4.
Thiền Sư Charlotte Joko Beck
5.
Thiền Sư Ruth Dension
6.
Thiền Sư Bobby Rhodes
7.
Thiền Sư Jiyu Kennett
[04]
Thiền
Sư Charlotte Joko Beck
Một
thân hình phụ nữ
đầu
xuống tóc.
Nàng
ngồi đó vẫn ngồi yên đó.
Một
nụ cười không hé nửa đôi môi
Lưng
cúi gập, đầu ngẩng cao, bàn tay chụm lại
Đầu
nghiêng nghiêng miệng cầu khẩn lâm râm
Rồi
bừng tỉnh khi cây gậy đụng tới
Ghi
mãi vào tận đáy cõi lòng
Mắt
chim ưng hướng nhìn tứ phía
Không
động đậy chả bỏ lỡ vật chi
(cơn
gió nhẹ khẽ lay động lông chim
xào
xạc lá cây rừng trong đêm tối)
cú
nhào lao vút, vồ chặt chuột nhắt.
Chú
nai tơ rỉ máu tận rừng sâu
gã
thợ săn quay gót trở về nhà
một
phòng nhỏ trên lầu
hai
nệm thiền trên sàn đặt ngay ngắn
chúng
tôi vái, trò chuyện trong ánh sáng chói chang
Bà
ra lệnh, hãy hiện diện cùng thân thể.
Không
gì được thấy cũng không gì được biết
Trà
đựng trong khay gốm pha hầu.
Mọi
trang điểm tự biến đâu mất cả, như lọn tóc nhẹ rơi.
--
Lenore Friedman
Giữa
đống ảnh chụp các trung tâm hành thiền Phật giáo và các
thiền sư tại vùng bờ Tây (West Coast), tôi nhận ra một tấm
ảnh khiến tôi phải thắc mắc. Có những tấm chụp các thiền
sinh đang ngồi hành thiền nghiêm túc thành từng hàng quay mặt
vào tường. Lưng thẳng đứng và vẻ mặt nghiêm trang. Có
những bức chân dung treo trong vườn và trước bàn thờ, cho
thấy những chiếc áo cà sa dùng trong các nghi thức được
cắt may rất công phu. Có cả những cảnh hết sức trái ngược
nhau: các nhà sư đang giặt quần áo bên ngoài, một hình Đức
Phật bằng gỗ mỉm cười thật nhân từ tay cầm chiếc bình
chất tẩy rửa nguồn vui. Và rồi lại một bức hình kỳ
quặc: chụp một phụ nữ từ đầu gối trở lên, rất có
thể bà là người hàng xóm hay bà dì của ai đó, đứng giữa
đường phố ngoại ô bình thường, với xe cộ, nhà cửa trải
dài phía sau. Có lẽ ai đó đã để lộn bức ảnh vào xấp
hình? Tôi ngạc nhiên nhìn gương mặt người phụ nữ trong
ảnh. Bất chợt tôi nhận ra và hiểu ngay. Joko đó! Trông bà
rất khác so với lần cuối cùng tôi được gặp bà: bà vẫn
thường mặc áo cà sa đen và đầu cạo nhẵn bóng. Lúc này
tôi thật khâm phục người thợ chụp ảnh đã có được
tấm ảnh con người thật, con người đời thường của Joko.
Với điều bình thường tuyệt đối trần trụi, Joko đã là
hiện thân tính chất thiền định “không có gì đặc biệt”
Bà chỉ đơn giản thể hiện tại chỗ nơi từng giây phút
hiện tại.
Tại
căn phố ngoại ô bình dị đó, trong một căn nhà ở ngoại
ô cũng rất bình thường, những hoạt động của trung tâm
Thiền định San Diego đang diễn ra– ngồi thiền, đi rước,
tụng kinh, vái lạy, giảng Phật pháp, các cuộc huấn luyện
hành thiền hàng tháng diễn ra trong yên tĩnh, không ồn ào.
Tôi đã tham dự một cuộc huấn luyện cuối tuần vào một
buổi sáng rất sớm trước khi mặt trời mọc, cuộc rước
thành hàng dài đã yên lặng dạo qua cổng hậu, vòng quanh
nhà, tiến vào khu phố tối om và rồi đánh một vòng quanh
toàn bộ khu phố còn đang chìm sâu trong giấc ngủ, chẳng
có điều gì lạ xảy ra, hoàn toàn đơn giản hoàn toàn bình
thường – cuộc bách bộ hành thiền của chúng tôi trông
tựa như một giấc mộng đẹp.
Trong
giờ làm việc, trong khi tôi nhồi những chiếc nệm thiền
với bông gòn, Joko rảo bước ngang qua, bà mặc áo màu xanh
nhạt và một chiếc váy. (trong giờ hành thiền và đàm đạo
riêng tư với thiền sinh bà bận váy dài và áo bờ-lu) bà
không còn mặc áo cà sa kiểu Nhật Bản từ tháng Mười Hai
năm 1984. Chi tiết này là "một phần thử nghiệm liên tục
xem những khía cạnh khác nhau trong luyện tập hành thiền hình
thức có hỗ trợ chúng ta thêm tỉnh táo hơn hay chỉ là thói
quen bình thường thôi." Điều này đã được giải thích trong
tờ liên lạc trung tâm Zen phát hành. Khi tôi gặp bà nói chuyện
khoảng một năm sau, bà cho biết, "việc bãi bỏ mặc áo cà
sa đã gặp trở ngại. Không phải tất cả đều ủng hộ.
Chiếc áo cà sa trông rất đẹp trong giờ hành thiền. Nó tạo
ra một số phẩm cách nào đó khi có nhiều người hành thiền
trong bộ áo cà sa. Nhưng thật hơi kỳ quặc một chút nếu
ta đi ra giữa phố trong chiếc áo choàng cổ lỗ sĩ không giống
ai như thế."
Về
việc cạo đầu bà cho biết: "Tôi không quan tâm mấy đến
việc cạo đầu hay không cạo đầu. Đối với tôi điều
đó không có gì khác biệt cả. Nhưng tôi rất bận rộn, tôi
thường phải đi siêu thị thường xuyên. Tôi rất ghét phải
đội khăn che đầu mỗi khi ra khỏi nhà, coi không giống ai.
Tại sao tôi lại phải làm thế? Nhưng theo tôi nghĩ đó cũng
là một việc huấn luyện quan trọng nếu ta thử cạo đầu
trong vòng một năm. Nhưng tôi không nghĩ chúng ta phải tiếp
tục duy trì điều đó...
Joko
luôn đả phá các thiền sinh có ý định tách biệt hay coi
bà cao hơn họ. Bà nói với tôi. "Tôi chỉ là một thiền sinh,
giống hệt các bạn," bà luôn có một cái thảm thiền nhỏ
đặc biệt màu nâu được phủ lên tấm vải màu đen, đó
là dấu chỉ bà là thiền sư. Đôi khi bà không ngồi vào chỗ
dành cho thiền sư. "Tôi chỉ tới ngồi thiền đâu đó mặt
quay vào tường". Bà đả phá tất cả những cố gắng biến
bà thành người hùng. "Người ta thường tỏ ra mình có uy
nhờ vào nhân vật nào đó,” Bà cho biết, "Nhưng tôi không
chấp nhận điều đó,” Đôi khi bà nghĩ nếu có thiền sinh
nào cứ muốn tỏ ra hơn hẳn người khác tốt hơn nên rời
khỏi thiền viện và đi chỗ nào đó một thời gian. Đôi
khi bà phải thốt lên, "Coi kìa các bạn đã gán cho tôi đủ
thứ trên đời và các bạn không hiểu tôi chút nào cả. Điều
đó đâu có lợi lộc gì cho các bạn, tốt hơn hãy loại bỏ
những suy nghĩ đó đi”.
Bà
không có ý muốn nói thiền sư không được có một số quyền
hạn nhất định nào đó, nhưng bà phân biệt rõ ràng quyền
hạn khác với chủ trương tạo quyền lực. Duy trì quyền
lực, bà đã cố gắng loại bỏ phẩm trật. "Tôi luôn cố
gắng loại bỏ những kiểu vái nho nhỏ đặc biệt dành cho
tôi. Lịch sự xã giao là một chuyện tốt, nhưng kiểu vái
phục một con người coi người đó quá cao siêu vượt trội
là điều không hay chút nào. Tôi đang cố gắng dẹp bỏ tư
tưởng coi thiền sư như một siêu nhân. Thiền sư là người
hướng dẫn chứ không phải là một nhân vật phù phép hay
anh hùng."
Trong
các nghi thức hành thiền, Joko chỉ chủ trì trong những dịp
đặc biệt. Bằng không, chẳng có ai đứng ra lãnh đạo. Đơn
giản tất cả mọi người đều tham gia như nhau không người
nào hơn người nào cả. Tất cả những chức vụ trong giờ
hành thiền, như người giữ giờ và rung chuông, được cắt
cử luân phiên. Những thiền sinh lớn tuổi được động viên
không nên tỏ ra nổi bật. Và nếu có thiền sinh nào chủ
trương không lộ diện như một dấu chỉ đạt đến thành
công, Joko muốn cho họ biết chắc chắn điều đó sai hoàn
toàn.
Một
buổi cuối tuần tôi đến San Diego, trong buổi tiếp chính
thức và sau đó trong cuộc phỏng vấn không chính thức, Joko
đã đề cập đến một số điểm cần nhấn mạnh về những
lệch lạc có thể xảy ra trong việc hành Thiền. Bà nói với
tôi, "Chúng ta quá chú trọng đến việc khám phá ra những
gì tuyệt đối, theo tôi nghĩ toan tính đó còn quá ngây thơ
và thiếu trưởng thành. Ngay cả khi họ chủ tâm như vậy,
họ chưa ý thức được làm như vậy có dụng ý gì. Và một
số người đã gây ra bất bình nghiêm trọng." Suy nghĩ đầu
tiên bà nhắm tới là một sự phát triển trưởng thành mới
khả dĩ đem lại thành công mỹ mãn. Bà cho biết, "Một khi
trí tuệ loại bỏ dần được những dính bén (dục) thường
ngày, tự nhiên cái gọi là tập trung tư tưởng (định: Samadhi)
sẽ tăng dần. Và dưới một vài góc độ nào đó, đó chính
là điểm “mở màn" . Nhưng đó không phải mục đích nhắm
tới – đó chỉ là tự nhiên diễn ra một khi sự tập luyện
của chúng ta đã đạt đến trưởng thành; và sau khi điều
đó xảy ra. chúng ta quay trở lại để làm việc ngay với
vấn đề cơ bản.”
Và
vấn đề cơ bản chúng ta đang xử lý bằng luyện tập thiền
định chính là sự dính bén. Thực vậy toàn bộ cuộc sống
chúng ta chẳng là gì khác hơn là dính bén. Đó chính là phần
đất dụng võ của bản ngã và Joko tin tưởng là luyện tập
đơn giản chỉ là thường xuyên trở lại với những hành
động thường nhật của chúng ta và đặt câu hỏi, “Điều
gì thực sự đang diễn ra ở đây? Làm sao chúng ta có thể
nhìn ra vấn đề đây? Chúng ta phải đối phó thế nào đây?
Chúng ta gắn bó vào đâu?” Ranh giới giữa loại nỗ lực
này và tâm lý trị liệu không mấy rõ ràng. Nhưng sự khác
biệt chỉ rõ ràng khi chúng ta hành thiền nghiêm túc. Và đó
chính là sự biến đổi thực sự nơi quan điểm của chúng
ta về thân phận mình thực sự như thế nào. Có điều tế
nhị và khả năng để nhận ra điều gì tạo thành một "sân
chơi hoàn toàn khác biệt như vậy." Và đến thời điểm nào
đó khi mà bề dầy và cường độ của qui trình không còn
cách chữa trị.
Nhưng
Joko ít khi đề cập đến kinh nghiệm giác ngộ.. “nếu bạn
đề ra Định (Samadhi) là mục đích, bạn có thể đạt đến
một tình trạng hư vô (emptiness) nhưng đó không phải là trống
rỗng đích thực và bản ngã, con người không thực sự trống
rỗng. Nếu trong cuộc sống hàng ngày bạn lợi dụng người
khác, hay dùng mánh khóe lôi kéo họ, hay chỉ quan tâm đến
quyền lực (sức mạnh) của chính bạn, thì Định – có thể
phát triển một cách giả tạo – theo tôi suy nghĩ, Không phải
là Định đích thực.”
"Bạn
có thể đạt đến Định và gắn bó vào đó, tôi nghĩ thế,
“
"Bà
trả lời, "Ồ, đương nhiên rồi, đa số chúng ta đều gắn
bó với Định (Samadhi) của riêng mình! Định tương tự như
là khả năng thể dục của bạn. Và người ta thường tận
dụng Định để tránh đau khổ.”
"Bà
chuyển từ đau khổ sang Định có phải không?”
"Vâng,
không những thế, nhưng giả dụ bạn có được sức mạnh
giả tạo của Định, bạn có thể duy trì nó trong ngày và
xem ra rất tốt trong trường hợp bạn không có căng thẳng.
Nhưng khi căng thẳng xuất hiện thì Định xem ra rất mỏng
manh dễ tan biến. Hình như là điều rất có lợi là trước
tiên bạn nên nắm bắt được toàn bộ những khái niệm bạn
có được về cuộc sống của bạn. Tất cả những gắn bó
đặc biệt. Từ cách thức luyện tập như thế vào đúng thời
điểm thì Định đích thực và hiểu biết thấu đáo sẽ
xuất hiện.”
"Thế
rồi còn tùy từng người, sự hình thức luyện tập cũng
rất khác biệt có phải không?"
"Đúng.
Khi thuyết pháp tôi không nói nhiều. Khi có người đến bàn
chuyện với tôi (daisen), tôi thường đặt câu hỏi, “Thế
hôm nay bạn đang suy nghĩ gì vậy? Bạn muốn nói gì nào? và
khi họ bắt đầu nói ra, tôi lắng nghe những diễn biến đang
xảy ra. Và rồi tôi nắm được: “Bạn nghe rõ những gì
bạn vừa mới nói không? Bạn có thể nói thêm một chút về
điều này không? Và rồi chúng ta bắt đầu mổ xẻ vấn đề.”
