MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
Lời
mở đầu
Lời
giới thiệu 2
1.
Thiền Sư Toni Packer
2.
Thiền Sư Maurine Stuart
3.
Thiền Sư Pema Chodron
4.
Thiền Sư Charlotte Joko Beck
5.
Thiền Sư Ruth Dension
6.
Thiền Sư Bobby Rhodes
7.
Thiền Sư Jiyu Kennett
8.
Thiền Sư Karuna Dharma
9.
Thiền Sư Sharon Salzberg
10.
Thiền Sư Gesshin Prabhasa Dharma
11.
Thiền Sư Sonja Margulies,Yvonne Rand
12.
Thiền sư Jacqueline Mandell, Colleen Schmitz, Ayya Khema
13.
Thiền sư Tsering Everest, Joanna Macy
Chú
thích
Thuật
ngữ chuyên môn
LỜI
GIỚI THIỆU
Chim
ra đồng tìm thức ăn, dù có xa tới đâu, tối cũng quay về
tổ; nguời có đi xa tới đâu cũng nhớ về nhà. Tôi được
duyên may đi du học tới nay thời gian cũng khấm khá nên tôi
rất muốn về thăm quê hương, thăm nơi mà tôi được gia
nhập vào tăng đoàn Chùa
Bửu Quang -Tổ Đình Nguyên Thuỷ Phật Giáo Nam Tông Việt
Nam.
Lần
trở về thăm quê hương, thăm chùa, tôi thật ngạc nhiên vô
cùng sau 9 năm ở tại An Độ. Ở Việt Nam ta phát triển nhanh
quá, đi tới đâu cũng thấy mới mẽ, nhìn tới đâu cũng
thấy đổi thay, ngay cả chùa chúng tôi cũng vậy. Xưa kia không
ai biết đến hay đã đi vào lãng quên, và nay đã được sự
dìu dắt của Đại Đức Thiện Minh một vị sư trông còn
rất trẻ và rất trẻ, nhưng tài đức thật vẹn toàn, hết
lòng lo cho đạo pháp, và giờ đây Tổ Đình Nam Tông mỗi
ngày thêm sáng lạng. Tổ Đình Hệ Phái có một khung cảnh
thật tuyệt vời, rất thích hợp với những ai muốn tu thiền.
Phật giáo Nam Tông ở các nơi trên thế giới trong những năm
gần đây đã gây một tiếng vang trên thế giới qua phương
pháp hành thiền Vipassana. Sự đóng góp này không chỉ ở tu
sĩ Phật giáo mà thôi, những vị cư sĩ cũng chiếm một vị
trí quan trọng trong công cuộc truyền bá thiền Minh Sát. Ví
dụ như ở Thái Lan có Nữ Cư sĩ Thiền sư Achaa Nep, An Độ
có N. Goenka, và còn nhiều cư sĩ khác nữa, đặc biệt tại
Hoa Kỳ có 13 vị Thiền sư Phật giáo đã gây sự chấn động
trong những năm gần đây qua tập sách “Nữ Thiền Sư Phật
Giáo" tại Hoa Kỳ. Điều đặc biệt trong quyển sách này là
sự hài hoà cả 3 truyền thống Nam Tông, Bắc Tông và Phật
giáo Tây Tạng, bằng sự nhuần nhuyễn trong phương pháp giảng
dạy. Vipassana đã trở nên một di sản văn hoá Phật giáo
trên thế giới.
Do
đó, chúng tôi xin đuợc trân trọng giới thiệu đến qúi
độc giả gần xa qua tập sách này, để chúng ta có cái nhìn
rộng rãi hơn ở các nước phương tây, đặc biệt tại Mỹ
nơi ấy vật chất đạt tới đỉnh cao của nó và giờ đây
thiền Vipassana cũng chiếm một vị trí quan trọng tại xứ
này. Chúng tôi hy vọng rằng một ngày không xa tại Việt Nam
chúng ta không chỉ có 13 vị Thiền Sư Nữ Phật Giáo mà thôi,
mà còn nhiều hơn thế nữa. Đặc biệt sau khi Mỹ ký kết
với Việt Nam gia nhập Thương Mại Quốc Tế (WTO).
Xin
trân trọng giới thiệu.
