là vượt
trên tất cả, Đức Phật cũng đã là một nhà đại sư tâm
lý. Ngài đã sinh sống tại Ấn độ, tại đó phụ nữ có
vai trò còn kém phần quan trọng hơn cả đàn bò và tự nhiên
hiện nay phụ nữ được đối xử hoàn toàn bình đẳng trong
Ni đoàn. Và tôi lại thắc mắc thế nào chẳng có một vài
luật giới không được đề ra vì những vấn đề thực tiễn
đàn ông có trong quan hệ với phụ nữ hay sao? Giả như tại
đây chúng ta có một nhóm đàn ông Ấn độ, tại đó phụ
nữ không có giá trị và thình lình họ được nâng lên bình
đẳng thì sao?"
"Thế
nên luật giới Ni Sư phải đi sau các sư là để xoa dịu họ
chăng?”
"Tôi
thắc mắc nếu vậy thì tôi không ngạc nhiên chút nào cả.
Nhưng đó chỉ là phỏng đoán thôi. Một vài luật giới mang
tính chất như vậy. Thí dụ, bạn không được nói xấu các
vị sư và bạn không được la mắng họ.”
"Và
bạn còn phải vái lạy họ, ngay cả khi họ mới được xuất
gia còn bạn đã được xuất gia lâu rồi. Đó là một trong
những điều đầu tiên".
"Đúng
vậy”
"Đã
có ai xem xét để hiện đại hóa những luật giới này chưa?"
"Tôi
đã có một cuộc đối thoại thật thú vị một vài năm vừa
qua với Walpola Rahula, là tác giả cuốn Đức Phật đã dạy
gì (What the Budđha taught) ông ta là người Sri lanka và rất
nổi tiếng trong truyền thống Đại thừa. Cuốn sách của
ông rất hữu ích cho những người mới nhập Phật giáo. Ông
có đến thăm trung tâm bốn năm trước. Và tôi cũng đã đề
cập với ông một số điều thay đổi cần thiết để áp
dụng Phật giáo vào xã hội Mỹ. Tôi đã nói với vai trò
ni sư đối với các vị sư thực sự đã có khó khăn. Không
phải chỉ có phụ nữ Mỹ mà cả nam giới Mỹ cũng không
muốn có sự tách biệt như thế và tôi đã nói với ông tôi
không biết phải xử lý vấn đề này như thế nào".
"Ông
nhìn tôi và nói, "Bà biết không, các vị sư không thể làm
gì được cả, vì đó không phải là luật giới của họ.
Chính các bạn là Ni Sư các bạn phải thay đổi và bà là
người phải làm điều đó!” đó là điều tuyệt vời, tôi
nghĩ thế.”
"Thế
phải làm sao đây?”
"Vâng,
phải đổi mới một số luật giới không còn thích hợp để
áp dụng nữa. Và nếu không có gì thì các giới luật phải
được áp dụng đồng đều cho cả nam lẫn nữ. Những giới
luật trong Phật giáo Zen không có phân biệt như vậy. Và thiền
sư của tôi cũng không phân biệt đối xử như thế.
"Vâng.
Thế bà sẽ được xuất gia đầy đủ vào khi nào vậy?"
"Xuất
gia chung cuộc của tôi vào năm 1976 với 250 luật giới.”
"Thế
bà cạo đầu vào năm nào?"
"Tôi
xuống tóc vào năm 1974.”
"Đó
có phải là một việc đại sự không?”
"Vâng,
đó là một việc đại sự. Thiền sư của tôi đã xuất gia
cho một phụ nữ trước đó mà vẫn không cần xuống tóc
và khi tôi đã sẵn sàng để được thụ phong chúng tôi có
một cuộc trao đổi về vấn đề này. Tôi xin phép thiền
sư cho tôi cạo đầu. Nhưng ông cho là trong xã hội Mỹ thật
quá khó khăn đối với một phụ nữ, đặc biệt bà lại
đang giảng dạy. Tôi nói điều đó không can chi với tôi cả.
Tôi có thể đội tóc giả khi tôi ra trước công chúng hay
đến dạy tại trường học. Nhưng ông nói không nên. Và ông
đã từ chối. Điều này xảy ra sáu tháng trước ngày xuất
gia chính thức của tôi. Và tôi thỉnh thoảng lại trao đổi
với nhau về vấn đề này. Khi gần đến ngày xuất gia tôi
nói với thầy của tôi. "Xin cho phép con xuống tóc. Ngay cả
thầy không yêu cầu những người khác làm thế, hãy cho phép
con được cạo đầu.”
Tôi
nói, "Xin bà cho tôi biết cảm nhận của bà thế nào về việc
xuống tóc này?"
"Tôi
cảm thấy rằng nếu chúng ta không xuống tóc, thì sự cam
kết của chúng ta không phải toàn diện. Tôi cảm thấy xuống
tóc là điều cần thiết, một cách tình cảm chứ không phải
là chỉ tượng trưng. Để được hoàn toàn dứt bỏ mọi
sự. Thế nên tôi yêu cầu được xuống tóc, ngay cả những
phụ nữ khác không yêu cầu được làm thế và thầy tôi
nói: "Không, không có gì phân biệt cả." Tôi trả lời là
thầy đã phân biệt bằng cách yêu cầu nam giới xuống tóc
nhưng không yêu cầu nữ giới. Vì thế cho nên tôi mới thắng
thế. Ít nhất là về nghi thức. Thầy đã yêu cầu mọi người
phải xuống tóc".
Hôm
trước ngày xuất gia có một nghi thức cắt tóc. Tất cả
chúng tôi tụ tập ở vườn sau nhà. Và mọi người đứng
vây quanh, cả sư sãi và cả Phật tử, giáo dân. Vị sư chủ
trì là ngài Suhita. Chúng tôi đều là bạn thân với nhau. Và
nhà sư đang xoa tay, đang đợi những lọn tóc quăn rơi xuống.
Cứ mỗi lần nhà sư nhìn tôi, ông lại lẩm bẩm. "Clíp, clíp,
clip" nhà sư đang chờ để cắt những lọn tóc khỏi đầu
tôi. Chúng tôi tất cả đang ở trong khu vườn vào buổi sáng
sớm, hát bài ca cắt tóc bằng tiếng Việt-Nam, trong khi đó
mọi người đều nhận nghi thức cắt tóc, thình lình Thầy
chạy vội vào trong nhà, một vị sư chạy vào xem có chuyện
gì xảy ra, quay trở lại vị sư này cho biết "Xin đừng ai
chạy vào trong nhà lúc này" khi tôi hỏi tại sao, ông nói,
vì thầy (Suto) quá cảm động khi thấy một phụ nữ người
Mỹ cạo đầu đi tu. Sau đó thầy quyết định tất cả mọi
người cả nam lẫn nữ muốn trở thành sư phải cạo đầu
và đã trở thành luật từ đó về sau. Và tôi nghĩ đó là
một điều luật tốt.
"Nếu
có người cần xuất hiện ngoài xã hội hay giảng dạy tại
các trường Tây âu tại những nơi đầu cạo trọc không có
lợi, họ có thể để tóc mọc trở lại. Nhưng tôi nghĩ cần
cạo đầu ít nhất trong một giai đoạn nào đó. thí dụ trong
suốt thời kỳ huấn luyện sau khi xuất gia. Vì rất khó huấn
luyện tốt được khi để tóc dài. Nếu một người không
có thể cạo đầu, thì chẳng có thể hoàn thành chức vụ
một nhà sư đảm nhận. Vì đây không phải là một cuộc
sống lãng mạn. Cạo đầu chẳng là gì cả so với những
gì một nhà tu hành phải thực hiện, mà chỉ đơn giản là
một vị sư thôi."
"Một
cách toàn diện và hoàn hảo có phải không?"
"Đúng
vậy.”
"Tôi
muốn hỏi thêm một chút: trở thành nhà sư mang ý nghĩa gì?"
"Đối
với tôi trở thành một nhà sư chỉ mang có một ý nghĩa.
Và đó chính là điều thúc bách tôi cam kết hoàn toàn với
công việc nhà Phật. trở thành một vị sư đối với tôi
là thề hứa với chính lòng mình là cuộc đời còn lại của
mình, Công việc nhà Phật phải là ưu tiên số một."
"Bà
nói là cạo đầu là việc dễ dàng so với những việc khác.
Bà có thể nói rõ hơn điều đó được không?”
"Tôi
nghĩ nhiều người Mỹ có tư tưởng thật lãng mạn về việc
trở thành một vị sư. Họ nghĩ là làm một nhà sư bạn có
thể ngồi thiền hàng giờ dài, rằng cuộc sống của một
nhà sư nhàn hạ, trầm lặng, yên tĩnh và thoát khỏi những
phiền toái ngoài đời. Điều này rõ ràng là không đúng.
Sẽ có nhiều phiền toái hơn. Sẽ có nhiều vấn đề hơn,
có nhiều đòi hỏi hơn về thời giờ của bạn. Một khi chúng
ta tiến thêm hơn trong việc huấn luyện, vai trò của chúng
ta ngày một gia tăng. Thiền sư và hoàn cảnh thực tại của
mỗi người yêu cầu chúng ta ngày càng nhiều hơn. Một điều
rất bình thường đối với một nhà sư đã cam kết thực
sự thì ngủ ít và ngồi ít không phải là điều lạ. Vì
có quá nhiều công việc để làm. Các vấn đề khó khăn lúc
nào cũng nẩy sinh. Đặc biệt sống trong đoàn thể như thế
này. Tôi yêu thích bỏ thì giờ ra làm bất kỳ công việc
gì có thể kết thúc một cách siêu nhiên. Nhưng thay vào đó
tôi lại phải dính dáng đến công việc điều hành rất nhiều,
với công việc thơ lại nơi thành phố, với những xung đột
giữa những cư dân. Khi có khoảng ba mươi lăm hay bốn mươi
lăm người sống trong một đoàn thể, những xung khắc sẽ
xảy ra. Tất cả chúng ta tại đây rất sẵn sàng giúp đỡ,
rất chịu đựng và nâng đỡ lẫn nhau. Nhưng ngay cả trong
những đoàn thể cởi mở nhất, mặn mà nhất và đầy tình
thương nhất. Xung khắc vẫn luôn xảy ra."
Năm
1975, có một thay đổi bi thảm đã diễn ra trong cuộc sống
mọi người sống tại Thiền viện IBCZ. Nước Mỹ đã dính
líu trong cuộc chiến Việt nam được mười ba năm. Nhưng vào
đầu tháng Giêng, tiến sỹ Thiên-an nói với Karuna là Sàigon
sẽ sụp đổ trước một tây tháng năm. “Làm sao thầy biết
được chuyện này?" Bà hỏi. "Tự nhiên tôi biết mà thôi."