Tôi
hỏi bà học được cách thuyết pháp này ở đâu vậy. “Từ
nhiều năm tiếp kiến với nhiều người. Hết năm này qua
năm khác. Bạn không thể thuyết giảng cho người khác biết
điều này là gì? – cần phải có thời gian. Và tôi không
nghĩ là hoàn tất được tất cả koans (Công thức thuyết
giảng) mang nhiều ý nghĩa đâu. Dẫu sao điều đó được
coi như là một chứng nhận cho nghề thuyết pháp của bạn."
Thế
còn Mu thì sao? Một số thiền sư coi đó như là một koan bạn
cần phải đạt được.”
"Tôi
có một số thiền sinh tham gia cho tôi biết koan của họ chính
là Mu, nhưng thường họ cảm thấy điều ấy chỉ là một
suy nghĩ trừu tượng không liên quan gì đến cuộc sống cả.
Mu chỉ đơn giản là chính cuộc sống ngay tại đây và trong
lúc này. Nếu bạn cảm thấy buồn về đứa con của bạn,
đó chính là Mu; khi bạn thử nghiệm điều đó chính là bạn
đang thử nghiệm Mu vậy. Điều đó chẳng ở đâu xa. Nhưng
theo cách thực hiện cổ điển, khi nhận koan, thiền sinh chỉ
có ý tưởng ngồi hành thiền với mầu nhiệm (bí hiểm) này.
Khi thiền sinh vật lộn và chiến đấu với koan, anh ta hành
trình xuyên suốt tất cả các vấn đề của chính bản thân
để thử giải quyết chúng. Và đối với một số người,
điều này tiến triển tốt đẹp. Nhưng dần dà tôi nghe được
nhiều câu chuyện về những thiền viện xa xưa, tôi nghi ngờ.
Đôi khi họ có tới cả ngàn vị sư. Và bạn có thể đã
nghe một vài người đã thành công. Nhưng họ đâu có cho bạn
biết còn chín trăm chín mươi chín người khác. Tôi chắc
chắn một điều là phần đa trong số họ không biết họ
đang làm gì trên trần gian này."
"Vậy
nên không còn thích hợp nữa hay sao?"
"Tôi
nghi điều đó lắm, trừ một số ít trường hợp. Nhiều
vị sư đi rồi đến mà chẳng biết mình đang làm điều gì.
Nhưng chúng ta đâu có biết điều đó. Hiện giờ, các thiền
sinh của tôi cũng phải qua Mu, nhưng một số lớn chẳng bao
giờ nghe biết đến từ đó. nếu như sự luyện tập của
họ là chân thực và nghiêm túc. Một chừng mực nào đó chỉ
cần nắm rõ ý nghĩa cuộc đời là đủ. ‘Ôi, chỉ có vậy
sao! Nếu Tuệ đã trở nên trống rỗng và yên tịnh – chắc
chắn, có điều đó. Đương nhiên chẳng còn gì khác hơn là
Mu ở đây. Nhưng tôi nhận thấy là nhiều người chưa sẵn
sàng hay tỏ ra quan tâm hay có khả năng đối phó với bản
chất của thực tại tối hậu này, điều đó chính hệ tại
ở bản chất của họ, đương nhiên. Còn rất nhiều việc
cần được tiến hành điều tra nghiêm túc vấn đề này.
"Vậy
nên tôi suy nghĩ chúng ta phải thuyết pháp một cách thích
hợp cho từng cá nhân một. Tôi vừa mới quan tâm đến các
thiền sinh có những khó khăn nghiêm trọng, thường được
gọi là các thiền sinh ‘mạnh’. Nếu bất kỳ cuộc sống
nào cũng được thay đổi đôi chút, trở nên trơn tru và cân
bằng hơn – ‘thực tế" hơn. Đó là điều làm tôi rất
hài lòng. Vậy nên đối với mỗi thiền sinh đến với tôi,
tôi chỉ cần nhìn ngắm, lắng nghe họ và cảm nhận điều
gì đang diễn ra ở họ. Và rồi tôi giải quyết vấn đề
đó. Đôi khi mọi việc diễn ra suông sẻ, đôi khi khá phức
tạp, điều đó tùy vào từng thiền sinh. Bạn phải trở thành
một "khoảng trắng" và rồi bạn sẽ thích ứng với điều
này... điều này... rồi điều này".
"Về
phía bà hoàn toàn không có một mánh khóe nào, phải không?"
"Ô,
tuyệt đối là không."
Joko
đã ở tuổi bốn mươi, trước đó bà chưa bao giờ nghe nói
tới thiền định. Cũng giống như Maurine và Roshi Kennett, bà
đã chơi dương cầm trong nhiều năm. Bà tốt nghiệp về âm
nhạc tại nhạc viện Obelin Conservatory of Music. Bà đã lập
gia đình được mười ba năm và cuối cùng đã ly dị sau hai
lần chồng bà bị suy nhược thần kinh. Bà đã có bốn đứa
con, tuổi chúng từ một đến mười hai. Gia đình bà đã sống
ở bờ phía Đông cho đến nay, vừa mới đây bà di chuyển
đến bang Connecticut và Michigan. Sau đó Joko có được một
giấy ủy nhiệm dạy học và rồi họ di chuyển đến California,
ở đó bà trợ giúp cho gia đình một thời gian bằng lương
dạy học. Nhưng chẳng bao lâu sự việc trở nên tồi tệ
vì bà phải nuôi dậy tới bốn đứa con tại gia đình. Vậy
nên bà tự học đánh máy chữ và làm thư ký tại Convair và
sau này là trợ lý hành chánh tại đại học California tại
thành phố San Diego, trước tiên tại khoa âm nhạc và sau đó
tại khoa hóa học, bà đã làm việc tại đây nhiều năm.
Vào
một buổi chiều năm 1965, gần như tình cờ bà và một người
bạn tạt vào Nhà thờ Unitarian tại San Diego, tại đó họ
được nghe một bài diễn thuyết do một nhà sư Phật giáo
thực hiện, "chúng tôi bị lôi vào và vị sư này vái chào
mỗi người khi họ bước vào. Và tôi đã bị nhà sư cuốn
hút nhưng không hiểu là điều gì. Cử tọa có mặt rất nhiều
nhà trí thức. Và họ cố gắng làm cho ông lúng túng bằng
những câu hỏi triết lý trừu tượng. Nhà sư trả lời cho
họ tất cả các câu hỏi một cách rất lễ độ và tuyệt
vời. Ông ta thực sự rất hạnh phúc. Tha hồ cho những vị
triết gia dổm này hỏi vặn ông đủ thứ. Nhưng ông không
bao giờ bí cả. Theo tôi nghĩ nhà sư rất bình tĩnh. Thật
tuyệt vời, tôi chưa hề gặp ai như thế bao giờ." Tại chỗ
làm việc tôi phải đối phó với một số người thông minh
nhất tại vùng Bờ Tây này (West Coast). Nhưng không một ai
trong bọn họ lại có thể bình thản đến như vậy!” Hóa
ra nhà sư là Đại Sư Maezumi Roshi (có dạo tên là Sensei) đến
từ trung tâm Thiền Los Angeles. Và đó là lý do tại sao Joko
nhảy vào học thiền.
Đã
có hai nhân vật đến ngồi thiền tại San Diego vào thời điểm
đó và thêm Joko nữa là người thứ ba. Cứ khoảng độ một
tháng hoặc hơn thiền sư Maezumi lại từ Los Angeles đến đây
để giúp một nhóm nhỏ hành thiền. Và khoảng độ hai lần
trong một năm bà lại sang Los Angeles. Cũng đã có những cuộc
tập luyện thiền tại vùng bắc California vào những năm sáu
mươi do thiền sư Yasutani Roshi từ Nhật Bản đến. Điều
này gây một ấn tượng mạnh nơi bản thân Joko. Rồi sau đó
Soen Roshi đến đây trong vòng một năm và bà đã trải qua
koan Mu với thiền sư này. Phản hồi của bà về kinh nghiệm
này tựa như ném cái gì đó vào thiền sư Soen Roschi.
Bà
cho biết, "Hiện giờ điều này xem ra hơi lạ đối với tôi,
nhưng thời đó tôi đã bực tức thật sự. Nếu như có những
trường hợp tương tự xảy ra." Ít lâu sau đó, bà bắt đầu
nghiên cứu về koans với thiền sư Maesumi Roshi tại Los Angeles.
Trong năm năm Joko đi đi về về giữa San Diego và Los Angeles
để nghiên cứu "koans" và bà cũng đã tham dự rất nhiều
khóa học thiền. Đến năm 1970 bà quyết định về hưu sớm
và di chuyển về Los Angeles. Con gái út của bà, Brenda hiện
đang sống ở đó và cũng theo học thiền tại UCLA Brenda nơi
bà đã bắt đầu hành thiền trước đó ít lâu, hiện nay
con gái và mẹ sống chung với nhau tại Trung Tâm Thiền Los
Angeles (ZCLA.)
Hình
như ngay từ đầu, nhiều thiền sinh đã bắt đầu tìm kiếm
Joko. Họ bị lôi cuốn do sự trưởng thành và lòng sẵn sàng
giúp đỡ, kể cả kinh nghiệm đời thường và sự thông minh
nhanh nhẹn của bà. Ngày càng có nhiều người hẹn đến gặp
bà để thảo luận nhiều vấn đề trong cuộc sống và trong
thực tế. Khi tôi đến thăm Joko lần đầu tiên tại Trung
Tâm Thiền Los Angeles (ZCLA) vào mùa hè năm 1982 các thiền sinh
của bà nói cho tôi biết về bà với cảm xúc rất tốt. Đôi
khi có người còn rớt nước mắt vì cảm động.
Một
thiền sinh trong nhóm nói, "Bạn sẽ cảm nhận được nơi Joko
một khoảng không gian hoàn hảo, cởi mở và trống rỗng".
Trong khi tiếp xúc bà không bao giờ cục cằn, bà thường đi
ngay vào vấn đề, như mũi tên bay, phản hồi chính xác ngay
lập tức. Mọi người đều tôn trọng những kinh nghiệm quá
khứ của bà. Họ đã rõ Joko quá khổ sở trong quá khứ, coi
như bà lúc nào cũng đầy lòng nhân ái. Vì bà đã phải phấn
đấu với chính bản thân, bà tỏ ra rất dễ dàng tiếp cận,
họ nói với tôi. Tuy vậy không một kẻ thủ đoạn nào có
thể qua nổi mắt bà được. “Bạn không thể đánh lừa
được Joko,” Bà am tường tất cả các mánh khóe trên đời
này, kể cả những gì chúng ta lừa dối chính mình. Trí thông
minh tự nhiên và tri giác thấu suốt của bà đã khiến cho
người ta phải gọi bà là "người vĩ đại, vĩ đại.”
Joko
là một "thiền sư giảng Phật pháp một cách miễn cưỡng"
một thiền sinh khác nhận xét. Làm như thể bà bị thúc ép.
Nhưng bà luôn thuyết pháp rất tự nhiên. lúc nào cũng có
nhiều người vây quanh bà, lòng mẫn cán và chăm chỉ của
bà như dòng truyền cảm để mọi người đào sâu việc luyện
thiền. Một ngày nọ đại sư quyết định thuyết pháp không
chính thức của bà phải được chấp nhận vào cơ cấu chính
thức được giảng trong phòng hành thiền. Nhưng khi Đại sư
ra lệnh “Thực hiện đi,” thì hình như bà được kéo lên
bàn thờ. Khi bà được cạo đầu, người ta cho tôi hay, Joko
đã như người cải lão hoàn sanh. Và vài nét nhận dạng cố
định của bà cũng bị xóa sạch..
Những
từ cứ được lặp đi lặp lại như “cắt”, “thâm nhập”,
“quay vòng vòng" đã được dùng để mô tả cách thức Joko
chấp nhận và lật đổ những hệ thống tín ngưỡng. Người
ta nói cho tôi biết là với một lời phát biểu đơn giản
nhất bà "lật nhào bạn dễ như chơi" với văn phong chắc
nịch chỉ làm tăng thêm sức mạnh "lưỡi kiếm giết người"
(Tuệ prajna) của bà. Nhưng mặt khác bà luôn tỏ ra từ bi
vô hạn.
Năm
1978 Joko đã trở thành người thừa kế Phật pháp thứ ba
của Đại sư Meazumi Roshi. Bà cho tôi hay "Nhưng bạn đừng
nghĩ việc truyền bá Phật pháp là điều gì thần bí ma thuật,".
Điều đó chỉ đơn giản nghĩa là đến một thời điểm
nào đó thiền sư cảm thấy rằng hiểu biết của mình và
thiền sinh của ông đã ngang bằng nhau, bà nói "đó là chuyện
nhỏ người ta thường hay lợi dụng điều đó, như nghĩ là
trời sẽ mở ra hay những điều đại loại như vậy. Nhưng
thật sự đó chỉ mang ý nghĩa là từ nay thiền sinh coi như
đã sẵn sàng giúp đỡ người khác khai thông những vấn đề
cơ bản trong cuộc sống và khi chết."
Tuy
nhiên ngày qua ngày, Joko thấy chính mình luôn đặt lại vấn
đề liên quan đến những phương pháp truyền Phật pháp truyền
thống. Bà rất tò mò, thích thú tìm tòi và khám phá ra cách
thức các thiền sư Phật giáo, các truyền thống khác cũng
như các kỷ luật được áp dụng kể cả tâm lý và phân
tâm nữa. Bà đang cố gắng tìm xem tất cả các thứ đó đan
quyện, thâm nhập và bổ sung cho nhau như thế nào. Trong khi
đó nhiều thiền sinh cảm thấy “rối tung lên" khiến cho
bà phải bồn chồn. Bà bắt đầu nghi ngờ cách huấn luyện
thiền định cổ điển – chỉ vận dụng tập trung vào Tuệ
đơn thuần – không còn mấy tác dụng. Mà còn gây hại cho
một số thiền sinh là đàng khác. Huấn luyện đã tạo khả
năng cho họ lẩn tránh những vấn đề trong cuộc sống là
điều cần được nhấn mạnh.