Bửu
Quang Tự, ngày 06 tháng 06 năm 2006
Tỳ
Khưu TƯỜNG QUANG
-ooOoo-
LỜI
MỞ ĐẦU
Biến
cố đó xảy ra vào một buổi chiều Chúa Nhật giông bão,
trung tuần tháng Hai năm 2000, với một nghi thức cổ trăm năm
có tên lễ Mountain Seat. Ni Sư Linda Ruth Cutts đã nhận chức
Nữ Thiền Viện Trưởng Trung Tâm Thiền San Francisco. Nghi thức
diễn ra tại Phật đường thuộc Trung Tâm Thiền San Francisco,
có khoảng hơn trăm người tham dự. Trong khi mọi người thinh
lặng hành thiền, nghi thức tấn phong rất tỉ mỉ và mang
đậm phong cách nhà Phật được tuần tự diễn ra.
Đối
với tôi, sự kiện này vô cùng ấn tượng, vì biết bao đổi
thay đã diễn ra trong giới phụ nữ và ngay cả trong thế giới
Phật giáo Hoa Kỳ vào những năm sau lần xuất bản đầu tiên
cuốn sách này vào năm 1987. Tôi nghĩ chúng ta đang ở trên
đỉnh thủy triều. Hiện nay mọi sự đã rõ ràng. Tỷ lệ
phụ nữ nắm địa vị lãnh đạo và nữ thiền sư ở mọi
cấp và mọi truyền thống đang biến đổi liên tục.
Một
tay Ni Sư Linda cầm cây trượng cao bằng gỗ, tay kia mang cây
gậy ngắn gắn chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Bằng những
cử chỉ lặp đi lặp lại nhiều lần, Ni Sư lắc lư chiếc
trượng sang phải, sang trái rồi cúi lạy về phía trước.
Từ đầu đến cuối Ni Sư di chuyển rất trịnh trọng, phong
thái tự nhiên, đầy nhân cách và thỉnh thoảng lại điểm
một nụ cười hóm hỉnh.
Nghi
thức đòi hỏi Ni Sư phải hết sức tập trung cả tư tưởng
lẫn hành động, đồng thời biểu lộ một ý chí từ bỏ
mãnh liệt và trọn vẹn, Có sáu thành viên trong đoàn thể
tu trì hiện diện, họ mặc áo cà sa nâu sậm và đưa ra những
câu hỏi thẩm định ý chí phấn đấu của đương sự, thuần
tính nghi thức Phật giáo. Ni Sư trả lời rất khẳng khái,
tự nhiên, nhưng vui vẻ hài hước. Khi đã hoàn tất phần
thẩm vấn, Ni Sư ra hiệu cho vị sư chủ trì nghi thức tiến
lại gần mình. Bà tiến lên và hai người ôm chầm lấy nhau.
Trước
giờ diễn ra nghi thức thụ giới, Ni Sư Linda đã đề cập
đến chồng bà, ông Steve, như là một "người bạn đồng
thọ giới cửa Phật”, họ tự coi mình như hai con bò cùng
kéo cày qua vũng đầm lầy. Hiện giờ Steve và con gái 10 tuổi,
Sarah, thường nhắc đến những đặc tính tâm linh mẹ đã
đem lại với cương vị Thiền Viện Trưởng, cũng như những
ân huệ làm phong phú cuộc sống gia đình đầm ấm của họ.
Ông Steve quá xúc động đến rơi lệ, giọng nói ông đứt
quãng nhiều lần.
Trong
dáng vẻ nghi thức thọ giới bộc trực đó, Ni Sư Linda đã
lộ rõ bản chất nữ tính của bà. Giọng nói thỉnh thoảng
hơi mềm dẻo, luôn bộc trực, thẳng thắn và với lòng thương
không nao núng. Đề cập đến chân lý Phật pháp Ni Sư Linda
thốt lên "Con trâu vĩ đại, ta đã uống cạn nguồn sữa Phật
pháp của ngươi, hư vô, trống rỗng, không một chút thần
thánh." Nói về Đại Thiền Sư Suzuki, “Vị sáng lập những
ngôi chùa này," Ni Sư cho biết, "Ngài đã trao cho chúng tôi
tất cả. Lời thề nguyền vừa nảy lộc sẽ không để lời
Phật dạy phải gián đoạn.” Và sau đó Ni Sư còn nói thêm
"Chớ vì chúng ta chăm sóc lẫn nhau với tình nghĩa cha con bao
la và hân hoan. Hãy luôn chăm sóc đến cây cối, muông cầm
và ngay cả cái thế giới xinh đẹp này".