Thầy trả lời và nói thêm, "sẽ có rất nhiều việc để
làm đấy”. Ít lâu sau thầy đã trực tiếp can thiệp vào
việc dàn xếp cho các nhà sư trẻ người Việt Nam nhập cảnh
vào đất nước này, làm việc thông qua Hội các người bạn
Mỹ (American Friends Service Committee) và cả bộ ngoại giao. Và
chịu trách nhiệm về các phúc lợi cho các vị sư này và
tiếp tục công việc huấn luyện một khi họ tới được
Los Angeles. Ngày 30 tháng Tư Sài gòn sụp đổ. Chỉ hai tuần
sau khi Thiền viện IBMC khởi sự khóa huấn luyện ba tháng.
Điện thoại reo ngay lập tức và hình như không bao giờ chấm
dứt. Vì Ngài là một trong những nhà sư Phật giáo Việt Nam
có nhiều uy tín tại Mỹ. Chỉ qua một đêm ngủ dậy ngài
đã nắm quyền hành giải quyết làn sóng người di cư Việt
nam đổ vào đất nước này. Đối với Karuna, là người đã
quá hăng say trong công việc, sự kiện này có nghĩa là bà
phải trải rộng giới hạn công việc ra xa hơn nữa. Trong
vòng bảy tháng bà đã hiện diện mỗi cuối tuần liên tục
tại trại tị nạn Pendleton, là nơi người tị nạn đến
tá túc trong giai đoạn đầu đến nước Mỹ. Bà đến để
thuyết pháp và thực hiện công việc phục vụ Tôn giáo, thuyết
giảng. Và các trợ giúp ban đầu. Sau này khi cộng đồng người
Việt tại Los Angeles đã mọc lên nhanh chóng (vào lúc đó những
cái xác mệt mỏi nằm ngủ khắp nơi trên nền nhà thiện
viện). Bà phải giải quyết toàn bộ những nhu cầu trong việc
di chuyển những con người này tới một môi trường hoàn
toàn mới mẻ xa lạ.
"Thật
sự mỗi giây phút đã trở thành thật sôi động” Karuna
hồi tưởng lại, bà phải học làm việc dưới áp lực. Bình
tĩnh trong cơn khủng hoảng. Không còn phải là vấn đề mỗi
người làm hay không làm điều gì "làm đi thôi” bạn không
còn lựa chọn nào cả và điều đó rất tốt. Tôi suy nghĩ.
Bà không bao giờ ngủ hơn bốn năm tiếng đồng hồ mỗi đêm
trong suốt thời gian đó và bà biết là thầy của mình còn
ngủ ít hơn thế nữa. Mỗi buổi sáng đòi hỏi bà phải chú
ý đến những gì cần thiết, không cần phản ứng hay suy
tư gì từ bên ngoài.
"Tôi
học được không khước từ điều gì cả. Hoàn toàn không
chống lại bất kỳ điều gì. Chúng ta không còn có cơ hội
nào để làm thế cả. Một khi bạn không có sự lựa chọn
nào, bạn biết đó bạn không còn kịp suy nghĩ – để chống
lại hay trả lời phủ định bất kỳ điều gì.
Chỉ
qua một đêm mà trung tâm thiền đã thay đổi hoàn toàn. Trước
đó là một đoàn thể có ba mươi lăm người cư ngụ. Hiện
nay con số người di cư đến đã lên đến 150 người, kể
cả một số rất đông con nít. “Họ có mặt khắp nơi”
Karuna cho biết, “Bạn không thể đi ra đi vô phòng hội mà
không dẫm chân lên xác người vì chúng tôi không còn chỗ
nào để cho họ ở nữa.” Ngoài những căng thẳng không thể
tránh khỏi tạo ra giữa các cộng đồng người Mỹ, lại
xuất hiện những vấn đề khó khăn cụ thể phát sinh như
vấn đề đăng ký cho trẻ em đến trường, dàn xếp để
khám sức khỏe, trợ giúp tài chánh, lấy thẻ bảo hiểm y
tế – toàn bộ những tổ chức cần thiết để nuôi ăn và
nhà ở cho một dòng chảy khổng lồ những người mới đến.
Đối
với Karuna, kinh nghiệm này và những kết quả luôn gắn liền
bà với cộng đồng người Việt từ đó đã ảnh hưởng
rất nhiều đến hướng đi cuộc đời bà đã lãnh nhận.
Bà luôn luôn tham gia bất kỳ sinh hoạt Phật giáo người Việt
nào nội trong tầm lái xe đến được trong vùng Los Angeles.
Và được mời đến bất kỳ ngôi chùa Việt Nam nào trên
đất nước này. Bà cũng rất quan tâm đến tinh thần đại
kết Phật giáo và đến các cuộc đối thoại với các nhóm
Tôn giáo khác. Bà là thành viên tích cực của Hội Đồng
Tăng Già Phật giáo Vùng Nam California, một nhóm qui tụ tất
cả các truyền thống Phật giáo và các nhóm sắc tộc. Và
như Karuna tường trình lại, đã xuất hiện một "tình huynh
đệ tuyệt vời” giữa các nhóm hiện diện.
Vào
tháng chín năm 1976 một biến cố thứ hai xảy ra cũng đã
tác động mạnh đến cuộc sống Bà Karuna. Những cảm nhận
về những khó khăn đánh dấu giai đoạn người Việt Nam có
mặt tại trung tâm đã dần dà được giải quyết. Đa số
những người này đã thích ứng rất tốt với môi trường
mới và tự tổ chức được cuộc sống của họ. Một ngôi
Chùa Việt Nam cũng đã được thiết lập và đang phát triển
mạnh. Con gái bà hiện nay đã mười sáu và bước vào tuổi
dậy thì, đang cần sự chăm sóc của mẹ rất nhiều. Karuna
đang tìm cách tập trung tới việc luyện tập của con gái.
Sắp sửa kết thúc học tại trường trong vòng hai năm nữa
và được tự do dồn hết nghị lực vào điều con gái bà
đã suy nghĩ là công việc thực sự của nó. Tháng tám năm
1976 con gái đã kết thúc xuất gia chung cuộc. Bà cảm thấy
cuộc sống của con gái bà như mới trên bước đường khởi
sự. Một tháng sau đó một tai nạn đã giết chết một người
đàn bà rất thân với con gái và thình lình nó phải đối
mặt với viễn cảnh phải nuôi dạy đứa con 21 tháng tuổi
bà ta đã để lại.
Thoạt
đầu bà suy nghĩ, "Tôi không thể làm được điều này" bà
đang theo học để lấy bằng tiến sĩ. Bà cũng đã khởi sự
học tiếng Phạn và tiếng Nhật. Bà đã lập chương trình
cộng tác với một người bạn Hàn quốc đang dịch Kinh Phật
từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Anh., trong khi đó Karuna đang
dịch sang từ tiếng Phạn. Nhưng đứa bé lại đang buồn ngủ
trên cái nôi cạnh Bà. Karuna đã về thăm gia đình ít ngày
trước đó và thật sự không còn chỗ nào để gửi nuôi
đứa bé. Bà cẩn thận lướt qua tất cả các lựa chọn khác.
Và chẳng tìm thấy biện pháp nào khả thi. Bà không thể bỏ
qua được là phải bắt đầu lại công việc nuôi con nhỏ.
Ngay
lúc đầu bà gặp rất nhiều rắc rối: đứa trẻ tự rút
lui vào nội tâm, không nói tiếng Anh, không kiên nhẫn với
chính mình. Nhưng Karuna đã để lại nơi đứa trẻ tình yêu
dạt dào ngay từ những giây phút đầu tiên. Và bà không bao
giờ phải hối hận về quyết định đó. Vào thời điểm
tôi tới thăm, đứa con nuôi của bà đã lên mười tuổi và
luôn tươi cười vui vẻ.
Lại
còn một biến cố thứ ba đã làm thay đổi tận gốc rễ
cuộc đời bà và không nghi ngờ gì nữa đó là khó khăn lớn
nhất. Karuna cho biết, “Vì không còn lựa chọn nào khác."
Vào năm 1980 người thầy yêu dấu của bà viên tịch. Ông
bị ung thư gan, đã di căn lên đến não và ông đã bị đau
đúng một năm.
"Nhưng
chỉ trước khi ông từ trần khoảng ba tháng chúng tôi mới
thấy ông bị bệnh thực sự và ngay cả ông cũng mới thấy
trong người bị bệnh. Bác sĩ chuyên khoa giải phẫu cho tôi
biết là ông thầy phải chịu đau đớn rất nhiều.”
Karuna
có mặt với thầy mình đều đặn, chính bà đã đưa thầy
nhập viện vào ngày cuối cùng. "Một điều không dễ dàng
gì phải sống vào những thời điểm đó với ông thầy của
mình vì ông bị bệnh quá nặng, nhìn cuộc sống của thầy
mình sắp qua đi, biết rõ không thể làm gì khác được để
bám chặt vào cuộc sống đó, Bà không muốn rời xa thầy
mình một giây phút nào."
Tôi
nói. "Thật là một điều tốt lành vì bà luôn túc trực tại
đó.”
"Tôi
rất hân hạnh được có mặt tại đó,”
"Bà
yêu ông thầy nhiều lắm phải không?"
"Ô
vâng tôi chưa hề có người bạn thân thiết nào như vậy
trong đời mình cả."
Karuna
cho biết, ảnh hưởng của thầy quá sâu đậm và bà không
còn biết cách nào để đáp trả lại được. “Chỉ có một
cách duy nhất một đệ tử có thể trả công được cho thầy
mình là trở thành vĩ đại như chính người thầy của mình
vậy. Tôi không biết có thể thực hiện được điều này
hay không." Bà ngừng lại và rồi nói thêm, "Không, tôi nghĩ
có thể thực hiện được điều này. Không những chỉ có
thể được mà theo tôi suy nghĩ tôi phải thực hiện cho bằng
được điều đó. Không phải ngay lập tức, nhưng chỉ là
tôi có muốn thực hiện hay không."