Theo
ý kiến của Joko, huấn luyện là thực sự phải muốn hiện
diện ở bất kỳ nơi nào, bất kỳ thời điểm nào. Huấn
luyện phải thể hiện nơi thân xác, thể hiện nơi những
cảm xúc thể lý là điều hiện lên rồi lại biến mất.
Tỷ dụ như, thế nào là tức giận? Dẹp bỏ tư tưởng và
hình ảnh trí tuệ sang một bên, bà cho biết, cái còn lại
chỉ toàn là giác quan thuần túy được thâm nhập vào thân
xác chúng ta. Hãy kinh nghiệm thử coi, bạn sợ hay sao? Hãy
thử rút kinh nghiệm xem sao."
Joko
nói, tất cả những cảm xúc của ta là luyện tập và giải
quyết những cảm xúc ấy là điều vô cùng thiết yếu. Tự
bản thân cảm xúc là điều tốt, nhưng khi chúng ta bám vào
nội dung tư tưởng, chúng lại làm lu mờ cuộc sống thực
tế. "Chính đó là điều làm cho mọi người bế tắc. Hãy
vạch ra xem ai là người không bị bế tắc nào. Bạn có biết
người nào không? Mọi người đều bị cảm xúc của mình
mê hoặc là bởi vì chúng ta thường suy nghĩ chúng ta là ai?
Chúng ta sợ rằng nếu gỡ bỏ mất những gắn bó vào cảm
xúc, chúng ta sẽ chẳng là gì cả nữa. Chúng ta là như vậy
đó,” Câu hỏi đặt ra là liệu bộ não chỉ huy thân xác
hay thân xác chỉ huy bộ não? Khi nào bộ não chỉ huy thân
xác chúng ta cảm thấy lo âu và căng thẳng. Khi nào thân xác
chỉ huy bộ não thì mọi sự sẽ êm đẹp hơn. Luyện tập
chầm chậm sẽ cho chuyển động cỗ máy của chúng ta.
Hành
thiền dạy chúng ta hãy tận dụng giây phút hiện tại, hãy
kiên trì với giây phút hiện tại. "Khi bạn phiêu du vào vùng
tư tưởng vào hy vọng và mơ tưởng, hãy quay trở lại ngay.
Không phải một lần mà một ngàn lần nếu cần, một triệu
lần nếu cần nữa, chính lòng kiên nhẫn sẽ làm điều đó
và lòng can đảm, đó chính là cuộc sống của đấng Bồ
tát.”
Kiên
nhẫn và tự nguyện khó lòng chiến thắng. Điều cuối cùng
chúng ta muốn đạt được chính là hãy thể hiện được
con người đích thực của chúng ta. Thế là sự thật về
cuộc đời đã trốn chạy khỏi chúng ta. Joko nhấn mạnh,
Tất cả chúng ta, (kể cả Joko nữa) đã phạm sai lầm khi
loại bỏ cuộc sống hiện thực, ngay tại đây và lúc này.
Và chính điều này dẫn đến lo âu cơ bản nhất thường
xuyên xuất hiện nơi cuộc sống chúng ta.
Bà
hối thúc chúng ta, "Ngay lúc này hãy thể hiện con người thật
của các bạn. Mỗi người chúng ta là một viên ngọc quý.
Làm thế nào để cho viên ngọc đó tỏa sáng? Chỉ cần thể
hiện cuộc sống của ta ra sao ngay giây phút hiện tại này:
Đó chính là viên ngọc quý. Đó cũng chính là Niết Bàn.
Không
phải khúc dạo đầu này thay đổi, hoặc đề cập đến những
trồi sụt trong cuộc sống, cách tốt nhất ảnh hưởng mạnh
đến những biến đổi chính là thể hiện trọn vẹn hiện
trạng thực tế chúng ta, chính xác như hiện có. Tầm nhìn
của chúng ta có thể làm rõ và chúng ta biết rất rõ phải
làm gì." Bà cho biết, cứ mỗi lần chúng ta làm như vậy,
mỗi lần chúng ta thâm nhập vào nỗi khổ của chúng ta và
để cho nó thể hiện ra. Thì chúng ta sẽ mở rộng tầm nhìn.
Để cho mọi sự diễn ra chính là không dính bén. Đó chính
là toàn bộ ý nghĩa việc luyện tập của chúng ta. Cũng tương
tự như leo lên ngọn núi. Một khi chúng ta lên cao chúng ta
quan sát được nhiều hơn. Và càng quan sát nhiều bao nhiêu
– tầm nhìn của chúng ta càng rõ hơn – chúng ta càng hiểu
biết nhiều hơn mình phải làm gì. Cả dưới góc độ cá
nhân cũng như trên bình diện hoạt động xã hội.
Bà
cho biết, "Được tiếp chuyện với rất nhiều người, vấn
đề chính tôi nhận thấy là họ không hiểu đau khổ là thế
nào, đương nhiên cả tôi cũng vậy. Cũng như mọi người
tôi cố gắng tránh đau khổ.” Nhưng trong buổi nói chuyện
vào năm 1983 trong khóa luyện thiền Yasutani Roshi Memorial, bà
đã phân biệt rõ đau khổ thứ thiệt và đau khổ giả tạo.
Bà cho biết, "Đau khổ giả tạo là khi chúng ta cảm thấy
"bị ức chế" tựa như đau khổ phát xuất từ bên ngoài.
Đau khổ thứ thiệt giống hệt như chịu đựng (như là "mang
lấy" ) nó. Không chống lại nó nhưng thu hút và đồng nhất
với đau khổ.
"Đương
nhiên bạn cũng giống tôi thôi, chúng ta sẽ tránh đau khổ
càng nhanh càng tốt - Bởi lẽ thuyết pháp về khổ luyện
là một nhẽ, còn thực hiện lại là một điều không phải
dễ. Ấy vậy cứ mỗi khi chúng ta tập luyện như thế. Chúng
ta biết được ngay trong tâm can, chúng ta là ai và thiên hạ
là loại người nào và bức rào chắn giữa chúng ta và người
khác được gỡ bỏ.”
Trí
tuệ tạo ra đau khổ giả tạo hiện hữu liên tục trong ngồi
hành thiền "Không một ai trong chúng ta thoát được. Tối hôm
qua ngay trước lúc khóa hành thiền khai mạc, tôi đã nhận
ra điều đó trong chính tôi. Tôi nghe tiếng phàn nàn trong tôi,
‘Lại một khóa luyện thiền khác nữa? Bạn vừa thực hiện
hành thiền cuối tuần rồi sao!’ trí tuệ chúng ta hoạt động
như thế đó, rồi nghe những lời vô nghĩa đó, chúng ta nhắc
nhở nhau, ‘Thực sự tôi muốn gì cho bản thân và cho người
khác nào? Rồi trí tuệ ta dịu dần xuống." Một cách kiên
trì chúng ta trở lại với thực tại duy nhất: giây phút hiện
tại này. Rồi điểm hội tụ và Định (Samadhi) của chúng
ta sâu đậm hơn. “Thế nên trong việc hành thiền, sự từ
bỏ con người bồ tát lại chính là việc tu luyện đó. Việc
quay lưng lại những tưởng tượng cá nhân, những mơ tưởng
tiến vào một thực trạng hiện tại. Và cũng do hành thiền,
mỗi giây phút chúng ta tu luyện như thế sẽ đem lại cho chúng
ta những điều chúng ta không thể có được bằng những cách
khác. Đó là hiểu biết chính mình. Rồi chúng ta sẽ trực
tiếp đối mặt với giây phút hiện tại. Chúng ta đang đối
mặt với đau khổ. Và một khi chúng ta thực sự muốn thâm
nhập vào đó, chỉ cần ta thực sự trở thành con người
thực tại, rồi chúng ta sẽ biết được và không cần có
ai mách bảo chúng ta đang là gì, mọi sự khác là gì."
Gần
hai năm sau, ở tại San Diego vào tháng Giêng năm 1985 Joko đã
trình bày một bài thuyết trình nói về việc Đánh Giá Cuộc
Sống Thông Qua Loại Bỏ Hy Vọng. Bà nói: "Quá khủng khiếp
phải không bạn?" Nhưng một cuộc sống không có hy vọng thì
thật bình thản, tươi vui và đầy nhân ái. “Bất kể ai
ngồi hành thiền trong bất kể một giai đoạn thời gian nào
đều nhận ra rằng sẽ chẳng có quá khứ, không còn hiện
tại và cũng chẳng có tương lai mà chỉ còn trí tuệ chúng
ta mà thôi. Chẳng còn điều gì ngoài bản ngã ra. Và bản
ngã luôn hiện diện tại đây ngay lúc này. Không bị che giấu.
Chúng ta đang chạy đôn chạy đáo khắp nơi như người điên,
cố tìm kiếm điều gì đó là bản ngã, một điều bí ẩn,
bản ngã bị che khuất. Bản ngã bị che khuất ở đâu? Chúng
ta hy vọng có được điều gì đó có thể chăm sóc cho bản
ngã nhỏ mọn của chúng ta bởi vì chúng ta không ý thức được
chính chúng ta đang là bản ngã của chính mình. Chẳng có điều
gì quanh ta lại không phải là bản ngã. Chúng ta đang tìm kiếm
điều chi vậy?”
Điều
nghịch lý là ở chỗ chúng ta đang sở hữu toàn bộ đau khổ,
niềm vui, trách nhiệm và kinh nghiệm cuộc sống chúng ta ra
sao? - nếu chúng ta nắm được toàn bộ sự việc – chúng
ta là người tự do. Chúng ta không cần hy vọng, không cần
điều gì nữa. Nhưng một khi chúng ta sống trong hy vọng và
mơ màng, sự ngạc nhiên về con người đàn ông hoặc đàn
bà (bình thường, không hấp dẫn) ngồi cạnh chúng ta sẽ
chạy trốn chúng ta. Hy vọng điều gì "đặc biệt”, chúng
ta sẽ không thể đánh giá được nhiệm mầu của cuộc sống
đích thực.
Luyện
thiền thực sự không liên quan gì tới hy vọng và tưởng
tượng. "Chúng ta đang nhắc lại một lần nữa là hành thiền
chính là giác ngộ" tại sao vậy? Là vì khi chúng ta ngồi thiền
hết phút này sang phút khác, chính là điều đó (That’s it)
nếu chúng ta thực sự tu luyện như thế, thiền sẽ ảnh hưởng
đến tất cả những gì bạn có. Chúng ta sẽ thoát ra như
thế nào? Đương nhiên câu trả lời sẽ là chẳng- có gì-
hết. Vậy nên đừng hy vọng. Bạn sẽ chẳng được gì. Bạn
sẽ làm chủ cuộc sống của bạn, tuy nhiên bạn đã làm được
điều đó rồi mà. Cuộc sống này là Niết Bàn. Thế bạn
nghĩ Niết Bàn ở đâu?”
Joko
còn nhắc nhở chúng ta kinh nghiệm trực tiếp đời sống chính
là kinh nghiệm những cảm giác thể lý của chúng ta. Chúng
ta càng chú ý đến cảm giác bao nhiêu thay vì chú ý tới quy
trình suy tư (nghĩ về kinh nghiệm, phân tích, lo lắng về nó)
thì những kỳ vọng của chúng ta sẽ co lại, teo lại, khô
đi như lá khô héo đi và rụng xuống." Thế rồi một cuộc
sống mới xuất hiện, không có gì thêm vào đó. giây phút
này nối tiếp giây phút khác, chúng ta để cho cuộc sống
thể hiện cách riêng của nó. "Không mơ tưởng, không kịch
tính, hoàn toàn bình thường." Bản chất cơ bản của chúng
ta "là thế đó.”
Vào
mùa hè năm 1983, Joko chính thức rời bỏ ZCLA để nhận lãnh
trách nhiệm tại thiền viện San Diego. Một tập thể tu trì
(Tăng Già) đông đảo đã lớn mạnh từ bộ ba tiên khởi
bắt đầu hành thiền tại đó vào giữa những năm sáu mươi.
Người bạn đời và trợ lý lâu năm Elizabeth Hamilton đã đi
qua lại hàng năm trời giữa San Diego và Los Angeles làm công
tác chuẩn bị và tổ chức.
Thoạt
đầu, Joko thực hiện nhiệm vụ tại San Diego cũng giống như
tại Los Angeles. Bà biết đã có những thay đổi như bà mong
muốn thực hiện. Nhưng qui trình thay đổi mới là quan trọng
và bà không muốn vội vã trong việc này. Ngay cả trước khi
di chuyển, bà phải công nhận là thiền định tại Phương
Tây phải có thay đổi.” Nhưng không được thực hiện quá
nhanh” bà đã cho biết như vậy trong cuộc phỏng vấn lần
đầu tiên. "Một số nghi thức truyền thống chỉ đơn giản
là hình thức vô nghĩa mà thôi. Chúng phát triển chỉ vì ý
tốt. Là hình thức tại phòng thiền. Tỷ dụ như - tính nghiêm
khắc - cũng nhắm đạt tới một công việc nào đó. nếu
bạn tỏ ra quá vô tình việc hành thiền sẽ mất tính nghiêm
túc. Bạn không thể cho rằng tất cả truyền thống đều
“xấu” chỉ vì chúng xem ra có vẻ kỳ quặc. Bạn không
thể cạn tàu ráo máng như thế được. Nếu bạn xem thử
và nói: "dẹp hết đi “bạn sắp bị rắc rối rồi đó.