Sau
cái chết của người thầy vĩ đại tại trung tâm thiền có
một khoảng trống lớn và có nhu cầu phải tái cấu trúc
lại những đường biên từ trước đến giờ. “Thầy là
một phần quá thân thiết với tôi và tôi cũng đã trở nên
một phần thiết yếu của thầy. Đến nỗi không có sự hiện
diện thể lý của nhau, thật rất khó lòng biết được ranh
giới riêng tư cá nhân tôi nằm ở chỗ nào. và cần một
thời gian dài để giải quyết điều này." Bà chưa sẵn sàng
để tự đứng vững được, rất có thể phải chờ đến
mười năm nữa chăng. Nhưng điều đó tương tự như lao xuống
vực thẳm. Không còn thời gian để suy nghĩ nữa. “Tôi đã
sẵn sàng chưa?" hay là "Tôi muốn chờ thêm mười năm nữa.”
Tuy
nhiên, khi mà đường biên dần dần được vẽ lại, Karuna
đã nhận ra được bà không bao giờ có thể tách biệt khỏi
thầy mình được. “Thầy hoàn toàn hiện hữu trong tôi mạnh
mẽ đến nỗi lúc nào tôi cũng hiện diện nơi thầy mình."
Karuna
đương nhiên là đã nhận lãnh toàn bộ trọng trách tại trung
tâm sau khi Bổn sư của bà từ trần. Và trở thành Giám đốc
thiền viện IBMC vào năm 1980. Thêm vào những nhiệm vụ điều
hành bà lại giảng dạy đều đặn một số lớp học tại
học viện, (một vài chủ đề vừa rồi về các môn học
như: Kinh Lotus Sutra; lịch sử và phát triển phái Đại Thừa
Cổ Đại; Triết học Phật giáo Zen. Thiền định Zen; giới
thiền sư Dharma.; Kinh Vimalakirti Nirdesa Sutra; Triết lý Phật
giáo.; Kinh Sutra Nữ hoàng Srimala Devi; triết lý và các tôn
giáo Á Đông.)
Khi
tôi nhận xét là bà không bao giờ nghĩ đến việc có một
cuộc sống riêng cho đời mình, bà đáp lại, “Không, là
một nhà sư bạn không thể có cuộc sống riêng cho chính mình
được, cuộc sống riêng tư ấy đã hoàn toàn biến mất.
Rất lâu rồi, nhưng đặc biệt hiện giờ cuộc sống ấy
chẳng còn hiện hữu nữa."
Chúng
tôi không tránh khỏi đề cập đến kinh nghiệm của Karuna
như là một nhà sư phụ nữ và một nữ thiền sư trong một
không gian đa số là nam giới, điều đó thật là quan trọng
lúc ban đầu. Bà nhớ lại, để phát triển cảm nhận tự
tin và độc lập – “Không phải điều gì được ưu ái
dành cho phụ nữ nơi bất kỳ nền văn hóa nào" – và cũng
cần thời gian để tự đứng vững, không phải lúc nào cũng
phải dựa dẫm vào người khác. Bà cho biết, phụ nữ được
dạy cho biết ngay từ hồi mới sinh ra là đến với người
khác mỗi khi có vấn đề gây nản lòng, Nam giới đã được
dạy cho biết là họ sẽ phải có giải pháp. Nhưng ngày nay
điều này đã thay đổi rồi. Nam giới đã tự thú nhận là
họ không phải lúc nào cũng có sẵn giải pháp. Và phụ nữ
coi sự lệ thuộc như một cái nạng họ cần phải gỡ bỏ
đi. Bà nói thêm, "Họ phải đối mặt trực tiếp và trở
thành hoàn toàn tự lập. Và tôi nghĩ hiện nay tôi đang làm
điều đó. chúng ta sẽ thấy điều đó đúng hay sai.! Nhưng
tôi nghĩ tôi chỉ đạt đến điểm đó sau khi thầy tôi đã
qua đời, khi tôi không còn ai để có thể cậy nhờ được
nữa.”
"Có
bao giờ bà thấy có vấn đề với nam giới là những người
chưa quen thấy phụ nữ có được thứ độc lập đó chưa?”
"Ô
có đấy, dứt khoát là có rồi và tôi cảm thấy rất khó
chịu một thời gian. tôi cố gắng tỏ ra rất dễ thương
về điều đó. Nhưng tôi cũng đã xô xát trực tiếp với
nam giới nhiều lần. Mặt khác, phụ nữ cũng có vấn đề
riêng của họ nữa – có những người đã gán tất cả những
khó khăn của chúng ta cho nam giới trong xã hội. Trong khi điều
đó ở một vài khía cạnh. đó chỉ là cái cớ để chúng
ta trốn tránh trách nhiệm. Thế nên điều gì đã đúng trong
quá khứ, chúng ta phải đối phó ngay lập tức trong hiện
tại. Tôi cũng đã gặp nhiều phụ nữ cứ cố gắng thuyết
phục tôi những kinh nghiệm họ thấy về hành thiền giữa
nam giới và nữ giới rất khác biệt. Kinh nghiệm mỗi cá
nhân rất khác nhau và nhất định giới tính cũng góp một
phần vào sự khác biệt đó., nhưng chỉ có một phần thôi.
Và tôi không biết được đó có phải là phần quan trọng
nhất hay không."
Karuna
cảm thấy điều quan trọng là vai trò thiền sư không những
chỉ dành cho nữ giới thôi mà còn cho cả nam giới nữa. Nữ
Thiền sư đã cung cấp cho chúng ta một cách tiếp cận và
một viễn tưởng khác. Nhưng tri giác thông thường của chúng
ta là nữ thiền sư đôn hậu hơn, nhẹ nhàng hơn và yên tịnh
hơn chỉ là một ảo giác. Karuna tin rằng cho dù bên ngoài
có nhẹ nhàng hơn, "bên trong không mấy khác biệt nhau đâu,”
rất có thể nữ giới còn tỏ ra một chút rắn chắc hơn
nam giới nữa là đằng khác.
Tôi
hỏi, "Bà đang nói về chính mình có phải không?"
"Tôi
có thể nói về chính bản thân tôi. Là một người phụ nữ
đạt đến vị thế đó, dứt khoát phải có sức mạnh thực
sự, sắt thép thực sự. Bên dưới những thứ đó, tôi có
thể tỏ ra không khoan nhượng với bất kỳ ai ở bất kỳ
thời điểm nào và có lẽ đó là điều tồi tệ”
"Tôi
rất thích trông thấy bà hành động!”
"Vâng,
trong hầu hết mọi trường hợp tôi là người rất có tình
có lý. Nhưng tôi rất hay tự bóc trần. Tôi kỳ vọng rất
nhiều nơi người khác. Một trong những điểm yếu của tôi
là tôi không thể chịu đựng được những người lười
biếng và những người thiếu khả năng. Tôi cứ bỏ qua họ
luôn. Những thiền sinh nào gắn bó mật thiết với tôi chỉ
là những thiền sinh đã tỏ ra cam kết một cách kiên trì
và dài hạn. Những sinh viên nào tôi muốn bỏ ra nhiều thời
gian gần gũi chỉ là những em rất chăm chỉ chịu khó và
không bao giờ nói, "Em không thể."
Mặc
dù bà không có được những gương phụ nữ điển hình trong
nhiệm vụ đặc biệt nào để noi theo. Karuna không bao giờ
coi điều đó là vấn đề nghiêm trọng, "Chẳng bao giờ xảy
đến với tôi là phụ nữ lại không có thể hoàn thành được
bất luận điều gì bao giờ."
Tuy
nhiên, với một khí thế có hơi khác người một chút Karuna
đã cho thấy một khía cạnh khác nơi bản thân bà. Chúng ta
có thể nói tất cả những gì chúng ta muốn nói, không có
sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà. Về giác ngộ không
có gì liên quan đến những khác biệt giới tính cả. (“Nếu
không có thân xác, thì làm sao có được những khác biệt
giới tính?” ) Tuy nhiên ở một mức độ ngoài đời hàng
ngày chúng ta phải thừa nhận có những khác biệt được
nhận ra. Và ngày càng rõ Karuna đã nhận thấy rằng có một
thay đổi sâu rộng về những điều được coi là những giá
trị của người phụ nữ, khi Phật giáo du nhập vào nền
văn hóa mới này bà tin rằng sẽ có được thành công nhất
định, nếu như có được một lượng lớn nghị lực và
trách nhiệm của người phụ nữ can dự vào đó.
Bà
cho là, Phụ nữ nơi Phật giáo tại nước Mỹ thể hiện như
điều David Spangler gọi là "Vị thế nhạy bén nhất" vì thế
họ luôn phải hết sức tỉnh táo và ngay cả phải tỏ ra
"tốt hơn" là người đồng nghiệp nam giới của mình.("Thẳng
thắn mà nói, tôi nghĩ chúng ta còn tốt hơn nam giới trong
một vài lãnh vực nào đó”) cho dù bà chờ đợi điều gây
ngạc nhiên. Bà tiếp tục nói, nhìn chung không phải phụ nữ
chỉ đang nuôi dưỡng, nhận thức và nhạy bén hơn với những
thay đổi, mà họ còn tỏ ra là người mạnh mẽ hơn nữa.
Họ là những người mà toàn bộ gia đình luôn phải tùy thuộc
vào. Và xét cho cùng bà nói thêm, phụ nữ ít tình cảm hơn
nam giới.
Tôi
yêu cầu bà làm ơn nhắc lại điều vừa nói và bà cho biết,
"Tôi nghĩ phụ nữ ít tình cảm hơn đàn ông ở chỗ họ thực
tiễn hơn, ít lãng mạn hơn nam giới khi những điều thực
tiễn, những tình tiết cụ thể, những việc thường ngày
xảy ra. Phụ nữ thường thực tế hơn nhiều trong quan hệ
và thái độ của họ về những quan hệ đó.”
"Bất
hạnh thay đàn ông đã luôn lãng mạn hóa phụ nữ tới mức
độ gây phương hại đến chúng ta” tôi nói thêm.
"Và
tôi nghĩ phụ nữ đã không làm thế đối với đàn ông ở
bất cứ nơi nào. Có lẽ tốt hơn chúng ta cũng phải bắt
đầu như thế là vừa".
Bà
mô tả tiếp một biến cố nhỏ xảy ra nhiều năm trước
khi có người hỏi thiền sư của bà về việc phụ nữ giác
ngộ như thế nào. Họ đã nhận thấy tất cả những ví dụ
điển hình trong văn chương đều chỉ liên quan đến nam giới.
Thiên-an đã trả lời theo ý kiến của ông thì đàn bà dễ
được giác ngộ hơn vì nhiều người trong họ đã phát triển
lòng nhân ái một cách mạnh mẽ và có khả năng nhận thức
bằng trực giác rất cao. Vì thế ngay từ bẩm sinh họ đã
tiến gần hơn nam giới trong việc để thể hiện giác ngộ.
Nói một cách khác cảm tình họ gặp ít chướng ngại hơn
trên bước đường dẫn đến giác ngộ.
Tuy
nhiên, Karuna cảm thấy theo truyền thống phụ nữ ít trở
thành thiền sư hay lãnh đạo. Vì họ ít quan tâm đến quyền
lực theo một nghĩa rộng. Và nhiệm vụ đương nhiên của
người phụ nữ là phụ thuộc vào nam giới. – Bà nói, "Điều
đó không phải là Phật giáo, mà là điều do văn hóa áp đặt”.
Nhưng hiện nay phụ nữ cần có được chỗ đứng bình đẳng,
không chờ người khác ban tặng cho điều gì. Nếu họ không
làm như vậy họ sẽ chẳng bao giờ có được cách đối xử
bình đẳng.
Tôi
hỏi tiếp: "Trong cơ cấu Phật giáo ngày nay, liệu có thể
thực hiện nổi điều đó không?”
"Vâng,
nếu chúng ta muốn thực hiện điều đó, sao lại không được.
Và hiện nay là thời điểm để làm điều đó, bất luận
điều gì chúng ta thực hiện trong những giai đoạn đào luyện
này sẽ ảnh hưởng lớn đến những gì sẽ xảy ra trong tương
lai."
Trong
lời kết câu chuyện kể về Karuna và thiền sư của bà. Có
đề cập đến người cha của Karuna, quan hệ giữa cha và
Karuna gặp đầy khó khăn và chông gai trong suốt cuộc đời
bà. Tổ tiên của bà đã sang định cư tại Mỹ hơn 350 năm
qua và ông là người mang gốc "Ăng-lê đặc biệt” và rất
bảo thủ. Bà không thể trình bày được với ông về bất
kỳ điều gì quan trọng trong cuộc đời. Cho dù ông luôn muốn
các con của ông lớn lên trở thành người có cá tính độc
lập. Sự ông không đồng ý và không thông cảm với những
lựa chọn quan trọng nhất đời người con gái của ông là
điều rất rõ ràng. Vào năm 1975, chỉ một năm sau khi mẹ
bà qua đời, cha của bà đã quyết định tái giá. Và khi ông
gọi con gái về để loan báo ý định đó. Bà nghe rõ ràng
ông cảm thấy hơi sợ hãi nếu như con gái không đồng ý,
vì bà vẫn là một thành viên trong gia đình. Vào lúc đó,
tất cả nỗi lo sợ của bà đều tiêu tan hết.
Sau
này, ông đã gặp thiền sư của con gái và lưu lại một ít
thời gian trao đổi với ông. Và Karuna cho biết, "Thật là
tuyệt vời vô cùng," Ông bắt đầu đọc, học và truyền
bá Phật giáo cho những người trong giới có kiến thức để
cho họ hiểu những gì con gái ông đang thực hiện. Khi Thiên-an
viên tịch, cha của bà vừa mới qua ca mổ đầu gối, nhưng
ông cho biết ông phải ra viện ngay lập tức để đến chỗ
con gái. Bà nói, "Nhưng ba vẫn còn phải nằm viện cơ mà,
ba không thể di chuyển được đâu,” Nhưng ông chỉ một
mực nhắc lại là ông phải đến.
Karuna
cho biết, "Đó chính là điều tôi cần đến,” Ông bắt đầu
tập luyện trên giường bệnh và cho dù bác sĩ đã cảnh báo
là ông không được di chuyển trong vòng nhiều tuần, chỉ
trong vòng ba ngày sau ông đã rời bệnh viện và lên máy bay
về nhà.
Chính
sự hiện diện của ông mang lại ích lợi vô cùng cho Karuna.
Cả ngày bà phải ở lại Trung Tâm thiền Los Angeles. Bao quanh
biết bao nhiêu người đau khổ và lo lắng. Không có nhiều
thời gian riêng dành cho bà. Ngay cả ban đêm bà cũng lái xe
về nhà tại Downey và có cha đang chờ tại đó, ngay cả vào
lúc một hai giờ sáng. Không có nhiều thời gian và họ chỉ
có thể nói với nhau hầu hết chỉ về những điều không
mấy quan trọng, nhưng đơn giản là ông chỉ có mặt tại
đó đã là điều thật ý nghĩa rồi. “Và khi ông thấy hàng
ngàn hàng ngàn người tuôn ra đường tham dự đám tang và
khi ông đọc bài đăng tải trên tờ Thời Báo Los Angeles và
những bản điện báo trên khắp thế giới gửi tới và nghe
về các lễ nghi không ngừng diễn ra tại đây trong suốt một
tuần lễ, cha đã nhận ra vị thế cũng như địa vị tôi
đang nắm giữ. Hiện nay khi ông nói về tôi ông thường dùng
từ "Con gái tôi, một nữ tu Phật giáo." và tôi nghĩ hiện
giờ ông rất hãnh diện về tôi."
Thế
là Karuna đã mất đi một người thầy nhưng lại tìm được
một người cha mà bấy lâu nay bà đã không phát hiện ra được
ông vẫn còn đó. Theo một số thông tin phát hành tại thiền
viện IBMC tờ Monthly Guide (Người Hướng Dẫn Hàng Tháng) hình
như bà cũng phát hiện ra được một đệ tử (học trò) –
một phụ nữ với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề điều
dưỡng và hiện nay cũng đang theo học khóa huấn luyện trở
thành tu sĩ Phật giáo chung với bà và cũng đã điều hành
một khóa huấn luyện cuối tuần về thiền và phương án
chữa trị. (Trong một lá thư mới đây Karuna cũng viết về
một học trò nam cũng đang trong giai đoạn huấn luyện) Đây
là đôi điều bà đã trình bày mong rằng khi nào đó trong
tương lai khi tôi đến gặp lại bà. Vào thời điểm đó chủ
yếu bà chỉ suy tính về thực hiện công việc của cố thiền
sư, bà đã hứa với thầy mình là sẽ giữ những gì đã
hứa. Nhưng hiện giờ bà cho biết là đang muốn có nhiều
thiền sinh theo học với bà để trở thành tu sĩ Phật giáo
nam cũng như nữ và để phát triển một nhóm những người
tình nguyện là chính và một người trong số họ sẽ lãnh
trách nhiệm điều hành trung tâm thay bà để cho Karuna được
rảnh rỗi đôi chút.
Được
rảnh để làm gì? thưa bà, để viết và xuất bản nhiều
bản viết tay của thiền sư để lại, rất có thể tôi sẽ
viết một cuốn tiểu sử về người thầy thiền sư của
bà, để quay trở lại học tiếp môn ngôn ngữ tiếng Phạn,
để đọc được những bản Kinh Phật Nguyên Thủy, để thỉnh
thoảng đi du lịch sang Á châu và thực hiện những công việc
Đại kết thầy mình đã khởi xướng. Tuy nhiên, tất cả
những công việc đó đều đòi hỏi nhiều thời gian. Nhưng
vẫn còn một thời gian dài để chăm sóc cho đứa con nuôi
và huấn luyện một đệ tử khả dĩ đảm trách được công
việc điều hành Trung Tâm Thiền, bà cảm thấy cần phải
mất đến mười năm. Nhưng rõ ràng là mọi sự cứ diễn
tiến lên phía trước. Tôi có thể nhận ra Karuna đang cương
quyết tiến những bước dài về phía trước. Và tôi còn
nghe được cả tiếng cười của bà.
Mùa
Đông năm 2000
Từ
cuộc thăm viếng đầu tiên chúng tôi đã thực hiện được
trong nhiều năm qua. Tôi còn nhớ rất rõ diện mạo Karuna:
một phụ nữ mạnh mẽ, cường tráng và tỏa ra nguồn nghị
lực dồi dào. Hiện nay bà phải chống gậy, chân trái của
bà đã phải gắn một cái kẹp, cánh tay trái không còn sử
dụng được nữa. Sáu năm qua, bà đã bị một cú nhồi máu
cơ tim rất mạnh, hậu quả là bà không thể xoay trở trên
giường được nữa. Hiện nay, sau khi đã phục hồi và với
một chiếc xe hỗ trợ, bà đã có thể đi lại mỗi ngày.
Bà bước đi rất khó khăn và phải tập trung rất nhiều.
Mặc
dù Karuna không bao giờ nghi ngờ bà sẽ hồi phục được,
sự bất lực là một thách thức lớn đối với bà. Bà nói
với tôi: "Trở thành hoàn toàn phụ thuộc vào người khác
là một bài học rất lớn tôi cần phải học". Những chi
tiết chân tình nơi kinh nghiệm của bà nay được nhìn dưới
một nguồn sáng mới. "Tôi bắt đầu đánh giá cao cách thức
thân thể chúng ta hoạt động cho dù xưa nay chúng ta không
để ý đến.” Hiện giờ bà phải tập trung tư tưởng vào
đủ thứ. “Làm sao có thể di chuyển chân này đây? Làm sao
di chuyển xuống cầu thang? Tôi có thể mặc được chiếc
áo này không? Tôi có thể làm cho chân trái cử động được
không?” Đơn giản thật, nhưng lại hết sức khó khăn. Để
nhấc chân lên, Bà phải dừng lại và suy nghĩ, "Hãy nhấc
chân lên nào".
Tuy
nhiên, điều khó nhất là đối phó với những cảm xúc, chúng
thình lình xuất hiện và không thể kiềm chế được. Trước
kia bà chưa bao giờ khóc trước công chúng, "ngay cả khi thiền
sư và cũng là người bạn quý nhất trên đời của tôi qua
đời.” Giờ đây bà thấy mình có thể khóc vì bất cứ
điều gì bình thường nhất, nhưng sau đó bà bắt đầu cho
là hiện tượng cụ thể đó là do hậu quả "cú sốc" tim
gây ra. Mãi về sau bà mới chế ngự được cảm xúc, cho dù
bà vẫn thấy rất dễ bật khóc khi đang xem phim!
Toàn
bộ kinh nghiệm đó là"một thiền sư vĩ đại” đối với
bà. Bà nhận ra là "cứ mỗi khi chúng ta khóc một cách dễ
dàng vì buồn phiền hay tức bực, không nhất thiết đó phải
là dấu hiệu chúng ta đang tấn tới trên đường Phật pháp.”
Thoạt tiên việc không kiềm chế được cũng thách thức và
gây phiền toái cho bà. Nhưng bà nghiệm thấy được sau cú
sốc, bàng quang thường co nhỏ lại và dễ dàng nhận ra việc
không kiềm chế được như một cách khác làm cho bà không
tự kềm chế.