Tỷ dụ như tôi luôn cảm thấy kinh ngạc khi nhận thấy những
biến đổi xảy ra nơi những người hành thiền trong một
giai đoạn dài; họ rất cởi mở, chân tình hơn vào cuối
khóa học thiền. Vậy mà một số sinh hoạt mang đậm tính
truyền thống đã có nhiều ảnh hưởng trong việc chuyển
biến này. Tuy nhiên một vài cách thức hành thiền theo truyền
thống cần được bỏ đi hay thay đổi. Nhưng chúng ta phải
rất cẩn thận ngay cả tôi là người không chuộng hình thức
lắm. Tôi đã lượng định giá trị việc tập luyện thiền
truyền thống tôi đã kinh qua và những cách thức có thể
giúp chúng ta".
Tại
Los Angeles bà đã bắt đầu thuyết pháp cách khác so với truyền
thống. Bà đã sử dụng cách tiếp cận rộng rãi hơn với
các thiền sinh. "Một người không thể nhìn vào chính mình
được cho tới khi nào họ đã trở thành khá mạnh mẽ để
làm điều đó. Để tăng thêm sức mạnh này tôi có thể dùng
một số kỹ thuật Thiền Minh Sát (vipassana,) hay cả những
kỹ thuật thiền định cổ điển (kể cả koans) và rất nhiều
cách tiếp cận khác, tùy thuộc vào nhu cầu của thiền sinh.
Đó là cách thức tôi lượng định cách thuyết pháp hiện
nay. Rất có thể tôi sẽ còn thay đổi nhiều.
Tháng
Hai năm 1984, Joko đã khai trương một loạt những cuộc hội
họp tại trung tâm thiền viện San Diego. Mang tên "Hành Thiền
Tại Hoa Kỳ Sẽ Như Thế Nào?" tất cả mọi người (đặc
biệt cả những người đã hành thiền được hơn một năm.)
đều được yêu cầu có một cái nhìn "rộng rãi và cẩn
thận về cách hành thiền của chúng ta – khảo sát và vấn
nạn mọi thứ, từ cách ăn mặc cho tới cách ngồi thiền.
Không có gì là thần thánh" cuộc họp rất phấn khởi và
sinh động đặc biệt vào lúc đầu. Nhưng chẳng bao lâu sau
mọi sự đã rõ ràng là khoảng một nửa số người có mặt
muốn giữ lại toàn bộ những gì truyền thống để lại.
Và một nửa còn lại muốn tiến hành đổi mới. “và câu
trả lời duy nhất cho câu hỏi là: tôi có thể thực hiện
điều gì tôi muốn."
Joko
cười vang. Chúng tôi đang ngồi tại căn phòng của bà ngay
cạnh phòng thiền, sau buổi hành thiền. Hiện thời là tháng
Hai năm 1985. Hơi khôi hài một chút bà nói: "Chẳng phải truyền
thống, cũng không phải đổi mới là điểm cần quan tâm.
Điều phục vụ đắc lực nhất cho cuộc sống là gì? Mọi
thay đổi đều phải bắt nguồn từ những cân nhắc đó”.
Một
thay đổi thấy rõ là những cử chỉ vái lạy trịnh trọng
lúc hành thiền đã bị loại bỏ. Thật vậy, có tới ba lần
đứng để vái đơn giản. Joko cho biết bà sẽ thực hiện
mỗi tháng một thay đổi! Thay đổi kế tiếp sẽ là thay bức
tượng Phật trên bàn thờ bằng một hòn đá chưa đẽo hao
hao giống tượng Phật. “Đá có sự sống, dẫu sao đó chính
là điều bàn thờ tượng trưng, bất kỳ điều gì cũng có
thể thay đổi nếu như điều đó giúp làm tốt việc luyện
tập. Nếu bạn xuống San Diego trở lại, bạn sẽ thấy nhiều
điều đã đổi khác, có thể vẫn còn dáng dấp truyền thống,
nhưng tôi nghi không phải như vậy."
Sau
này bà còn cho biết, "Tôi thắc mắc đủ thứ. Lúc này tôi
không có ý định làm bất kỳ điều gì nhưng tôi luôn thắc
mắc tại sao lại phải chấp nhận bất kỳ hình thức nào
trong hành thiền như là những điều thánh (sacrosanct). Tôi
muốn chú tâm đến mọi sự. Điều tôi làm là suy nghĩ, cảm
nhận và thay đổi. Tôi không thấy có gì thánh thiện về
bất kỳ điều gì ở đây cả. Tôi vừa thực hiện một khóa
học thiền tại Nữu Ứơc và thoạt tiên tôi rất kinh ngạc
vì không có cách nào để dọn bữa cho quá đông người như
thế, mọi người đã ra nhà hàng gần đó và dùng bữa. Và
điều đó thật là tuyệt vời.! Họ thực sự vẫn giữ yên
lặng. Thế nên tôi nghiệm ra là mọi sự đều có thể chú
tâm tới được.
"Khóa
học thiền sau cùng tại đây, chúng tôi kết thúc bằng cuộc
rước (kinhin) dọc theo bờ biển. Chúng tôi đi xe tới bãi
biển và rồi thả bộ trong yên lặng dọc theo bãi biển trong
vòng một giờ, trở lại phòng thiền để tụng kinh Heart Sutra
và điều đó thật là tuyệt. Bạn có thể tưởng tượng,
sau mỗi khóa thiền lại được nghe tiếng đại dương gầm
thét trong vòng một giờ! Vậy ai bảo các bạn là phải làm
những gì đặc biệt nào? Tôi đang suy nghĩ các bạn không
phải làm bất kỳ điều gì đặc biệt cả.”
Tuy
nhiên, cái gì cũng có giới hạn của nó, chúng ta đang nghĩ
tới những thay đổi có liên quan đến hình thức hành thiền
hay là chính cách hành thiền đây. Tất cả mọi thay đổi
phải dựa trên sự hiểu biết tường tận về điều đang
được thực hiện. “Bằng không bạn sẽ trở thành trò hề.
Chúng ta không nên làm hào nhoáng qua việc hành thiền của
chúng ta. Việc hành thiền chẳng bao giờ được coi như là
một trò hề. Ngồi thiền là điều nghiêm túc. Và ngoại trừ
tất cả những gì tôi đã đề cập, ở đây vẫn phải là
một trung tâm hành thiền."
Nhưng
vấn đề luyện thiền không được dùng đến phẩm trật,
nghi lễ hoặc áo cà sa như là một phương tiện mà dính bén
với bản ngã. Không may, Joko cảm thấy nơi rất nhiều phòng
hành thiền hình ảnh thực của bản ngã hoạt động đã lộ
nguyên hình (người ta cố gắng tỏ ra mình là quan trọng,
ganh đua nhau để chiếm lấy vị thế cao) và nhiều thiền
sư lại đầu tư rất nhiều để có được quyền lực, uy
thế và chức vụ họ nắm giữ. Nói cách khác, điều tập
luyện đích thực dạy chúng ta phải nhắm tới (ie. Bản ngã
hoạt động) đang bị thúc bách một cách mù quáng.
"Hình
như bản chất nhân loại chúng ta là muốn tận dụng bất
kỳ điều gì có lợi (như lễ nghi,) và rồi biến nó thành
vững vàng và cứng nhắc. Chính là khi chúng ta pha trộn bản
ngã sự vững vàng và cứng nhắc lẫn lộn với nhau thì lúc
đó vấn đề nổi lên. Nhưng nếu điều gì đó giống như
nghi lễ đã trở nên cứng nhắc, chúng ta lại chống lại
sự xơ cứng đó cho đến khi nào có được một điều gì
đó cởi mở và trơn tru hơn. Tất cả mọi sự trong cuộc
sống đều trôi bồng bềnh từ cực này sang cực khác –
không có gì rắc rối cả. Tôi muốn có một cơ cấu cởi
mở, không lệ thuộc vào hình thức hơn cho một trung tâm,
vì con người đó là khuynh hướng của tôi và khó khăn có
thể xuất phát từ khuynh hướng đó. Nhưng đó lại là bản
chất cuộc sống: phải đối phó với “Vấn đề gì chúng
ta gặp vào lúc này? Điều gì có thể làm được lúc này?
Tại
trung tâm thiền San Diego có những cuộc họp để trao đổi
thông tin, cũng có những cuộc họp ban điều hành rất cởi
mở và có cả công khai tài chánh. Không có gì che dấu cả.
Luôn luôn có thời gian để nêu thắc mắc và giải quyết
vấn đề sau bài nói chuyện được diễn ra tại trung tâm
và một thời gian thảo luận cởi mở vào buổi hành thiền
buổi tối ngày thứ tư. Trung tâm ấn định như vậy để
Joko có thể không thực thi quyền thiền sư trong vòng năm phút.
Toàn bộ ban điều hành có thể kêu gọi, triệu tập phiên
họp và bỏ phiếu biểu quyết. Trên nguyên tắc, bà không
nắm quyền hạn cơ bản. Và bà muốn như vậy. Nhưng trong
thực tế, bà có quyền đưa ra quyết định cuối cùng. "Nếu
ai đó có mặt và phát biểu, ‘tôi nghĩ chúng ta cần tới
mười lăm phút hành thiền’ tôi có thể phủ quyết. ‘Không
cần tới mười lăm phút’ không có dân chủ trong trường
hợp đó!”
Joko
tin rằng nhiệm vụ chính yếu của thiền sư là để giúp
chúng ta nhận thức được điều chúng ta đã thể hiện, chúng
ta đã biết nhưng chúng ta chưa ý thức được. Bà bắt đầu
buổi nói chuyện vài năm về trước với những lời lẽ như
sau: “Tôi luôn thắc mắc không biết người ta hy vọng được
gì sau buổi nói chuyện như vậy. Tôi đã có được gì mà
bạn không có? Chẳng có điều gì tôi hiểu được mà các
bạn lại không hiểu. Nhưng tôi phải thừa nhận là ý thức
được những điều trên chính là nội dung buổi tập luyện
này." Có điều luôn xảy ra là các thiền sinh luôn gán cho
bà đủ thứ. Bà chỉ coi mình như một người bạn dày dạn
kinh nghiệm: "luôn là người bạn yêu quí, nhưng là nguời
bạn yêu quí dày dạn kinh nghiệm."
"Tôi
không muốn nói chúng ta không cần đến thiền sư, trung tâm
và kỹ thuật luyện thiền. Chúng ta rất cần là đàng khác.
Nhưng khi nghĩ rằng ngoại trừ bản thân và những "cố gắng
đúng mức của chính chúng ta” mà vẫn còn điều gì đó
gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống chúng ta khiến
chúng ta phải cần đến một số thay đổi nào đó. chúng
ta đang tự lừa bịp chính mình đó. Bất kỳ thiền sư nào
cũng chỉ có mặt tại chỗ để hướng dẫn bạn tiếp xúc
trực tiếp với tầm hiểu biết bạn sẵn có. Ông có làm
điều gì thì cũng chỉ để giúp bạn thực hiện điều đó.
Nhưng hãy cẩn thận. Lý tưởng hóa, tin tưởng mù quáng vào
khả năng vượt trội của ông, tin tưởng thiền sư phải
biết điều thiền sinh chưa biết, tất cả thứ đó sẽ gây
rắc rối cho mọi người. điều đó luôn tùy thuộc ở chúng
ta.
Điều
làm cho những "cố gắng đúng đắn của chúng ta" luôn luôn
là xuống đến tận chú ý, chú ý và chú ý (như một vị
thiền sư cao niên Ikkyu đã viết ba lần khi một thiền sinh
xin thầy một từ có ý nghĩa khôn ngoan nhất.). Nhiều năm
sau Joko đã khám phá ra tập luyện thân thể là điều cơ bản
nhất. Bà muốn các thiền sinh phải trau dồi ý thức đúng
đắn về phản ứng của thân thể trong mọi tình huống –
rồi cố gắng rọi chiếu cấu trúc bản ngã cơ bản xem đâu
là ý nghĩa của hành vi này. Bà muốn biết, điều gì đang
diễn ra tại đây. Chúng ta xem vấn đề đó thế nào? Làm
sao giải quyết được vấn đề đó?
Bà
cho tôi biết, "Tôi vẫn thuyết pháp giống hệt mọi người,
tôi có thể giao cho thiền sinh koan Mu, thách thức họ theo cách
cổ điển. “Mu là gì? Thực sự đã thấm nhuần Mu chưa?"
Nhưng chẳng còn gì nữa. Bà nói, "Các thiền sinh thật quá
đa dạng, một số cần củng cố lại bản ngã chứ không
được tách biệt ra. Một số chỉ cần đến ít lời chỉ
dẫn. Số khác đã sẵn sàng để tách dần khỏi cơ cấu bản
ngã thuộc công việc huấn luyện thiền định cổ điển.
“Nhưng dần dà tôi nhận thấy tăng cường bản ngã (điều
vẫn được coi như là phương thức tâm lý trị liệu) và
làm xói mòn bản ngã (điều thiền định suy nghĩ như vậy)
đang đan quyện lấy nhau và được giải quyết êm đẹp khi
nào chúng ta kiên trì làm việc bằng cách khảo sát sự dính
bén (dục) của chúng ta."
Joko
muốn biết tất cả những gì về các thiền sinh của bà.
Và thực tế là bà luôn luôn làm được điều đó. Bà có
thể trong một lúc làm việc được với một người đàn
ông, với vợ ông ta hay cả người tình của ông ta nữa. Làm
việc với từng người một, bà chỉ cần thăm dò sự dính
bén bản ngã thể hiện trong hoàn cảnh cụ thế nào và khi
họ đã nhận ra rõ ràng, thì hoàn cảnh đó sẽ tự động
được giải quyết.
Hoặc
có người nào đó đến và cho biết cô ta đang bị ám ảnh
về người bạn trai mới gặp. Joko có thể khuyên: "Được
rồi, cứ việc để cho anh chàng tiếp tục ám ảnh bạn, nhưng
hãy cảnh giác như bạn đã làm. Thế bạn bị ám ảnh ra sao?
Bạn đã bao giờ quan sát thật kỹ bạn bị ám ảnh thế nào
chưa? Điều gì đang xảy ra trong suy nghĩ của bạn? Hãy tỉnh
thức – đừng để tuột mất điều gì nhé!"
Ít
lâu sau đó Joko lại cho biết, mọi người đều tự dạy cho
mình. Bà nói thêm, "Bạn là thiền sư của chính bạn đó”,
rồi bà đưa ra những vấn đề sau: tưởng tượng xem bạn
gặp ba người lạ và một trong ba người hỏi bạn, "Hành
thiền là gì vậy? Tại sao tôi lại muốn hành thiền?" Thế
bạn định nói gì với người đó?” Nếu người thiền sinh
đó bảo, “Tôi không biết phải nói gì cả." Joko sẽ trả
lời, "Nhưng bạn biết mà, - và tôi muốn việc hành thiền
của bạn tỏ ra là bạn biết và bạn có thể diễn tả rõ
ràng điều bạn biết. Tuần tới lại đây và cho tôi biết
điều gì bạn sẽ nói nhé." Và như thế người ta chỉ biết
nghe, nghe và nghe. "Bằng cách đó người ta học được rất
nhiều.” Và việc hành thiền của mọi người sẽ trở nên
sống động.
"Tôi
muốn mọi người hiểu ý nghĩa việc họ hành thiền. Tôi
muốn họ tự hỏi mình (ngay cả kéo dài hàng tháng): "Tại
sao tôi lại phải phấn đấu ghê gớm đến thế? điều đó
có nghĩa lý gì đối với tôi? Tại sao tôi lại phải cố
gắng đến vậy? Tại sao tôi lại phải dậy sớm hơn nửa
giờ để làm điều đó?”
"Vấn
đề là, mọi người đều biết hết – và tất cả những
gì bạn cần phải làm là phải chăm chú nghe, để tìm cách
làm cho họ nói ra điều họ biết. Đó chính là tài khéo của
các thiền sư, biết cách mách nước cho họ thực hiện được
điều đó. Chúng ta là thiền sư cho chính mình có phải thế
không? Thiền sư bên ngoài là làm cho bạn trở thành người
thầy của chính mình vậy."
Không
khó khăn lắm để nhận ra Joko rất ham thuyết pháp. Và được
tăng cường sức mạnh do giảng dạy. Sau nhiều giờ bàn thảo
trong suốt thời gian hành thiền, bà lấy lại được nhiều
nghị lực, hơn là hao tốn đi.
Chúng
tôi sắp kết thúc chuyến viếng thăm San Diego và một câu
hỏi vẫn còn vương vấn trong tâm trí tôi mãi.
Lenore:
Tôi thắc mắc không hiểu bà có thể dành cho tôi ít phút
để giải thích rõ những gì bà đã nói trong buổi chúng ta
bàn thảo (daisan) ngày hôm qua không?
Joko:
Được chứ
Lenore:
Bà hỏi tôi về "quyết định nội tại” và tôi đã nói
khi còn nhỏ, quyết định nội tại của tôi rất tốt, rồi
tôi thêm vào đó một chút và nói tôi cảm thấy chính tôi
như đang can dự vào một điều gì đó rất nhỏ, khó lòng
nhận ra được, chắc chắn không cần thiết – và bà cho
biết điều đó rất thích hợp với những gì sau này sẽ
diễn ra. Và tôi thực sự không dám chắc là tôi hiểu ý bà
nói.
Joko:
Làm tốt thuộc cấu trúc bản ngã chúng ta đang đề cập đến.
Ở một vài điểm, mỗi người chúng ta quyết định chúng
ta không thể tồn tại trong vũ trụ này trừ khi chúng ta có
một chiến lược. Đối với một số người, chiến lược
này là chống đối lại quyết liệt; đối với một số người
khác nó lại nhỏ bé và khó lòng nhìn ra. Chiến lược của
bạn là làm tốt, nhìn chung là muốn làm hài lòng mọi người.
Nhưng chiến lược cơ bản đối với bất kỳ ai cũng luôn
luôn: tôi sẽ tự bảo vệ mình, bất kể điều gì và với
bất cứ giá nào. Qua thời gian chiến lược trở thành quyết
định cơ bản điều khiển cuộc sống (bản ngã) chúng ta
vì chúng ta không ý thức được nó. Việc luyện tập (chú
ý) của chúng ta là phải ý thức rõ ràng về quyết định
đó. Không phải chỉ trong đầu mà đủ, nhưng còn phải thể
hiện nơi từng thớ thịt trong thân thể chúng ta.
Lenore:
Bà đang đề cập đến các giác quan là đầu mối cho cấu
trúc bản ngã, phải không ạ!
Joko:
Đúng đấy, thí dụ, điều bạn vừa mô tả – có thể teo
lại thành không. – bạn không thể làm được gì nếu điều
đó không biểu lộ bằng một quyết định. Nơi một số trường
hợp bạn quyết định cách tốt nhất bạn có thể tồn tại
là sử dụng chiến lược này. Bạn học hỏi được (rất
có thể không ý thức được những gì bạn đang làm) trong
một tình huống bị đe dọa bạn sẽ co dúm lại. Và điều
gì bạn học được trong cuộc sống cho đến giờ là phải
hành động ra sao? Đối mặt với mọi đe dọa bằng phương
án nào?
Lenore:
Biến mất hay sao?
Joko:
Đúng đấy, chắc chắn rồi và trong thực tế điều chúng
ta phải làm là gia tăng ý thức bằng những hoạt động không
ngừng của bản ngã. Và khi chúng ta ngồi thiền với trí tuệ
(thông minh) chúng ta làm đúng. Tỏa sáng chiến lược bản
ngã này – như cảm nhận những cảm giác thể lý của chúng
ta, như lắng nghe những suy nghĩ ồn ào của chúng ta – sẽ
giúp chúng ta nhận ra bản ngã đang liên tục thống trị cuộc
sống chúng ta ra sao. Chỉ lúc đó ta mới cảm thấy được
con hổ từ bấy lâu nay vẫn khống chế chúng ta chỉ là con
cọp giấy. Và chúng ta không được khoan nhượng đối với
những gì không thực tế. Quyết định của chúng ta có thể
đã không điên rồ ở một thời điểm nào đó, nhưng nếu
hiện nay lại tỏ ra điên rồ và không không thích hợp. Chúng
ta không cần đến nữa.
Lenore:
Vâng, ở một chừng mực nào đó tôi đã không làm thế –
và dẫu sao tôi có hành động!
Joko:
và rồi bạn làm thế. tất cả chúng ta đều hành động như
thế cả.
Lenore:
Tôi hiểu rồi. Và càng quan sát tôi lại càng thấy rõ.
Joko:
Và rồi câu hỏi là làm thế nào luyện điều đó.
Lenore:
Vâng đó chính là câu hỏi tôi muốn đưa ra.
Joko:
Vâng, những gì chúng ta đề cập đến trong cuộc đối thoại
thiền (daisan) cần phải được nghiên cứu kỹ. Điều tôi
thấy ở luyện “Koans” mang lại hiệu quả – theo tôi nghĩ
chúng ta nên bắt đầu từ đó, trước khi nó trở thành một
hệ thống mang nặng hình thức và một hệ thống chết –
chính là bắt đầu tái tạo lại những giây phút trong cuộc
sống bạn và coi đó như là thầy dạy và thực hiện điều
đó thế nào để có thể giúp ta nhìn ra cái cấu trúc bản
ngã như là những suy nghĩ và những cảm giác thể lý – hay
nói cách khác là: hãy ý thức, một khi đã ý thức được
rằng bạn không thể tránh nhận ra bản chất hư vô (trống
rỗng) của bản ngã, sẽ không còn chi phối bạn được nữa.
Bạn sẽ chủ động được và đó là một thực tại công
việc rất rộng rãi bao quát. Rồi bạn có thể để nó tự
trôi qua, có nghĩa là nhận ra được sự hư vô (trống rỗng)
nơi bản ngã. Và sự luyện tập này rất có hiệu quả; tôi
nhận thấy điểm này rất rõ ràng. Bạn thấy đó vấn đề
thiền sư chính là làm rõ tất cả mọi sự và thực hiện
toàn bộ luyện tập này cách khéo léo. Tôi liên tục tìm kiếm
ra những cách thức tốt nhất và điều đó tạo cho việc
học hỏi thêm phần hứng thú và cũng rất hấp dẫn.
Trong
một phòng ngủ nho nhỏ tại căn nhà phía sau, gần với phòng
ngủ của Joko, một cây đờn Clarico rất xinh được lau chùi
bóng loáng chiếm gần hết căn phòng. Đó là phòng của Elizabeth
Hamilton. Tôi ngồi xếp bằng trên giường của bà, nghe bà
đang tập bản Concerto dành cho đàn Clarico để sửa soạn cho
cuộc hòa nhạc sẽ được tổ chức vào tuần tới. Một máy
ghi băng để trên chiếc ghế kế bên chỗ bà chơi phần nhạc
cho ban nhạc. Elizabeth đã biểu diễn nhiều năm nay. Nhưng chỉ
mới đây thôi bà đã cho tôi biết khi những ngón tay của
bà vừa kết thúc những nốt nhạc đầu tiên, bà mới hiểu
ra chơi nhạc thực sự mang ý nghĩa gì. (có nghĩa là hòa tan
trong âm nhạc, để cho âm nhạc tuôn trào ra qua những ngón
nhạc đó). Bà đã nói một cách nhuần nhuyễn, chính xác và
tỏa sáng với những điệu nhạc bà chơi với cây Clarico.
Elizabeth:
Joko dạy rằng chúng ta phải lưu ý đến phân tro bón cho những
bông hồng trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta phải điều nghiên
kỹ phiên bản đau khổ riêng tư của mỗi chúng ta. Bà luôn
thúc đẩy chúng ta trở lại với những gì chúng ta kỳ vọng
sử dụng luyện thiền để tránh trong cuộc sống. Chúng ta
phải có mặt tại đó để có được giác ngộ hầu tránh
đi nỗi khốn khổ của chúng ta. Và như vậy chính bản ngã
cá nhân tôi sẽ được giác ngộ. Và có được ánh sáng tỏa
sáng ra khỏi cái đầu u mê của chúng ta! Cám ơn trời Phật
bà đã giúp cắt được đau khổ. Bạn đã có đầy đủ kinh
nghiệm trước khi nhận ra tình trạng trống rỗng đó. Nếu
bạn bị sợ hãi tràn ngập, bạn chẳng bao giờ nhận ra sự
trống rỗng nơi sợ hãi. Nó đang ngầm chi phối bạn. Bạn
có thể ngồi thiền thâm nhập sâu vào Định và nhận ra được
sự đồng nhất đó, nhưng đó chỉ là một khái niệm vì
khi bạn đứng dậy, ngay tại đó chỉ là một bãi mìn có
thế thôi. Và có ai đó xuất hiện chỉ trích bạn hay sửa
chữa cho bạn, thế là bạn nổi lôi đình. Và như thế bạn
đã được coi như là đã tỉnh ngộ vậy (giác ngộ).
Lenore:
Điều bà suy diễn về Định như bà cho biết là một "khái
niệm," nhưng không phải thế, chỉ là một kinh nghiệm không
hơn không kém.
Elizabeth:
Không những chỉ là kinh nghiệm. Định là chính bạn khi bạn
ngồi thiền ngay tại lúc này, mở ra với hết mọi sự. Điều
này khác xa với Định (nhận thức) tập trung vào một điểm
gây trở ngại cho bất kỳ điều gì trong ta. khi bạn ngồi
thiền với "Định hướng ngoại” như vậy, bạn chẳng còn
có vấn đề gì nữa, bạn có thể cảm nhận thấy đồng
nhất tính nơi con người của bạn. Nó rất quyến rũ, bạn
còn có thể có được những giây phút với trực giác cao.
Nhưng nếu bạn vẫn chưa ý thức được hay vẫn còn bị vướng
với những hoàn cảnh của bạn, điểm mù của bạn sẽ xuất
hiện nơi chính Định của bạn, an nghỉ bình thản tại đó
như đứa trẻ hai tuổi. Nhưng sau giấc ngủ nó sẽ thoát ra
ngoài và chi phối cuộc sống của bạn. Chúng ta có thể dùng
Định như một thứ ma túy, để ngăn cản suy nghĩ và những
cảm xúc, có đạt đến những thành tựu sai lệch.
Nếu
như bạn nhìn thẳng vào điều đã được hé mở ra trong những
năm qua về thấy cả những người có chức quyền, bạn có
thể thấy được luyện tập khó khăn đến chừng nào. Cá
nhân tôi không muốn chú tâm nhiều đến những người đã
được “Giác ngộ” Đó là một khái niệm bao hàm sự kiên
trì và vững vàng. Vấn đề là chúng ta có tỉnh thức (giác
ngộ) ngay tại giây phút hiện tại hay không và ngay lúc này
đây. Và nếu như bạn đã tỉnh thức (giác ngộ) vào năm
1975, rất có thể bạn đã giác ngộ kha khá để có thể nhận
được danh hiệu đó, nhưng đó không có nghĩa là bạn vẫn
tỉnh thức (giác ngộ) vào năm 1985, hoặc trong mọi tình huống.
Lenore:
Nhưng chúng ta vẫn bị kẹt với suy nghĩ có ai đó đã biết,
biết nhiều hơn chúng ta và người đó có thể nói cho chúng
ta, hoặc mách đường cho chúng ta.
Elizabeth:
Vâng, rất nhiều người trong chúng ta đã dẹp bỏ đi cái
cảm nghĩ cho rằng ta chỉ quan tâm nghĩ rằng có ai đó bên
ngoài chúng ta không thể lầm lẫn hoặc có thể thực hiện
được những chuyện lạ và chỉ cần họ "chỉ dạy cho chúng
ta" và rõ ràng đang có mục đích gì đàng sau sự việc đó.
tôi thấy rất cay đắng là thực tế tôi đã trợ giúp rất
nhiều người rất lạ lùng vì tôi nghĩ có điều gì đó tôi
chưa nhìn ra. Thế nên tôi đã dính líu bằng cách đưa họ
ra ngoài kinh nghiệm đời thường. Thật đáng buồn nhận thấy
chúng ta đang bị mắc lừa một cách mẫn cán dưới danh nghĩa
luyện tập. Một khi việc luyện tập trở thành việc làm
rõ sự tổn thương, nỗi bực tức, hoặc sự lẫn lộn –
đem lại hiểu biết và phát triển. Có thể những thanh niên
Mỹ ở độ tuổi mười chín sẽ sẵn sàng rời bỏ gia đình
để được sống tự lập.