Ở
một mức độ nào đó, các thiền sinh lớp lớn cũng đang
đảm trách dần nhiệm vụ thuyết Pháp của Karuna. Tỷ dụ
như trong ba năm đầu sau “cú sốc” một đệ tử chính đang
tu luyện của bà đã đảm nhận điều hành chương trình huấn
luyện các sư sãi. Bi thảm thay, chính người học trò này
của bà cũng đã qua đời vào năm 1996, bắt buộc Karuna lại
phải đảm trách một số công việc bà đã từ bỏ.
Một
lãnh vực hết sức thúc bách đối với bà đó là dự án
hướng về các nhà tù, Bà đã khai trương năm năm về trước.
Hàng tuần trung tâm IBMC nhận được khoảng từ năm đến
mười lá thư do các tù nhân gửi đến tìm kiếm thông tin
về hành thiền. Nếu như Karuna cảm thấy họ là ứng viên
thích hợp, bà sẽ liệt kê họ vào một chương trình liên
lạc bằng thư từ giúp họ liên lạc trực tiếp với các
thiền sinh có kinh nghiệm, các thiền sinh này sẽ gửi tài
liệu và trả lời các thắc mắc cho họ. Một thiền sinh hàng
tháng quan hệ với khoảng sáu mươi tù nhân, trông nom một
khóa giảng huấn cho mỗi tù nhân riêng biệt. Hiện nay, một
trong số các tù nhân cũng đã lãnh trách nhiệm hướng dẫn
cho nhiều học sinh tù nhân mới. Mục đích là huấn luyện
những tù nhân lãnh án tù dài hạn để bắt đầu và duy trì
ngồi thiền, các nhóm học hỏi tại các nhà tù có nhiều
tù nhân hưởng ứng. Một trong những thiền sinh trong tù đã
được xuất gia qua điện thoại như một người anh em trong
Ni đoàn do Karuna khởi xướng và chính anh ta cũng được giao
trách nhiệm liên hệ với các tù nhân mới khởi sự hành
thiền. Một vị sư nữa tại trung tâm cũng đang làm việc
với các thanh thiếu niên trong trại Giáo Hóa Juvenile Hall và
tại Camp Kilpatrik ở Malibu. Vị sư này dạy các em thổi khẩu
cầm kèm theo hướng dẫn hành thiền.!
Trong
những năm qua, trung tâm đã đăng cai tổ chức các buổi liên
hoan nhân ngày lễ Vu lan (Halloween) cho các trẻ em đường phố
và các trẻ em bị lạm dụng tình dục cũng như một buổi
hòa nhạc ngoài trời dành cho toàn bộ khu ngoại ô với nhiều
ban nhạc Rock tại Los Angles đến biểu diễn. Sáu tuần lễ
sau các cuộc bạo động xảy ra tại Los Angeles vào năm 1992
trung tâm thiền IBMC kết hợp với Hội Đồng Liên Tôn Giáo
miền nam California đã tổ chức một sự kiện gọi là "Nối
Vòng Tay Lớn Xuyên Los Angeles." Hai mươi ngàn người đứng
kề bên nhau dọc suốt mười dậm Đại Lộ Western cầm tay
nhau và biểu dương tinh thần hòa hợp chủng tộc và tôn giáo
là điều quan tâm chính tại Trung tâm IBMC trong nhiều năm qua.
(Trung Tâm IBMC nắm phần tổ chức và thực hiện sự kiện,
chủ yếu do con lớn của Karuna đứng ra điều động tổ chức).
Karuna
cũng nhận thấy đang có sự gia tăng của một số các chàng
đồng tình dục, đồng giới tuồn về trung tâm, rất có thể
là do kết quả xuất quân của hai thiền sinh lớp lớn: một
người hoạt động với nhóm đồng tính luyến ái nữ trên
Internet, còn người thứ hai đang lãnh đạo một nhóm đồng
tính luyến ái nam tại trung tâm. Bà cho biết, "tính chất tình
dục đồng giới không là vấn đề với chúng tôi,” một
chàng tình dục đồng giới đã được xuất gia đầy đủ
là một thiền sư Zen và hai người đàn ông và một phụ nữ
cũng đã được xuất gia là thiền sư đang được huấn luyện.
Mọi người ước ao đều có thể được xuất gia đầy đủ
làm thiền sư Zen.
Nhưng
"thay đổi lớn nhất,” theo Karuna chính là những thủ tục
xuất gia truyền thống tại trung tâm. Năm 1994, đã có một
"Cuộc Xuất gia Lớn" đầu tiên mời tất cả các Đại sư,
thiền sư thuộc tất cả các truyền thống đến tham dự.
Có ba mươi Đại Thiền sư đến tham dự lễ nghi, đại diện
cho các truyền phái Đại Thừa, Tiểu Thừa và Vajrayana và
các tu sĩ Pure Land cũng có mặt cộng với Đại Thiền sư Zen.
Hơn thế nữa, nam giới cũng như nữ giới đều cùng nhận
những trách nhiệm ngang nhau. Lần đầu tiên trong lịch sử
một nữ Đại sư (Karuna) dâng lời thề chung cuộc đại diện
cho cả nam và nữ tu sĩ.
Nghi
lễ mang đặc trưng “quốc tế thực sự”: được hướng
dẫn bằng tiếng Anh, sử dụng những hình thức xuất gia theo
truyền thống Việt Nam và kéo dài trong vòng ba giờ. Mỗi nhà
sư nhận áo cà-sa theo truyền thống riêng của mình nhận pháp
danh do thiền sư của mình ban tặng. Có hai mươi bảy nam nữ
thiền sinh được xuất gia ngày hôm đó. Ba năm sau vào tháng
11 năm 1997, một “Cuộc Xuất gia Lớn” thứ hai cũng được
tổ chức. Kết quả là có ba nữ thiền sinh theo trường phái
Đại Thừa từ Việt nam, Sri Lanka và Nepal nhận được xuất
gia chung cuộc, “một sự kiện chưa từng xảy ra tại đất
nước họ,” và tám thiền sinh phụ nữ Tây phương được
xuất gia theo truyền thống Tây tạng. Karuna hy vọng các chùa
khác cũng noi theo, xuất gia cho những người không chia ra các
trường phái riêng lẻ, nhưng xuất gia vào một cộng đồng
tu sĩ Phật giáo thống nhất.
Karuna
cảm thấy phải khẩn trương đào tạo một số thiền sinh
mới và trẻ. Đa số các thiền sinh của bà đều “quá lớn
tuổi để có thể điều hành trung tâm, một khi tôi phải
ra đi: họ thường đã ngoài bốn mươi, năm mươi hoặc giả
ngoài bảy mươi nữa. Tôi sắp bước sang tuổi sáu mươi năm
tới và cần mười năm để đào tạo một người có thể
điều hành và quản lý cũng như kiêm cả giảng dạy. Vấn
đề của tôi nằm tại chỗ đó.”
Nhưng
để làm một thiền sư tốt, hiện bà tin tưởng hơn bao giờ
hết đó là tùy thuộc vào vấn đề chúng ta sống ra sao. “hơn
là thực hiện những bài thuyết Pháp thật sáng giá." Tôi
nghĩ, công cuộc tại các nhà tù là phần chính công việc
thuyết pháp của bà hiện nay (hầu hết được thực hiện
thông qua máy tính) là một ví dụ điển hình. Karuna cho biết,
"Các tù nhân rất cần đến quan hệ với thế giới bên ngoài,
cách tiếp cận của họ rất trực tiếp, khẩn trương và
đôi khi rất mủi lòng. Đặc biệt đối với những người
còn phải ở tù trong nhiều năm nữa. Một số người trong
bọn họ có được trực giác rất tuyệt. Thoạt tiên bọn
họ sẽ chỉ viết vài chữ như: "Tôi chỉ là người khởi
sự học thiền. Tôi mới hiểu ra được là tôi đã gây ra
hầu như toàn bộ mọi vấn đề. Tôi thực sự không phải
là một người xấu. Tuy nhiên tôi đã phạm sai lầm. Hiện
giờ tôi muốn học chế ngự cuộc sống của tôi, để tìm
bình yên tại một chỗ chẳng có bình yên. Các bạn có thể
giúp tôi bằng cách gửi cho tôi một vài cuốn sách hay một
vài bản tin về Phật giáo không? Tôi xin cám ơn bạn vì đã
bỏ thời giờ ra đọc bức thư của tôi và tôi nóng lòng
chờ đợi hồi âm của bạn”
Đôi
khi, Karuna cảm thấy thật biết ơn vì đã thức dậy vào mỗi
buổi sáng. Đôi khi, "Tôi quá mệt mỏi và cũng muốn đi lòng
vòng để giết thời gian. Nhưng tôi không biết tìm đâu ra
thời gian."
-ooOoo-
[09]
Thiền
Sư Sharon Salzberg
Bạn
có thể nghĩ bà ấy còn quá trẻ.
Để
thốt lên được một tiếng từ bi,
Và
dùng đến lưỡi bạn thử nếm.
Để
giải thích thế nào là từ bỏ
Từ
trí khôn xuống đến tận xương tủy
Để
chỉ tụng một kinh bản Dukka
Và
tiếng nói phát ra tận tâm trí.
Với
đầu cạo trọc đến tận thịt da.
Nhưng
cái nhìn với vẻ mặt đầy ưu ái
Lọt
tới tận vòng cung má ửng hồng
Đó
đâu phải bà mẹ già Giotto?
Mà
Quan Âm mẹ Trung hoa đôn hậu.
--
Lenore Friedman
Thời
gian vào khoảng những năm bảy mươi và không gian là tại
Calcutta. Hai bạn trẻ người Mỹ đang rảo bộ giữa đám đông
trên đường phố bẩn thỉu dẫn đến nơi ở của vị thánh
tuyệt vời cũng là một thiền sư với tên gọi Dipa Ma. Họ
quay vào một lối đi chật hẹp lầy lội và băng qua một
đoạn đường đầy vũng nước mưa lầy lội tiến thẳng
tới một căn nhà họ đang tìm kiếm. Bước lên tới bốn
bậc thang họ thấy một căn phòng nhỏ trong đó Dipa Ma đang
sống với con gái. Căn phòng không được trang bị một thứ
gì, trừ một chiếc giường gỗ và một bức màn giăng vải,
đằng sau treo một vài bộ quần áo. Có rất nhiều phòng như
thế, chen chúc trong đó là nhiều gia đình sinh sống, có một
mảnh bao quanh và một chiếc bơm nước công cộng cũ kỹ.