Lenore:
Bà có thể cho biết một vài chi tiết cá nhân về điều này,
về cách bà và Joko đã làm việc chung với nhau như thế nào
không?
Elizabeth:
Vâng, rất sẵn lòng, đó là điều thứ nhất, Trước khi tôi
ngồi thiền, tôi chẳng bao giờ cảm thấy bực tức cả. Tôi
đã bị mụn nhọt hen suyễn và bị ban! Cuối cùng tôi phải
bắt đầu nhìn lại hiện trạng sức khỏe của tôi – ý
tôi muốn nói là, tôi muốn như cây sồi trong vuờn, không
có vấn đề gì, nhưng tôi không thể làm được như vậy.
Không muốn để cho tất cả ý tưởng ích kỷ này trỗi dậy,
tính tự vệ này. Thế cho nên tôi bắt đầu tìm kiếm xem
thực chất tôi bị điều gì đang hành hạ. Bà đã không tiết
lộ cho tôi biết phải tìm kiếm điều gì. Tôi biết rất
rõ. Bà biết những gì chúng tôi biết. Và bà rất kiên trì.
Bà ráng chờ đợi cho đến khi chúng tôi sẵn sàng đi tìm
kiếm. Thí dụ, trong biểu diễn, tôi đã biểu diễn trong vòng
hai mươi lăm năm qua, tôi đoán thế, mà không hay biết ngầm
dưới đó có vấn đề tôi đang bị khủng hoảng tâm thần.
Hoảng sợ vì cách nào đó tôi sẽ không được chấp nhận
theo đuổi công việc luyện thiền nữa. Rồi đem ra chia sẻ
với thính giả, người biểu diễn (là tôi) được không?
Và cuối cùng tôi nhận ra là tôi đã nhìn ra vấn đề và
thấy được điều gì tôi đã dùng âm nhạc để che dấu.
Tôi chẳng lên án bất kỳ ai vì không quan tâm lưu ý đến
tôi.
Một
cách nào đó, chúng tôi đã được nghe điều đó nhiều lần.
Như sáng hôm qua, khi bà nói với tôi: "hãy trở lại hoài hoài
với thực tại ngay giây phút này, điều đó luôn căn cứ
vào tình trạng thể lý của ta." tôi càng tỏ ra giao động
bao nhiêu, tỏ ra căng thẳng cơ bắp bao nhiêu thì tôi càng
có được sự yên tĩnh, cái điểm yên tĩnh đó, tình trạng
bệnh tật đó, chẳng là gì cả.
Có
một thời điểm tuyệt vời, khi tôi đã ngồi thiền được
ba tháng. Vào ngày 28 tháng Chín năm 1975 – tôi không bao giờ
quên được. Ngày đó đã trở nên quá rõ ràng đối với
tôi và đây là vấn đề. Và khi mà vấn đề từ từ lui dần
đi. Nhưng trí nhớ của tôi cứ càng được củng cố thêm.
Tôi đã bỏ ra hai năm tiếp theo để nắm bắt lại cái giây
phút lịch sử đó. tôi phát hiện ra đó lại là ảo tưởng.
Nhưng nếu quan niệm của bạn về tập luyện có ý nghĩa với
cái giây phút trực giác đó. thì đó lại có lý do để suy
nghĩ bạn có điều gì đó để bảo vệ. Thế nên tất cả
đều chỉ là hiệu quả ngược lại.
Lenore:
Những giây phút khai sáng đó vẫn không giúp gì cho bà dứt
bỏ được ảo tưởng hay sao?
Elizabeth:
Vâng, tôi phải nói là bạn không bao giờ được lẫn lộn
nếp tẻ với nhau. Nếu như đó là điều quan trọng. Nhưng
may mắn vẫn có thể diễn ra, ngay cả khi chiếc màn sân khấu
đã được kéo lên, vẫn có thể từ từ hạ xuống, cho dù
bạn có bi quan đến mấy. Giống như trở thành một nhà sư
phải trải qua một cuộc hành trình từ bỏ bản ngã thật
khắc nghiệt. Tôi thật sung sướng không phải mặc áo cà
sa ngay bây giờ. (right now). Thế thì áo cà sa mang ý nghĩa gì?
Điều này gây khó chịu cho thân xác. Thật dễ dàng để trở
nên sùng bái hay mang tính bè phái nếu bạn cho là những thứ
đó là những trang hoàng của Đức Phật. Bạn cảm thấy thế
nào khi bạn mặc bộ đồ ngủ? Tôi không thích được đóng
vai một người Phật tử hay không phải là người Phật tử,
nhà sư hay người đời, hay bất cứ điều gì đại loại
như vậy. Những thứ đó tạo ra quá nhiều rối rắm bạn
có thể dùng bất kỳ điều gì để quậy lên vũng nước
sình lầy đó và rồi quên đi.
Lenore:
Bà có thể dùng bất luận điều gì; ngay cả sự luyện tập
nữa chứ?
Elizabeth:
Tuyệt nhiên rồi, tôi có dùng, tôi đã làm thế và tôi sẽ
làm như vậy! Chúng tôi không muốn thấy điều chúng ta quá
bị lệ thuộc. Điều đó không lòe loẹt và khiêm tốn. Có
thể đó là cách duy nhất bạn có được lòng khiêm tốn thực
sự.
Điều
thật hấp dẫn đối với tôi là trong tất cả trên dưới
1.700 koans truyền thống không thấy có koans nào đề cập đến
tình cảm, ích kỷ và suy nghĩ không chính xác. – những điều
thường xảy ra trong cuộc sống hầu hết mọi người chúng
ta. (kể cả một số những người hành thiền lâu năm, trong
đó có cả tôi) tôi thực sự đánh giá cao Joko đang tìm cách
đối phó với những rối loạn tình cảm để đưa vào làm
koans. Bà đang tạo ra những koans như thế cho các thiền sinh
để biến đổi mình. Tuy nhiên điều có thể xảy ra cho một
số người không theo học với bà có thể cho là bà đang đối
phó với công việc thuộc bình diện "thuần túy tâm lý" mà
thôi. Không phải vì thế mà một số chúng ta tách rời bản
ngã ra khỏi thế giới, hoặc bản ngã ra khỏi các tình huống
(cái gọi là vấn đề- với- tôi- và- của- tôi.) tâm lý trị
liệu tốt rất có giá trị; tuy nhiên thường thường không
đem lại cho chúng ta đến chỗ thành công cuối cùng chính
vì thế mà không thể phân tách bản ngã ra được. Công việc
có liên quan đến cảm xúc đôi khi Joko kể luôn vào việc
luyện tập, lại đòi hỏi đi thẳng ngay vào điều gì nổi
lên, như khi chúng ta thực hiện một koan. Thoạt tiên chúng
ta có thể ý thức được, rồi kinh nghiệm thấy và cuối
cùng trở thành buồn chán (hoặc là rối rắm, hay tức bực.)
để có thể quan sát được tính chất tự nhiên của chúng
ta. Điều này không mang tính hoạt động thực sự – nó chỉ
giúp bạn trở thành tốt hơn vào lúc tức bực thay vì trở
thành tức bực. Điều đó thực sự trông không giống ai hết.
Sống
chung với Joko tôi nhận thấy bà biết tất cả những gì tôi
biết. bà chỉ cần rảo qua lãnh địa trí tuệ của chính
bà quan sát những cơ quan phản ứng của chính bà, trong một
thời gian dài và vì vậy bà có thể tận dụng những cơ quan
này để hướng dẫn cho người khác cũng làm như vậy. Bà
không mô tả chính mình như là một người đã "đạt đến
giác ngộ” cuối cùng bạn có thể đạt đến đâu? Chúng
ta đang ở đây rồi còn gì nữa! Bà sống một cuộc đời
chăm chút cho cuộc sống thay vì sống một cuộc đời ích
kỷ. Cho dù bất kỳ khi nào bà nghe tôi đề cập đến việc
này bà thường hay nói "Ôi! Cứ tiếp tục đi nào! "Nhưng bà
đóng vai một người nhắc nhớ rằng cuộc sống của chúng
ta phải là những lời kinh Phật, phải là những giới luật
Phật.
Chúng
tôi đã quen biết nhau trong khoảng bốn mươi năm nay, bà là
con người hoàn toàn, hoàn toàn và hoàn toàn bình thường.
Thật ích lợi để có được mối quan hệ thầy trò với
bà. Tôi thích coi bà như một người cố vấn – nhưng với
bất kỳ từ nào bạn dùng để nói về bà chẳng có từ nào
mang đầy đủ ý nghĩa như: tốt hơn, hoặc siêu nhiên hơn
hay bất luận điều gì khác. bà là một người nhắc nhở
vĩ đại của những gì hiện thực. Giống như một bài đồng
ca Hy lạp. Bạn đã có dịp nào xem ở một vở kịch Hy lạp
chưa? Một nhân vật bước đi trên sân khấu đang bước qua
một cây cầu và đội hợp xướng tiến lại gần và nói,
"Họ đang bước qua cây cầu.” Điều đã xảy ra rồi –
chẳng cần có ai phải nhắc nhở chúng ta làm gì trừ khi chúng
ta là người lạc lối.! Theo như chỗ tôi được biết, nhiệm
vụ của người thiền sư là trợ giúp chúng ta nhìn cho ra
những điều hiển nhiên, những gì đang tiềm tàng và có thể
quan sát được ngay lúc này. Chắc chắn là chẳng có gì đặc
biệt cả.
Vậy
là chúng ta trở lại với "chẳng có gì đặc biệt” Ngồi
lại nơi bàn máy đánh chữ, tôi nhớ lại buổi hành thiền
đó, bóng đêm đang tràn xuống phòng hành thiền, những tiếng
xe cộ qua lại ngoài đường, tiếng trẻ nô đùa ngoài đường
phố, một tiếng chim hót buổi bình minh. Bữa điểm tâm, vị
ngọt cam tươi lịm nơi đầu lưỡi. Trong một phòng nhỏ chật
hẹp, một chồng gối đen xếp ngay ngắn. Trong căn nhà màu
vàng trần trụi trên đường phố cũng trần trụi bình thường.
Nhưng
ngay bên trong, ngay chiếc bàn trước góc cửa sổ, một bức
tượng Quan Âm tuyệt đẹp mỉm cười thật nhân hậu. Từ
giờ sẽ được chuyển đến để ở một chỗ khác và trên
bàn, thay vào một hòn đá đơn sơ.
Mùa
Đông năm 2000
Từ
khi tôi đến thăm trung tâm thiền San Diego vào năm 1980 cho đến
nay Trung Tâm đã phát triển đáng kể, không nhiều lắm về
cơ sở vật chất (vẫn cùng ngôi nhà đó, vẫn còn duy trì
hầu hết các sinh hoạt, cho dù Joko đã dọn về ở gần kế
bên) nhưng số người đến hành thiền tại đó lại tăng
đáng
kể. Trong suốt những khóa hành thiền có rất nhiều thiền
sinh đến từ khắp nơi trên thế giới. Joko tiếp xúc với
rất nhiều người trong số họ qua điện thoại (và có hàng
loạt những người còn bị cúp không được tiếp chuyện,
Bà cho biết như thế).
Thật
vậy chúng tôi đã liên lạc qua điện thoại vào một buổi
chiều cuối mùa thu năm 1998. Bà cho biết, công việc thuyết
pháp của bà không có gì thay đổi, đặc biệt kể từ ngày
chúng tôi tiếp chuyện với nhau lần đầu tiên nhiều năm
về trước, nhưng hầu như không còn "chung chung nữa, chính
xác và đặc trưng hơn nhiều”. Có nghĩa là quan sát mọi
sự dưới nhiều góc độ khác nhau và sự truyền đạt được
chải chuốt cho phù hợp với từng cá nhân.
Dần
dà, Joko tỏ ra tôn trọng sự khác biệt nơi mọi người –
mức độ ý chí, tuổi tác, những sửa soạn của họ trước
đó – đã ảnh hưởng đến những gì đạt hay không đạt
hiệu quả trong hành thiền – liên can trực tiếp đến cuộc
sống của mỗi người, ngay tại giây phút hiện tại không
qua suy diễn – là những vấn đề phổ biến. “Chúng ta đâu
có nghĩ là không sẵn sàng, nhưng thực chất chúng ta đã làm
thế." tuy nhiên làm tốt những việc này còn tùy thuộc vào
mỗi chúng ta.
Cách
thuyết pháp của bà thoạt đầu hình như hơi chú trọng đến
tâm lý. “Nhưng chúng ta không dừng lại ở đó; chúng ta tiến
lên phía trước," Bà không tin là mình đang dùng tâm lý. Vì
hành thiền là nhìn xuyên suốt qua bản ngã, trong một qui trình
giác ngộ chậm rãi. Và chúng ta không thể nhảy vọt qua bất
kỳ giai đoạn nào để đạt đến một mục tiêu trừu tượng.
"Chúng ta phải thực sự đạt đến thống nhất về ý tưởng
bản ngã chúng ta đang có. “Giác ngộ không phải là điều
chúng ta có thể đuổi bắt nhưng chỉ đơn giản là "thiếu
vắng sự dính bén vào bản ngã mỗi cá nhân chúng ta."
Bà
nhận thấy lý do tại sao nhiều người vướng mắc mà không
hiểu biết điều đó. “Là điều gì vậy? Điều vướng
mắc đó là gì? Bà đặt câu hỏi. Cũng giống như koan: điều
gì đây?”
Nhưng
bà còn cho biết, đa số chúng ta thực sự đã không biết
được hành thiền nhằm mục đích gì. Đối với một số
người cần đến mười năm, mười hai năm, mười bốn năm.
Học được tập trung tư tưởng vào giây phút hiện tại giữa
những trồi sụt thường ngày cần đến một thời gian rất
dài. Chúng ta bắt đầu làm sáng tỏ cuộc sống hàng ngày
của chúng ta và rồi rất chầm chậm mọi sự "trợ giúp nâng
đỡ “cũng sẽ trở nên rõ ràng."
Vấn
đề chủ chốt chính là kinh nghiệm được giây phút này của
cuộc sống hơn là chỉ nghĩ đến cuộc sống đó. Rồi sau
khi “Những gì lẻ tẻ đã tan biến đi và bạn chỉ còn lại
với điều tuyệt đối mà thôi. Bạn có hiểu được tôi
muốn nói gì không?" Đó là một qui trình thật tế nhị, khám
phá trực tiếp những kinh nghiệm giác quan thể chất mà không
cần đến suy tư. Nhưng bà cho biết, "Đó chính là tình trạng
giác ngộ vậy."
Joko
rất thích thuyết pháp với từng người một. Bà cảm thấy
điều đó thật thoải mái không cần cố gắng, chẳng bao
giờ thành gánh nặng. "Thật là vui biết bao khi thấy người
ta đã bắt đầu tỉnh ngộ.” Khoảng độ tám giờ một tuần
bà liên lạc bằng điện thoại với những người sống cách
xa bà. "Nhiều điều phi lý kinh khủng đã được triệt phá
bằng điện thoại.” Thực tế, có nhiều thiền sinh rất
giỏi đã được huấn luyện sau nhiều năm hầu như hoàn toàn
chỉ qua điện thoại.
Joko
hiện nay đã 84 tuổi, vẫn còn phụ trách các khóa hành thiền
kéo dài năm ngày. Và làm việc miệt mài với từng cá nhân
các thiền sinh. Elizabeth Hamilton và Ezra Bayda là hai trong số
năm người được chỉ định nối nghiệp Phật pháp giúp
đỡ Joko điều hành các khóa hành thiền cũng như đang hướng
dẫn các khóa riêng của mỗi người, Ba người kế nghiệp
khác cũng đang điều hành các trung tâm chi nhánh tại Oakland,
California, Champaign-Urbana, Illinois và Nữu ước. Cũng còn có
một chi nhánh tại Australia. Trung tâm thiền tại San Diego sẽ
cung cấp thêm nhiều thông tin.
-ooOoo-
[05]
Thiền
Sư Ruth Dension
Ruth
có thể băng qua đầm lầy để đạt tới tận các vì tinh
tú và lệnh cho các thiền sinh cũng thực hiện như vậy, nhưng
với qui định sau đây: “Hãy thực hiện như vậy trong tình
trạng giác ngộ hoàn toàn." -- Một thiền sinh của Ruth Dension.
Mùa
Đông 1996.
Bà
là một nhân vật đầy thách thức, một đốm sáng lân tinh,
một ảo thuật gia. Tiếp đến bà còn là deva, một bà hoàng
nắm quyền phân xử tại tòa, một đứa nhỏ đường phố,
một bà già quê mùa nhào bột làm bánh. Bà còn là hiện thân
của lòng từ bi, diễn viên nhạc kịch, một Bồ tát mặc
nhung phục và đồ trang sức, một bà già tiều tụy, đầy
lòng vị tha.
Gặp
được Ruth Denison, hoặc nói chuyện với bất kỳ ai biết
rõ bà, chính là gặp được một kính vạn hoa với nhiều
màu sắc thật ấn tượng đầy ngoạn mục. Một yếu tố
duy nhất ai cũng chia sẻ với nhau khi gặp bà chính là niềm
xúc động mạnh mẽ.
Lần
đầu tiên tôi gặp bà vào mùa Đông năm 1983, nhân dịp bà
trở lại Berkeley để hướng dẫn một khóa huấn luyện cuối
tuần. Vào buổi tối khai mạc khóa huấn luyện. Tôi được
mời tham gia nhóm cựu thiền sinh của bà tụ tập lại để
chào đón bà, cùng chia sẻ bữa cơm chay và nói chuyện với
bà một cách bình thường. Bầu không khí trong nhà thật vui
nhộn tràn đầy khát vọng muốn gặp lại. Khi bà xuất hiện
trên cầu thang với người trợ lý là Ni Sư Julie. Cả hai họ
đều mặc áo cà sa dài, Ruth mặc cà sa màu nâu, còn Julie màu
đen. Lọn tóc màu mật dài kẹp lại sau lưng chạm tới tận
cổ. Bà cũng đeo cả dây chuyền và một chuỗi hạt quanh cổ.
Khi hai người bước xuống cầu thang, mọi người ở dưới
xếp thành hai hàng và nắm tay nhau họp thành một vòng cung
để cho hai người duyệt qua, vang tiếng hát lễ lạc. Mọi
gương mặt đều rạng rỡ. Tràn đầy tình yêu thương và
tình liên đới tràn ngập suốt cả buổi tối.
Gương
mặt Ruth đã điểm nét nhăn nhưng vẫn sinh động và đầy
nhuệ khí. Giọng nói bà sang sảng đặc sệt một giọng Ang-lê
đông âu, đêm hôm đó đã vượt qua mọi sắc thái, từ trầm
khan, đầy súc tích đến êm dịu, xen cả lời hát nhẹ nhàng.
Bản tường trình của bà trước toàn thể phụ nữ rất hấp
dẫn khi bà kể về các chi tiết trong chuyến đi mới đây.
Bà lắng nghe phản hồi của cử tọa, rồi cùng nhau chia sẻ
bữa cơm chay tối với họ. Sau đó họ ngồi vòng tròn, bà
moi ra những thông tin và những chi tiết cá nhân nơi những
người bà đã quen biết (về phần tôi, một gương mặt mới,
Bà tỏ ra ít quan tâm hơn). Bà rất vui vẻ tự tin, hơi nghiêm
nghị, khá hài hước và thông cảm – và bà đã điều khiển
buổi trao đổi sôi nổi cho đến tận đêm.
Sáng
hôm sau buổi tĩnh tâm khai mạc trong một phòng sang trọng tại
Kerkeley Dharmadha (trung tâm Chogyam Trungpa, Rinpoche dành cho các
Thiền sinh địa phương) căn phòng sáng rực với những màu
truyền thống; gối thiền đỏ vàng, các khẩu hiệu bằng
tơ đỏ, xanh dương, xanh lá và vàng; ngôi chùa nổi bật với
hoa muôn màu. Tuy căn phòng rất rộng, nhưng chật ních người
("có tám mươi bảy người đến dự, trong đó có tám người
đàn ông," ) suốt hai ngày niệm thiền được bày biện theo
nhiều kiểu khác nhau, thường chia ra làm ba hàng đối diện
với ba dãy dài, Ruth thường di chuyển lên xuống ở giữa.
Đôi khi tất cả đều hướng về phía trước, khi Ruth thuyết
pháp hay hướng dẫn phương pháp hành thiền. Đôi khi họ ngồi
dồn sát tường để có thể di chuyển dễ dàng ở khoảng
giữa. Đôi khi chúng tôi di chuyển vòng vèo qua lại để thử
nghiệm nhiều kiểu rước thiền. Nếu ai đó muốn áp dụng
buổi tĩnh tâm theo truyền thống tĩnh lặng Thiền Minh Sát
(vipassana), thì buổi cuối tuần này không áp dụng truyền
thống đó.
Tuy
nhiên, khóa huấn luyện chuyên về tập trung tư tưởng (mindfulness)
chuyên về tập trung chú ý tỷ mỉ về qui trình tư duy và
thể chất. Được Ruth giới thiệu và hướng dẫn. Bà nói,
mục tiêu là mở cõi lòng trước vạn vật,. Trong thinh lặng
suy niệm tạo ra, sự tách biệt giữa bản ngã và người khác
đã biến mất. Những nhân tố tiêu cực, phản kháng và trở
ngại đã biến mất – và bản chất nhân tính của chúng
ta được bộc lộ bằng từ bi, lòng nhân ái và khôn ngoan.
Ruth
đã hướng dẫn chúng tôi tập trung vào hơi thở, cảm nhận
từ sống mũi xuống đến môi trên. Chúng tôi còn phải ý
thức tất cả những biến chuyển tâm sinh lý có thể bộc
phát bất ưng. Bà nói, bất động là điều tốt, phiền hà
cũng tốt, phản kháng cũng được. bướng bỉnh cũng phải
chịu. Không thoải mái cũng thế. (tuy nhiên, nếu điều gì
trở nên quá căng thẳng, hãy đứng dậy hoặc ngồi lên ghế
kê bên ngoài phòng Thiền.)
Nhưng
những lần hành thiền yên lặng như thế không kéo dài. Các
buổi ngồi thiền luôn được cắt quãng bằng những lời
hướng dẫn, bằng lời động viên và giải thích.
Rước
(Walking meditation) thiền được trình bày rất cẩn thận, tập
trung cặn kẽ vào từng bước chân, đặt chân xuống và bước
chân đi. Mọi người họp thành bốn vòng bước đi chậm rãi
trong vòng từ hai mươi đến ba mươi phút xoay quanh những hàng
gối thiền. Rồi thư giãn để vươn vai và xoa bóp chính mình
và cho các thành viên cùng tham gia hành thiền nữa.
Đến
ngày thứ hai Ruth lại chỉ cho chúng tôi thực hiện nhiều
kiểu đi khác: đi nhanh, rướn trên đầu ngón chân, đi cứng
dò, nhấc một chân; đi vòng quanh, vòng quanh trên đầu ngón
chân và tụng kinh. Chậm chậm; và cuối cùng nắm lấy tay
người đối diện, giơ cánh tay lên, nhìn thẳng vào mắt nhau,
xem đó như là mắt của bạn, nhắm mắt lại, để tay xuống
rồi về lại chỗ để kết thúc bài thiền.. Cũng trong ngày
đó Ruth hướng dẫn chúng tôi hành thiền "lướt qua" được
thiền sư U Ba Khin truyền lại cho bà, trong bài thiền này tập
trung chú ý nhỏ nhất hướng tới lần lượt từng phần thân
thể, từ đầu đến chân. Bên trong cũng như bên ngoài. (td.
Khoảng trống giữa tai, cổ, sau gáy, vùng da mặt) tất cả
đều phối hợp nhịp nhàng với ý thức nhịp thở. Chính
sự tập trung tư tưởng và ý thức của tôi trở nên cao độ
trong suốt quá trình này.
Trong
suốt hai ngày, Ruth tạo ra một bầu không khí thật thân thương.
Và buổi thiền cuối cùng được trang trí bằng hoa và chúng
tôi ngồi đối mặt nhau (ba hàng đối diện nhau) Bà đã hướng
dẫn chúng tôi hành thiền (Matta) kéo dài tình nhân ái.
Vào
khuya trong đêm tôi được tiếp chuyện với Ruth độ hơn một
tiếng đồng hồ trước khi bà rời thành phố vào sáng sớm
hôm sau. (các thiền sinh mô tả bà như là người qua lại liên
tục, thường xuyên đến rồi lại ra đi mà không báo trước.)
Ruth
sinh ra tại Đông Russia năm 1922, gần biên giới với Nga. Vào
những năm 1940 bà là tù nhân sự tại một trại tập trung
của Nga, nhưng gần cuối chiến tranh bà đã cố gắng trốn
trại, chạy trốn trước đội quân Nga trong khi đó đồng
minh đang tiến hành dội bom. Khi chiến tranh kết thúc bà trở
lại tìm kiếm gia đình nhưng lại bị bắt giam tại một trại
tập trung khác trong vòng chín tháng. Những người tòng phạm
tại đây đa số đều là phụ nữ – và đa số họ đã chết
"như ruồi" vì bệnh tật, chỉ trừ có bà vẫn còn khỏe mạnh.
Năm 1956, bà sang Mỹ và bắt đầu dạy học tại Los Angeles.
Tại đây bà đã lập gia đình với một người đàn ông thuộc
một gia đình Mỹ bảo thủ, ít năm sau đó chồng bà cũng
được xuất gia thành nhà sư theo phái Ramkrishana (vedanta). Trong
những năm đầu thập kỷ sáu mươi họ hoạt động xã hội
và tổ chức hội thảo cho những người dân Alan Watts, Laura
Huxley, Krishnamuri và Gerald Heard. Cũng chính trong giai đoạn này
bà cùng với chồng đã sang Miến điện để theo học thiền
với một thiền sư nổi tiếng U Ba Khin tại Trung Tâm Thiền
Quốc Tế Rangoon.
Ruth
đã hành thiền trong nhiều giờ liên tiếp trong một căn lều
nhỏ bên dưới ngôi Chùa. Từ 2.00 giờ sáng Đại sư đã có
mặt và nói "Con hãy ngồi đây và kiểm tra hơi thở đi”
và bà đã ngồi đó cho đến 11 giờ đêm. Bà chỉ gặp thiền
sư đúng 10 phút mỗi ngày. Vào lúc 7 giờ tối U Ba Khin tới
và kiểm tra. Bà đã ngồi như vậy trong bốn tuần liền. Bà
cho biết "Thưa thầy kính mến, nhưng con đã tiếp thu thuyết
pháp của thầy như vịt gặp nước" (Bà phát âm thành "dahing"
với giọng chắc nịch) "Thuyết pháp của thầy thật rõ ràng
và đầy thuyết phục. Bà rất sung sướng và tiến triển
rất nhanh" Bà đã nhận truyền Phật pháp vào năm 1966. Chỉ
có bốn người Tây phương được Công nhận như vậy và có
mình bà là phụ nữ. Nhưng "lòng hiểu biết sâu rộng, lòng
tin tưởng lớn lao và sự hiểu biết rõ ràng" hình như đã
chiến thắng tất cả sự lưỡng lự có thể xảy ra trong
sự kiện này.