Đầu kia của căn phòng là bếp ăn và phòng tắm cho cả gia
đình. Ngay trong khoảng không gian như thế, Dipa Ma đang ngồi
thiền yên lặng, phát ra một thứ ánh sáng kỳ ảo. Đôi khi
bà dùng cơm với khách, đôi khi trả lời những cuộc phỏng
vấn thông qua một người phiên dịch. Thường ngày, bà chỉ
ngồi đó, hoàn toàn an bình thanh thản. Sau một vài tiếng
đồng hồ, hai người Mỹ từ biệt bà trong lòng tràn ngập
một niềm hạnh phúc lạ lùng. Họ bước xuống mấy bậc
thang hẹp và bước vội vào những dãy phố xấu xí như thể
đang lọt vào một chốn thần tiên. Họ vượt qua những vũng
nước đọng và thấy nhiều người ăn xin và người cùi hủi
tắm dưới ánh nắng mặt trời.
Một
trong hai người Mỹ đó chính là Sharon Salzberg, bà còn rất
trẻ, chỉ vào khoảng mười chín vào thời điểm đó. Người
kia là Joseph Goldstein, người bà mới gặp không lâu trong khóa
huấn luyện thiền mười ngày với một thiền sư nổi tiếng
Đại sư S.N. Goenka. Joseph đã đến Ấn độ nhiều năm trước
Sharon Salzberg. Qua sự giới thiệu của thiền sư là Munindra,
họ gặp được Dipa Ma, bà đã là thiền sinh của ngài Munindra
trước đó. Dipa Ma luyện thiền hơi trễ, sau một loạt những
mất mát thua lỗ lớn và bà đã thực hiện những thay đổi
ngoạn mục sau nhiều khóa luyện thiền cao cấp. Sharon Salzberg
mô tả bà là một người "Hoàn toàn trống rỗng. Không hiện
thân một ai cả." Trong khi đó bà vẫn rất khỏe mạnh, với
"sức mạnh tựa như ánh sáng."
Sharon
Salzberg đã sống nhiều năm tại Ấn độ và Miến Điện,
bà đã học hỏi với một số thiền sư quan trọng kể cả
thiền sư vĩ đại người Tây Tạng Kalu Rinpoche, bà luôn đề
cập đến ông với lòng tôn kính và yêu thương. Nhưng dẫu
sao, Dipa Ma đã gây ấn tượng mạnh mẽ nhất trên cuộc đời
bà. Chỉ vì một điều tiên đoán Dipa Ma đã cho Sharon biết
một ngày nào đó: bà sẽ trở thành một nữ thiền sư nổi
tiếng và sai bà về nhà khởi động qui trình huấn luyện
thiền (ngay vào một thời điểm Sharon thấy khó chấp nhận
và chưa được sửa soạn) một trong những kết quả cho lời
tiên đoán chính là Trung tâm Insight Meditation Society được
thành lập vào năm 1975 do Joseph Goldstein, Sharon Salzberg và Jack
Kornffield sáng lập tại Barre, bang Massachusetts.
Chính
tại trung tâm này, lần đầu tiên tôi đã được vinh dự
phỏng vấn bà để xuất bản cuốn sách này vào mùa hè năm
1983. Tôi cũng đã nói chuyện với bà vài lần trước đó,
khi còn là thiền sinh tại một số các khóa huấn luyện Thiền
Minh Sát (Vipassana) do bà cùng tổ chức với Joseph. Hiện nay
tại Barre các khóa huấn luyện ba tháng hàng năm được tiến
hành đều đặn. Trung tâm đầy người (như thường xảy ra
vào thời điểm đó) và tôi được bố trí ở tại một phòng
thể dục được chia thành nhiều phòng và kê giường ngay
trên sàn. Ngoại trừ thời gian tiếp chuyện với Sharon, tôi
phải tham gia chương trình huấn luyện trong bốn ngày.
Trung
tâm IMS tọa lạc trong một dãy nhà gạch khổng lồ, một thời
là một Chủng Viện Công giáo, có rất nhiều tầng lầu và
nhiều cánh khiến cho người mới tới có thể bị lạc. Trong
suốt mùa đông tòa nhà rất khó sưởi ấm. Nhưng cho dù lúc
tôi lưu lại đó có tuyết rơi, nhưng thực sự khí hậu không
lạnh lắm. Tôi còn nhớ một cuộc đi dạo yên lặng tuyệt
vời qua những cánh rừng khẳng khiu, bước chân trên hàng
lớp lá khô muôn màu, có cả lá cây hình ngôi sao một mặt
màu đỏ còn mặt kia màu nâu thẫm.
Sharon
khám phá Phật giáo lần đầu tiên vào năm mười bảy tuổi,
nhờ đọc một cuốn sách của Chogyan Trungpa mang tựa đề
Sinh ở Tây Tạng (born in Tibet) và cuốn Thiền thực hành (Meditation
in Action). Bà là sinh viên năm nhất đại học Buffalo bắc Nữu
ước, do một loạt những biến cố bề ngoài coi như "tai nạn"
nhưng sau này bà coi đó như việc hé mở tuyệt vời nhất
cho cuộc đời bà. Hai năm sau đó bà sang Ấn độ vào tháng
mười năm 1970. Bà chưa bao giờ hành thiền trước kia, nhưng
bà dư biết mình muốn học thiền. Và rồi lại một biến
cố bất ngờ nữa, chính bà đã tham gia khóa huấn luyện mười
ngày với thiền sư Goenka tại New Delhi.
Điều
bà nhớ rất rõ những kinh nghiệm đầu tiên đó là rất trong
sáng, giải thoát khỏi mọi khổ đau. Phải mất đến bảy
tháng cố gắng không mệt mỏi bà mới có thể ngồi thiền
được một giờ. Tuy vậy quyết tâm của bà thật tuyệt vời.
Một khi đã nhập thiền bà không bao giờ do dự lúng túng.
Bà không bao giờ nghi ngờ hướng đi của mình (hiện nay bà
luôn nói là cho dù bà cũng đã có thời gian nghi ngờ và thắc
mắc về một vài điều thực hành đặc biệt nào đó. Nhưng
nếu hoàn toàn không nghi ngờ gì ngay từ lúc đầu, đôi khi
cũng là những trở ngại để đối phó với những thiền
sinh có vấn đề sau này.)
Sharon
đã trải qua nhiều mất mát và rối lọan ở vào thời điểm
đầu cuộc sống, Cha bà bỏ gia đình ra đi khi bà mới bốn
tuổi rưỡi. Mẹ bà mất khi bà lên chín tuổi. Cha có trở
lại nhà vào thời điểm đó, nhưng lại ra đi khi bà lên mười
một. Bà sang Ấn độ là do một thúc bách muốn tự giải
thoát khỏi đau khổ và mọi hậu quả. Quyết tâm của bà
cứ âm ỉ như ngọn lửa đưa bà vượt qua bất kỳ những
trở ngại nào. Nhất là những trở ngại thuộc thể lý. Khi
bà bị đau nghiêm trọng vì bệnh viêm gan và phải trở về
điều trị tại Hoa kỳ, bà chỉ lưu lại đó ít tuần rồi
sang Canada ở đó bà thực hiện một loạt những cuộc tĩnh
tâm với thiền sư Thiền Minh Sát Robert Hover. Và trở lại
Ấn độ khi có cơ hội sớm nhất. Lần này Bà lưu lại đó
một năm rưỡi.
Hiện
nay, nhớ lại mình quá ngây thơ vào những ngày đầu, bà rất
xúc động và buồn cười. "Tôi không nhận ra được giới
hạn của mình." Bà nói, "tôi chỉ hiểu theo nguyên văn. Tôi
không biết điều gì tôi có thể và không thể làm được.”
Khi ngài Munidra giải thích luyện thiền là ngồi cho tới khi
nhận thức được chân lý hoàn toàn, bà đơn giản ngồi thiền
và làm y như thế! "Tôi tỏ ra rất dễ dạy, thật quá đơn
giản tôi tiến hành ngồi thiền không thắc mắc gì cả."
Điều
đơn giản không có nghĩa là dễ dàng. Thí dụ như khi bà thọ
giáo với Kalu Rinpoche tại Darjeeling, bà đã leo lên hành thiền
trên đỉnh ngọn đồi trong một cái chòi chứa đầy khoai
tây không có mái che, cũng chẳng có cả tường chắn. Vào
mùa mưa chỉ che sơ sài bằng tấm nylon và nguồn nước duy
nhất là con suối ở tận chân đồi. Thức ăn thì giảm thiểu
tới mức chỉ còn một bữa mỗi ngày. Nhưng bà đã khám phá
ra và hiểu được ý nghĩa của việc từ bỏ và – do chính
Kalu truyền đạt – Bà hiểu được ý nghĩa của Bồ Tát.
Bà
học được ý nghĩa tình yêu trong sáng và tình yêu vô ngã.
Điều rõ ràng là Kalu không muốn điều gì ở bà cả. Ông
không nhận tiền và rõ ràng là không thuyết pháp nhằm thăng
tiến bản thân hay quyền lực. Cái gương “trong sạch tuyệt
trần” đó rất quan trọng trong việc phát triển trung tâm
thiền IMS (mà ngoại trừ một sự kiện nhỏ can dự đến
một thiền sư tại Ấn độ, đa phần không bao giờ bị gây
phiền hà do những chuyện tình cảm phá hoại như thường
xảy ra ở những nơi khác.)
Thứ
bảo vệ và tình yêu Goenka đã dành cho Sharon đã khiến bà
cảm thấy an toàn để nhìn thẳng vào những sự việc mà
bà chưa bao giờ để ý tới nơi bản thân. Bà bắt đầu đi
theo ông khắp nơi, tham dự từ khóa huấn luyện này tới khóa
huấn luyện khác trên khắp mọi miền đất nước Ấn độ.
Sau mười ngày yên lặng ngồi thiền tập trung căng thẳng,
đột nhiên bà thấy mình xuất hiện trên xe lửa ồn ào, đông
đúc và nghẹt thở trong vòng ba ngày, trên đường tới phía
tận cùng bên kia đất nước Ấn độ. Rồi họ còn đi đến
nhiều nơi khác nữa. Lúc nào cũng theo sát ông, tham dự những
khóa huấn luyện ba mươi ngày.
Đến
thời điểm này việc luyện tập của Sharon đã tiến tới
đáng kể. Bà đã áp dụng cho chính mình một cam kết của
một người có thể chết vào mỗi đêm. Với một quyết tâm
đến nỗi chỉ sau giây lát bà bắt đầu cảm thấy mình không
còn tự chủ được và bị vật vã. Thay vào động cơ thúc
đẩy lúc ban đầu là được giải thoát khỏi đau khổ, lúc
này bà đang cảm thấy mình đã hiểu được và tự ghét mình
muốn bảo vệ và lặp lại trạng thái tri thức, chỉ muốn
làm một điều gì đó hoặc là một người nào đó khác với
con người xưa của bà.
Thế
rồi, như thể đáp ứng nhu cầu của bà, xuất hiện ba ảnh
hưởng mạnh tới cuộc đời bà đã làm đảo lộn qui trình.
Ảnh hưởng đầu tiên là từ cuốn sách Tư tưởng Phật giáo
Thiền định tư tưởng những người mới nhập thiền (Zen
Mind, Beginner’s Mind) của tác giả Shunryu Suzuki bà đọc lần
đầu tiên tại Ấn độ. Một cách rất nhẹ nhàng đã đánh
động và dẫn bà vào tới ý thức là bản ngã không phải
là điều gì bà phải bận tâm loại bỏ: bản ngã không bao
giờ bắt đầu tồn tại! Bà nhận ra trong mỗi giây phút bà
chưa bao giờ đồng nhất với bản ngã đó. Bà luôn được
tự do. Việc luyện tập của bà trở nên nhẹ nhàng hơn.
Rồi,
một thời gian ngắn sau đó trên chuyến đi Miến điện. Sharon
gặp một nữ thiền sư tên là Sayama, tại một trung tâm chính
Goenka cũng đã theo học trước đó. Goenka đã gọi vị nữ
thiền sư này như "Bà Mẹ Sayama" và Sharon hy vọng sẽ gặp
được một vị thánh. Thay vào đó bà chỉ thấy một người
phụ nữ đeo bông tai hột soàn, vòng kiềng vàng, mặc đồ
tơ lụa thêu kim tuyến và thêm cả trang điểm. “Thực sự
bà tỏ ra hết sức tự nhiên" Sharon nói, bà cũng thuộc loại
đua đòi và còn ra vẻ chọc ghẹo và chế giễu người khác,
khi Sharon bị bệnh nặng và cảm thấy buồn cho chính bản
thân mình, Bà Sayama đã lạnh lùng nhận xét: "Kinh nghiệm bệnh
tật của bà đã là sự sửa soạn tuyệt vời cho cái chết."
Biến
cố thứ ba là cuộc gặp gỡ với Dipa Ma, như đã đề cập
đến ở đầu chương này, Sharon đã mô tả với tôi là "Tột
đỉnh của sự tìm kiếm tình yêu hoàn hảo,"
Bằng
nhiều cách khác nhau, cả Dipa Ma và Munindra đều đặc biệt
đã giúp cho bà nới lỏng dần sự gắn bó vào trạng thái
tập trung tư tưởng quá sâu đậm và tĩnh lặng bà đang đạt
được (Sharon hiện nay cảm thấy đó là mối nguy thực sự
của một kiểu tĩnh tâm). Dipa Ma đã thuyết pháp bằng chính
con người của bà – một biểu hiện hoàn hảo cho thực thể
thống nhất và toàn khối. Còn Munindra chỉ đơn giản bảo
là "Ô nào, tiếp tục đi nào, hãy đi sắm hàng đi.”
Khi
chúng tôi đàm đạo với nhau tại Barre, Sharon đã bày tỏ
quan tâm đến một số giảm sút có thể xảy ra khi truyền
đạt Phật pháp vào Hoa kỳ. "Đôi khi tôi có cơn ác mộng
này," bà cho biết, "một khi chúng ta quyết định chỉ vì lợi
ích đến nền văn hóa nước Mỹ mà không đề cập đến
Giác ngộ nữa - vì hiện nay tại Mỹ người ta đã tỏ ra
quá thực dụng và ganh đua - vì cả trăm năm nay chúng ta không
thấy cớ từ đó trong cuốn tự điển của chúng ta. Đương
nhiên điều đó là phóng đại quá đáng. Chúng ta có bổn
phận ngăn chặn những gì tương tự như vậy xuất hiện.
Tôi còn nhớ có một số điều chúng ta được chỉ giáo cho
biết tại Ấn độ, thoạt tiên đã không làm chúng ta hài
lòng – như cần cố gắng bao nhiêu là đủ để luyện thiền.
Đó là một thách thức thực sự vì chúng ta kỳ vọng thiền
sẽ làm hài lòng chúng ta ngay tức khắc là điều nhiều người
chúng ta thường ấp ủ bấy lâu nay.”
Như
tôi đã nói, "Giác ngộ và cố gắng, cả hai đều chứa đầy
nghịch lý,” bà có cố gắng đạt được điều đó không?
Hay chỉ muốn loại bỏ toàn bộ qui trình đó?”
"Đó
là một nghịch lý, chính vì thế nên rất tuyệt vời. Giác
ngộ đâu phải là điều này hay điều nọ đâu.”
"Rất
có thể đó là điều quan trọng cần được truyền tải.”
"Tôi
nghĩ, thật đúng vậy, đó là điều tối quan trọng cần phải
được truyền đạt. Và cũng đúng nếu nó thách thức con
người chúng ta. Khi chúng tôi thuyết pháp tại khóa huấn luyện
dành cho các bậc cha mẹ lần đầu tiên, có một số người
hơi buồn không biết con cái họ đang làm gì ở nhà. Và có
người cho là chúng ta thì đang làm điều vô bổ tại đây.
Chúng tôi quyết định thỏa mãn định kiến giả định đó
của họ ngay và tôi nhớ Joseph đã thuyết pháp thay vì về
chân lý "vô - ngã" ông đã nói về hình ảnh vô thực của
bản thân mỗi người. Chúng tôi châm thêm nước! điều thật
sự hấp dẫn là họ không cần đến điều đó – nếu bạn
đã sống khá lâu rồi và đã trải qua nhiều đau khổ, các
bạn đâu có cần biết sự thật đó trở nên ngọt ngào.
Một số trong họ thông minh tuyệt vời."
"Thế
nên bà đã bỏ qua không tìm cách "thỏa mãn" họ?"
"Vâng"
"Tuyệt
thật, điều đó như trò bịp bợm."
"Tôi
thật sự cảm thấy lo lắng, đôi khi chúng ta là những thiền
sư, đang phải trải qua những cuộc phấn đấu cam go, lại
muốn bỏ qua cho những người khác không phải trải qua những
giai đoạn đó. Nhưng tất cả những sự việc đó đều tồn
tại theo cách riêng. Và mỗi người chúng ta phải kiếm cách
phấn đấu tùy vào điều kiện của mỗi người. Nếu tôi
được gặp Dipa Ma ngay từ đầu, rất có thể sẽ không xảy
ra cùng một va chạm như thế. Tôi phải trải qua tất cả
những ảo tưởng đó, tất cả những lẫn lộn đó liên can
đến điều tôi đang thực hiện. Thế mà tôi còn muốn nói
cho mọi người, "Ô, đừng làm điều đó, bạn không cần
làm điều đó, tôi đã làm rồi!" Tôi cố gắng xoay sở một
chút để mọi sự được ổn thỏa. Nhưng có một qui trình
cân bằng hình như sẽ xảy ra và thực sự bạn không thể
nào bỏ qua những đau khổ của chúng sanh”.
Tôi
đề nghị Sharon xem chúng ta có thể dành riêng cuộc phỏng
vấn về điểm đó, vì một số vấn đề nổi lên có liên
quan đến kinh nghiệm của tôi cả trong mấy tuần qua lẫn
một vài ngày hành thiền tôi vừa trải qua tại đây. Bà đồng
ý chấp thuận.
Lenore:
Một trong những điều đang biến đổi trong tôi đó là cảm
nhận: chẳng có gì có thể ngăn cản tôi được, tôi có thể
tùy ý muốn tiến tới đến cỡ nào cũng được và tôi muốn
đi trọn đoạn đường đã định. Trong quá khứ tôi đã cảm
thấy không nhất thiết như thế – điều đó thật đáng
ngạc nhiên - tôi phải biết thỏa mãn với những điều nhỏ
mọn. Ý muốn nói tôi đã thỏa mãn với những kinh nghiệm
nhỏ nhoi cho tôi biết điều gì là thực tế và điều tôi
nói với thế giới bên ngoài. Nhưng hiện nay còn có ước
muốn sâu xa - vâng một ước muốn và tôi không thể ngăn
chặn lại được – tức là muốn biết điều gì cơ bản
là thực nhất. Bên trong mọi sự, còn có gì tồn tại không?
Và ngồi thiền tại đây, tôi đang để ý tới rất nhiều
nghị lực trong ngày và sự tập trung tư tưởng của tôi thật
là lắng đọng. Lại còn tạo ra một thứ căng thẳng có liên
quan đến cố gắng và mong muốn – và tôi tự biết mình
và không biết hành động ra sao. Rất có thể bà sẽ bảo,
"nhìn kìa, nhưng đó có phải là tất cả hay không?
Sharon:
Trước tiên, thật là khủng khiếp nếu bạn không kiềm chế
điều này. Khi Dipa Ma cho tôi biết là tôi có thể trở thành
một thiền sư vĩ đại, bà chỉ có đề cập đến một điều
duy nhất nhằm cản tôi không có thể suy nghĩ tôi có thể
thực hiện được điều đó. Tuy nhiên hầu hết các phức
tạp xảy đến với bạn lại xuất phát từ khuynh hướng
nhị nguyên, đó là điều tôi cũng bị vướng phải. Gắng
công sức để tháo gỡ điều đó có thể trở thành khuynh
hướng nhị nguyên khác, hơn là nhận ra được sự hư vô
đích thực của nó. Nếu bạn nhận ra được điều khác biệt,
thì nó sẽ ảnh hưởng đến bạn. Nếu bạn cảm thấy căm
ghét những gắng công sức đó, chúng ta sẽ rơi vào một tình
trạng hỗn loạn gấp đôi vì chúng ta vừa cố công lại vừa
chán ghét làm vậy.
Lenore:
Lại rơi vào nghịch lý trở lại rồi có phải không? Tôi
cần phải học hỏi đối phó ra sao với vấn đề này. Rõ
ràng là nó tiềm ẩn nơi tất cả mọi vấn đề. Ý tôi muốn
nói là nếu không muốn được giác ngộ thử hỏi bạn còn
làm gì được nữa? Và tuy thế bạn cũng có thể giả định
là không muốn được giác ngộ. Vâng, thế thì làm sao có
thể ước muốn mà lại không dính mắc. Điều đó có giúp
gì được không?