Ruth
suy luận: rất có thể thiền sư của bà sẽ sửng sốt vì
cách thuyết pháp của bà hiện nay. "Cho dù rất có thể là
không" bà khẳng định. “Thiền sư cũng là một người tiên
phong" (đã truyền Phật pháp cho một phụ nữ Tây phương đầu
tiên). "Một khi đã có ý thức mạnh mẽ người ta có thể
trở thành rất sáng tạo. Cách tiếp cận mới đó sẽ không
thành vấn đề gì cả". Thay đổi và quan sát luôn là những
điều cốt yếu trong thuyết pháp của bà. Ngồi hành thiền
theo kiểu truyền thống không giải quyết tất cả những rối
loạn thần kinh của chúng ta, những chuyến đi và những mơ
mộng hão huyền của chúng ta," Bà tin như thế. Thế nên bà
đã dùng cử động thể lý để tạo cảm nhận, cảm giác
sống động và ích lợi hơn. Khi có người gặp khó khăn trong
hành thiền, Bà cho họ biết, "Được rồi, bạn có thể đứng
dậy và đi lại cho thoải mái.” Và rồi tâm trí sẽ trở
lại bình thường và ý thức sẽ phát triển nhanh hơn. "Dẫu
sao, trong suốt buổi cuối tuần tôi cũng chỉ có hai ngày để
giảng về toàn bộ Phật pháp!"
Khi
Ruth điều hành các buổi tĩnh tâm bà thường dùng "sức mạnh
tinh thần" chứ không dùng trí tuệ. Bà cảm thấy tiếp xúc
được với hết mọi người trong phòng. "Tôi gây phiền toái
cho hết mọi người," Bà nói "tôi thuyết pháp như Đức Phật”
Tất cả những gì bà làm đều phát xuất từ tấm lòng, từ
năng lực trí tuệ, trong lời nói và không phải từ chính
suy nghĩ.
"Điều
tôi quan tâm nhất chính là sự biến đổi xã hội" Bà tiếp
tục thông qua chú tâm thực sự đến thể chất, trí tuệ
và tấm lòng, con người ta trở thành nhạy cảm hơn, ít bạo
động hơn, quân bình hơn trong suy nghĩ.
"Điều
quan trọng không phải là bắt họ ngồi xếp bằng hoặc ngồi
trên ghế. Việc hành thiền chỉ là một phương tiện mà thôi."
Bà
rất hài lòng về chất lượng tập trung trí tuệ (mindfulness)
trong suốt buổi cuối tuần vừa rồi. "Tôi có nhận thấy
được cách xử lý bằng lý trí của mọi người không? “Tôi
thực sự cảm động, thưa thầy yêu quí".
Ruth
cũng đã tiến hành thực tập hành thiền tại Nhật bản hai
năm (1964-1966) học hỏi với thiền sư Soen Roshi, Yamada – roshi
và Yasutani-Roshi và bà cũng thực hành "koan" với thiền sư
Maezumi-roshi tại Los Angeles. Bà cho biết, thiền sư Soen-Roshi
nâng đỡ đặc biệt bối cảnh Thiền Minh Sát (Vipassana) của
bà. Trong khi một vài thiền sư vĩ đại nhất hiểu được
tầm quan trọng của truyền thống Đại Thừa như là một
nền tảng. Thật không may đối với nhiều đạo hữu hành
thiền định (Zen). Bà cảm thấy thuyết pháp chính xác về
tập trung trí tuệ thường bị quên lãng nơi truyền thống
đó.
Ruth
đặc biệt không quan tâm đề cập về đời tư của mình.
Bà nói, thiền sư phải ở trong hậu trường như một người
bạn tốt, "Điều chúng tôi muốn chính là rút lại "cái tôi"
và "bản ngã". Người ta thường có khunh hướng chú tâm đến
phẩm chất riêng của thiền sư đến nỗi họ tập trung tất
cả chú ý vào đó. Tại sao phẩm chất riêng của tôi lại
quan trọng đến thế?” Bà suy nghĩ, cách tiếp cận của bà
– với nhiệt khí, lòng sốt sắng và tấm lòng cởi mở –
sẽ kêu mời được mọi người cởi mở cõi lòng ra và nhận
ra con người thật của mình và bỏ qua cá tính riêng của
mỗi người."
Bà
cho biết, những khi không bận thuyết pháp bà thường đến
cư ngụ tại đồi Hollywood với chồng và tỏ ra là "một bà
nội trợ rất sáng tạo". Bà làm vườn, nướng bánh, chăm
sóc vật nuôi và các thiền sinh riêng lẻ. Hiện nay bà rất
thích thú làm việc với các nữ thiền sinh. "Tôi rất thích
họ, họ là một phần cuộc sống của tôi" Bà đánh giá cao
tinh thần tiên phong của họ. Tinh thần tìm tòi và nghiên cứu
những giá trị mới. Rất nhiều thiền sinh của bà đặc biệt
là thuộc vùng Bờ Tây (West Coast.) Bà cho biết, họ là những
phụ nữ dám thách thức những hình thức xã hội truyền thống
và họ đã dám quay lưng lại với những quan hệ thu hút người
khác phái. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh, "Chúng ta không phải một
nhóm người qui tụ lại để chống lại nam giới. Nhưng để
tìm cho ra sức mạnh của chính chúng ta và những trách nhiệm
mới, hiện nay chúng ta cần thể hiện chính chúng ta vậy."
Trái
lại, tại Bờ Đông và tại Châu Âu, hầu hết các thiền
sinh của bà đều là nam giới. Bà nói, với họ bà đã trao
trọn tấm lòng cho họ. Thường xuyên bà phải thực hiện
các cuộc phỏng vấn cho tới nửa đêm.
"Nhưng
đó là cuộc sống, tôi cảm thấy thời gian của tôi cũng
là thời gian của họ." Không còn phải là vấn đề lựa chọn
nữa”. Bà nói, "bạn chỉ cần cảm thấy nghị lực Phật
pháp trong người bạn và bạn không hành động khác đi được.”
Bà cảm thấy thân phận riêng tư của bà quá tầm thường
nhỏ bé và chẳng còn gì để mà lựa chọn nữa. Bà chỉ
đơn giản thực hiện những gì phải làm.
Khi
chúng tôi chào tạm biệt, lời cuối cùng bà nói là: "Xin chúc
mừng Giáng sinh vui vẻ, bạn yêu quí."
Để
tăng thêm cuộc tiếp xúc tương đối ngăn ngủi với Ruth,
tôi tiếp chuyện rất dài với hai thiền sinh lâu năm của
bà. Người đầu tiên là trợ lý được hai năm, đang sống
tại Dhamma Dena (trung tâm huấn luyện thiền của Ruth tại sa
mạc California) và đã theo bà đi thuyết pháp tại nhiều nơi
trên đất Hoa kỳ. Hiện nay bà ta đã định cư tại bắc California
và cũng đang tổ chức các cuộc tĩnh tâm riêng của mình.)
Lần
đầu tiên thiền sinh này đến gặp Ruth, bà đã tìm hiểu
Thiền Minh Sát (Vipassana) một thời gian và nhân viên trong Hội
Insight Meditation tại Barre, bang Massachusetts và đã sống hai
năm cách ly –“Cách gần gũi nhất để trở thành một ni
sư theo như tôi được biết: chính là thể hiện một cách
sống đơn sơ và phó thác," gồm cả việc hàng ngày chỉ mặc
một thứ áo Bà-ton kiểu Ấn độ.
Nhưng
rồi Ruth xuất hiện. "Bà dùng cả trang sức lẫn quần áo
lụa là. Và tôi thật sự sửng sốt! Cần tới vài năm tôi
mới thực sự hòa đồng được, nhưng hiện nay tôi mới nhận
ra điều Ruth truyền đạt cho tôi chính là một phụ nữ như
thế cũng có thể được chấp nhận nơi truyền thống (Đại
thừa). Có gây phiền hà chút đỉnh cũng không sao, thể hiện
đích thực con người bạn là ổn thôi." Bà đã quá quen duy
trì tính khiêm tốn và tự từ bỏ. Và đây chính là người
phụ nữ ăn nói bộc trực, nhuần nhuyễn phân tách bá tánh
theo mọi phương hướng.
"Bà
hoàn toàn hiểu rõ đã gây cho người khác khó chịu. Bà cho
biết, "họ đang mê ngủ trên kia. Hãy đánh thức họ dậy!’
Tôi suy nghĩ bà mang đặc tính của một Đại Sư Thiền định
trong người. Tại thiền viện Dhamma Dena, bạn phải luôn tỏ
ra sòng phẳng. Nếu bạn đứng vào địa vị của bà, tôi
đoán chắc bà phải có quyền hành xử với bạn. Những khi
bị thách thức bà thường cho biết, ‘Lúc bạn đến đây
với tư cách là một thiền sinh, bổn phận của tôi là dạy
Phật pháp cho bạn một cách đúng đắn.’
"Tôi
còn nhớ một đêm nọ chúng tôi đã sẵn sàng bước vào khóa
huấn luyện và bà vừa từ Los Angeles tới với một xe vận
tải chất đầy đồ đạc. Và toàn bộ lô hàng đó phải
được đưa xuống và chất vào đúng chỗ. Cuối cùng vào
khoảng nửa đêm, công việc mới hoàn tất và mọi người
hoàn toàn kiệt sức. Và khóa huấn luyện sẽ được khai mạc
sáng ngày mai. Ruth xuất hiện và nói, "Con yêu, sao chúng ta
không nướng bánh đêm nay? ban sáng trời nóng quá, con không
muốn nướng bánh bây giờ khi trời vẫn còn mát không? Nhưng
con đã làm việc cả ngày hôm nay bà không biết sao: sửa soạn
mứt cho điểm tâm và tất cả mọi sự bà yêu cầu trước
khóa huấn luyện. Và con thực sự kiệt sức rồi." Tôi không
thể tin được bà lại đề nghị nướng bánh. Tôi không còn
biết mình đã nói gì. Nhưng bà nhìn tôi thật ưu ái và nói,
"Thôi được, con cứ đi ngủ đi còn mẹ đi nướng bánh cho.”
Tôi không suy nghĩ gì thêm. Vấn đề đã quá rõ những gì
tôi cho là quá sức chịu đựng chỉ là sức phản kháng lại
với sự việc hiện đang diễn ra ngay tại lúc đó. Tôi nhận
ra chẳng có chi khác biệt khi có người nói, “Thế tại sao
bạn không hành thiền suốt đêm đi?” Ruth có cách nhận rõ
khi bạn có lý và đề nghị bạn tiếp tục thực hiện.
"Hình
như bà đang đóng vai một Roshi (Đại sư) cũng như các nhân
viên khác trong phòng thiền đang dạo quanh để chống đỡ,
nhắc nhở và thức tỉnh bạn khi hành thiền. Bà đã thực
hiện tất cả các nhiệm vụ trong buổi hành thiền và thật
là một việc cực nhọc! Và tôi cần đến một vài năm mới
dám mở miệng nói, “Cám ơn thiền sư và đêm nay con lên
giường đi ngủ sớm.
"Tôi
hỏi, "Thế thiền sư Ruth có nghị lực mạnh mẽ đến vậy
sao?”
"Bà
có nghị lực thật dẻo dai, vâng. Nhiều hơn bất kỳ một
ai trong chúng tôi và bà cảm thấy chỉ cần thực hiện những
gì phải được hoàn thành mà thôi. Thiền viện Dhamma Dena
là một nơi hết sức bận rộn. Lúc nào cũng có những việc
cần được xây dựng và đổi mới. Công việc phải làm ở
đây không bao giờ kết thúc. Phải một thời gian dài tôi
mới nhận ra điều đó, tại đây công việc kiến thiết chẳng
bao giờ kết thúc. Bà đã coi công việc như là một phần
luyện tập. Và nhiệm vụ của bà là khuấy động lên mọi
sinh hoạt tại Trung Tâm."
Tôi
nhớ lại yên lặng không được tuân thủ triệt để trong
các cuộc tĩnh tâm tôi đã tham dự và tự hỏi không biết
có phải là chi tiết cá biệt hay không.
"Bà
thực hiện giảng dạy và hướng dẫn nhiều hơn bất kỳ
các thiền sư nào khác. Đôi khi đối với tôi cũng không phải
dễ dàng thực hiện. Bạn phải biết những hạn chế của
mình và tự xoay sở toàn bộ vấn đề. Nhiệm vụ của tôi
không phải là xét đoán mà là yêu mến thiền sư của tôi.
Cũng như tỏ cho bà biết làm sao sự việc ảnh hưởng đến
tôi, những gì tôi không thực hiện ngay từ đầu. Đây chính
là viền mối trong quan hệ giữa tôi với thiền sư cũng như
một khía cạnh tiến bộ mới của tôi trong tương quan với
những người có quyền hành tại thiền viện. Đã có sự
phân biệt rõ ràng giữa những người "bên trong" là thiền
sư - ngay cả khi họ là phụ nữ – và những người "bên
ngoài" thuộc thành phần "theo học". Điều đó tạo ra mối
cách biệt (do bản ngã chúng ta tạo ra) chúng ta dứt khoát
phải vượt qua.
"Nhưng
đặc biệt với Ruth, nếu tôi càng tin tưởng vào chính những
nhận xét của mình một cách khách quan và vô tư, bà càng
tin tưởng tôi hơn và chúng tôi đối xử với nhau thật bình
đẳng. Và rồi chúng ta có thể bắt đầu đùa giỡn với
nhau!"
"Bà
biết đó, Ruth đã tiên phong thực hiện được một điều
không có thể tin nổi.” Thiền sinh này nói tiếp, "Thiền
sư U Ba Khin không hướng dẫn cho những người hành thiền
di chuyển quanh phòng thiền và khua tay trên không một cách
nhịp nhàng. Bà có biệt tài hướng dẫn cẩn thận cho nhóm
kinh nghiệm kích hoạt sự hiện diện thể lý nơi thân thể,
một kinh nghiệm tập trung ý thức đạt đến từng tế bào
trong cơ thể." (chính kinh nghiệm tôi có được trong một cu