Sharon:
Vâng, có chứ. Có một vài điểm cần lưu ý. Đầu tiên chúng
ta phải hiểu là tại phương Tây mình thường làm gì khi nghe
pháp diệt dục nơi Phật giáo, thường được cho là nguyên
nhân mọi đau khổ và kết quả là đưa ra một số phán đoán:
dính bén là xấu và sai, là xấu xa và tồi bại – thay vì
coi đó như là nguyên nhân của mọi đau khổ. Vì chúng ta hay
phán đoán, chúng ta không thể nhìn ra được diệt dục chính
là thủ tiêu một gánh nặng. Cũng giống như cái sức nặng
đang đè bẹp chúng ta và gây ra đau khổ cho ta. Đó là điều
đầu tiên tôi suy nghĩ.
Tôi
nghĩ bạn có lý, đó chỉ là vấn đề học tập làm sao để
muốn mà không dính bén. Không tạo ra một cách tự phán quyết
mình xoay quanh vấn đề dính bén hay không. Nếu bạn nhận
ra điều đó – thì sự gắng công và phấn đấu của bạn
có thể đem lại cho bạn nghị lực mới ngay lúc đó. Và chúng
ta cứ phải tiếp tục thực hiện điều đó liên tục.
Lenore:
Tôi có thể làm được một nửa, nhưng chỉ ít phút sau tôi
cảm thấy thật khủng khiếp.
Sharon:
Tôi nghĩ lý do là điều nghịch lý đó vượt quá sự hiểu
biết của chúng ta là vì nó quá đơn giản – điều đó cứ
tái diễn hoài trước chúng ta mọi giây mọi phút thay vì cố
gắng giải quyết trên một bình diện nhận thức và tâm lý.
Hãy tận dụng nghị lực đó cho ngay giây phút hiện tại này
và cố gắng tích lũy.
Lenore:
Vậy thì chỉ cần ý thức được qui trình đó...trong mỗi
người là đủ?
Sharon:
Chỉ cần vậy thôi.
Lenore:
Thật khó tin quá.
Sharon:
Tôi biết, tôi dư biết thật là khó tin, nhưng lại là sự
thật. Điều chúng ta thường làm là tự trừng phạt mình.
Khởi đầu mọi vấn đề chúng ta chỉ thấy những gì hiển
nhiên – như ghen ghét, sân hận...
Lenore:
Cả ghen tuông nữa.
Sharon:
Vâng chính thế, dần dà chúng ta nhận ra được những gì
khá hơn, giống như cố gắng hoặc là tham vọng cũng như ganh
đua. Nhưng khuynh hướng đó vẫn là một. Đó là phán đoán
và củng cố tối đa cho những phán đoán đó. Chẳng có liên
quan gì tới xử lý và bỏ qua mọi sự. Không có nhiều cố
gắng bỏ ra để thực hiện thái độ đó. Cơ bản là chúng
ta luôn tìm tòi học hỏi để thực hiện mọi sự nhưng lại
không thực hiện tốt, rất tốt những điều đó.
Ít
lâu sau đó, một vấn đề đã được đề cập đến trong
buổi nói chuyện về Phật pháp lại nổi lên đó là: Việc
tái đầu thai. Mặc dù đã được nghe cắt nghĩa hàng trăm
lần, tôi vẫn thấy thắc mắc: Nếu bản ngã không tiếp tục
tồn tại sau khi chết, thế thì làm sao còn có thể đầu thai
được. Sharon đồng ý đây là một vấn đề khó tin. Bà hỏi
tôi: còn có điều gì hiện vẫn tồn tại nơi tôi giống y
những gì hồi tôi lên sáu không. Tôi trả lời là tôi không
biết. Bà nói, Phật pháp dạy không có gì giống nhau cả.
Chẳng có bản thể lẫn thực thể nào đã chuyển đổi từ
thời gian đó đến nay. Nhưng đã tồn tại một sự liên tục
nào đó nơi qui trình này. Thời điểm này ảnh hưởng đến
thời điểm kế tiếp và lại ảnh hưởng đến thời điểm
kế tiếp sau đó. Chẳng có gì là ngẫu nhiên hoặc bừa bãi.
Luôn tồn tại một sự liên tục "không có bất kỳ sinh vật
nào bị ngắt quãng qua thời gian". Và điều này cũng đúng
với cả cái chết thể lý nữa. Giống y hệt chúng ta đang
được tái sinh hàng giờ hàng phút, một sự biến đổi liên
tục cũng như thế luôn hiện hữu đó là tái đầu thai.
Tôi
gợi ý, "một dòng chảy chất liệu tiếp diễn liên tục,"
"Na
ná như vậy"
"Còn
gì chưa rõ không?"
"Từ
chất liệu hơi có vẻ..."
"Ô,
vâng, tương tự như bản chất. Có một dòng" (hoặc một dòng
chảy - tôi nghĩ ra rồi.)
"Đúng
đó, tương tự như trồng một hạt táo và ta được một
cây táo mọc lên có nhiều trái táo với những hạt táo mới
không phải là chính hạt táo chúng ta đã trồng lúc đầu.
Nhưng có một sự liên tục. Joseph đã dùng hình ảnh cái triện
và chất sáp. Cái triện để lại một dấu ấn trên sáp,
nhưng chẳng có cái triện nào còn trên sáp cả.."
"Vâng,
thôi tạm gác vấn đề này lại," Tôi nói, "còn Quả báo (Karma)
vẫn là một vấn đề rất khó khăn đối với tôi.”
"Hãy
đề cập đến vấn đề đó xem sao.”
"Đó
là đau khổ, đau khổ thuần túy đó tôi không chể chấp nhận
điều đó. Cho dù chúng ta có đề cập rất nhiều đến cuộc
sống đã qua hay nguyên nhân và hậu quả gì đó, tôi vẫn
chưa thoải mái. Tôi vẫn gặp trục trặc ở phía đối diện,
đó là sự tàn nhẫn. Nếu nghiệp chướng có thật, thì nó
sẽ tạo ra những hậu quả và lại tiếp tục ảnh hưởng
đến những gì sau đó. Nhưng cho dù có cố gắng cách mấy
để hiểu được bức tranh toàn khối, hình như tôi không
thể nắm được”.
"Đó
là điều rất phức tạp. Chính Đức Phật đã bảo suy nghĩ
quá nhiều về nghiệp chướng sẽ làm cho bạn u mê một chút
là gì."
"Bà
có nghĩ là với khối óc bình thường chúng ta thực sự không
thể hiểu được tận căn vấn đề hay không.”
"Ô,
vâng, tôi nghĩ điều đó có thật đấy.”
"Vậy
bà có thể bình thản với điều bất khả dò xét đó hay
sao?”
"Xét
dưới góc độ tri thức tôi có thể hành động như vậy.
Nhưng với trực giác tôi có thể cảm nhận được sự thật
trong đó. Khi tôi tham muốn, căm ghét, tôi cảm thấy đấy
chứ. Cảm nhận nó đã tạo ra một bầu khí đặc biệt tôi
có thể nhận ra được. Và nó phóng ra một thứ sinh lực
có khả năng thu hút một số sinh lực khác. Một điều gì
đó được tạo ra tại thời điểm đó lại có được một
số yếu tố chấn động và bằng trí tuệ tôi cảm nhận
được điều gì đang được tạo thành. Vì thế tôi nhận
biết được tôi đã sáng tạo toàn bộ thế giới của tôi
ra sao."
"Toàn
bộ hay sao?"
"Vâng,
không phải điều tôi có thể kiểm tra được những gì không
thích thú xảy ra. Nhưng là toàn bộ mối tương quan của tôi
với điều đó.”
"Tôi
biết nhiều người tin rằng tất cả những gì ta có được,
là do chúng ta tạo ra. Nhưng kinh nghiệm của tôi cho thấy không
đơn giản như thế. Luôn có nhiều điều khác tiếp tục xuất
hiện. Nếu như có được một mô hình to lớn, thì luôn có
sai sót trong đó. Bà hiểu ý tôi không?"
"Vâng,
với tri thức tôi không tin có thể hiểu được. Nhưng trực
giác nhắc bảo tôi mọi sự không phải ngẫu nhiên mà có,
rằng tôi đã sản sinh ra một loại năng lực nào đó và rồi
năng lực đó sẽ phản hồi lại nơi tôi. Tôi đã hiểu điều
đó. Giữa những khốn khổ, hận thù hoặc tham muốn tôi thấy
có quả báo ngay trong đau khổ trực tiếp do những hành động
đang tạo ra dựa trên những hiện trạng đó. khi tôi đang
trong giai đoạn thi thố lòng quảng đại, tôi cảm thấy hài
lòng và sung sướng vô cùng. Luật quả báo thể hiện ở chỗ
nếu bạn thi thố lòng quảng đại, bạn sẽ nhận lại rất
nhiều (cho đi là nhận lại). Nhưng không thành vấn đề, vì
điều gì xảy ra chính là đã có quá nhiều không gian tạo
thành nó. Bất cứ điều gì tôi có được, tôi cảm thấy
như đã đủ. Trong khi đó thì bạn thiếu thốn, thì chẳng
có gì là đủ cả. Thế nên tôi hiểu được vấn đề theo
nghĩa ở mỗi thời điểm hiện thực của nó. Một loại trực
giác về nghiệp chướng (quả báo).”
Trước
khi rời Barre, tôi đã trao đổi với hai người trong ban quản
trị tại đó về việc Sharon trở thành thiền sư gây ra cho
họ những ấn tượng gì, người đầu tiên phụ trách bảo
tàng viện trước khi trở thành người điều hành văn phòng
tại IMS. Làm việc với Sharon là một phần quan trọng trong
việc luyện thiền của bà, từ khi bà bắt đầu hành thiền
vào năm 1977. Và bà cho biết, thực chất Sharon là một phụ
nữ là điều vô cùng quan trọng, bà ta đánh giá cao cung cách
Sharon kết hợp được tính từ tốn, lòng nhân hậu và với
sức mạnh tri thức, lòng trong sáng và tính nghiêm túc trong
luyện tập. Cách bà điều hành thiền viện rất dễ mến,
với nhân cách rất chan hòa. Tính dễ dãi và sẵn sàng chấp
nhận khiến mọi vấn đề đều được giải quyết ổn thỏa
và tạo cho mọi sự có cơ may trở thành hiện thực. "Bà không
bao giờ xiết dây quá chặt".