Ngay
những cơ sở Phật giáo khác, từ Bờ Đông sang đến Bờ
Tây những giá trị phụ nữ đã thấy xuất hiện như: chấp
nhận phụ nữ và gia đình vào tịnh thất. Tôn trọng sự
đa dạng, ý thức và hoạt động phục vụ xã hội, kể cả
dân chủ hóa cơ cấu tổ chức đang hình thành với một mức
độ nào đó. Việc thờ tự hàng ngày cũng được thay đổi
cho phù hợp với các vị tiền bối cả nam lẫn nữ.
Ngay
tại Trung Tâm Thiền San Francisco hiện nay Tụng kinh ban mai cũng
đã tôn vinh "Tất cả những nữ thiền sư hiện diện cũng
như vắng mặt." Những nhân vật nữ như Tara và Quan Âm cũng
được bày trong phòng thiền bên cạnh các tượng Phật khác.
Thay đổi đang từ từ diễn tiến và rất khó nhận ra. Nhưng
khám phá những thay đổi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
vị thế của phụ nữ trong Phật giáo thực sự đã làm tôi
thật cảm kích.
Tôi
có cơ hội nối lại quan hệ với những nữ thiền sư nổi
tiếng, tôi đã vinh dự phỏng vấn trong lần xuất bản đầu
tiên cuốn sách này, một điều hết sức thú vị. Tuy vậy
cũng có nỗi buồn âm ỷ từ ngày cuốn sách được phát hành
vào năm 1987 cho đến nay đã có bốn trong số mười bảy vị
tôi phỏng vấn đã qua đời. Trong đó có Thượng Tọa Gesshin
Probhasa Dharma; Đại sư Jiyu Kennett; Ayya Khema và Maurine Stuart,
Đại sư Gesshin qua đời chỉ ít tuần lễ trước khi bản
thảo cuốn sách được hoàn tất, thế nên tôi đã có cơ
hội tiếp chuyện thân mật với ni sư nhiều lần, kể cả
liên lạc bằng thư từ cho đến cận kề ngày ni sư qua đời.
Tôi cũng có cơ hội liên hệ với ba nhân vật cung cấp thông
tin thân cận – đó là các thiền sinh, các cộng tác viên
và cả các vị thừa kế Phật pháp của các Ngài – để
biết thêm những chi tiết về cuộc đời, những thành tựu
cũng như cả cái chết của thiền sư và bạn bè của họ.
Điểm
phong phú nhất trong quyển sách này chính là sự mới mẻ và
nhạy bén trong sự đánh giá mới đây của tôi về tính duy
nhất và cách truyền tải Phật pháp (hay đơn giản là thể
hiện) cá biệt của mỗi phụ nữ, vị đó tôi muốn ám chỉ
đến tính tự nhiên của mọi thực tại. Chúng ta luôn phải
ghi ơn những điều nhắc nhớ chúng ta thức tỉnh, bớt gắn
bó với những tư tưởng phân tán và mang tính cách tình thế.
Những điều nhắc nhớ và những đổi thay này chỉ có được
nơi cá nhân mỗi Thiền Sư tôi đã có dịp trao đổi (hay đề
cập đến trong trường hợp ba nhân vật đã qua đời). Đôi
khi những khơi gợi đó không những xuất hiện qua thuyết
pháp, mà còn xuất phát từ tinh thần của mỗi cá nhân họ,
đã tỏa sáng qua thuyết pháp (như trường hợp thiền sư Joko,
Karuna và Ruth Dension). Đôi khi những đề tài phỏng vấn lại
xoay quanh những điều đặc biệt thúc bách tôi vào một thời
điểm nhất thời (như trong trường hợp Lama Tsering). Có đôi
lúc những vấn đề chúng tôi đề cập đến lại rất khó
khăn và không thể nào tránh khỏi, như bệnh tật và chết
chóc, lại xuất hiện thường xuyên hơn như tôi dự đoán
được.
Một
số ít đề tài cũng gây ấn tượng mạnh với tôi. Một số
người đang phải đối mặt với những tán thành và phản
đối về cách phổ biến và điều này biểu hiện rõ ràng
trong mỗi bài giảng (Sharon, Pema, Gesshin và Collen) và một số
thiền sư đã mở rộng hoạt động của mình nơi những lãnh
vực và những điểm gặp gỡ mới để truyền bá tư tưởng.
Một số khác lại đặc biệt nhấn mạnh đến ước muốn
khẩn trương đưa thiền vào các nhà tù của chúng ta. (Colleen,
Karuna và Sharon).
Cho
phép tôi cám ơn tất cả các quí vị có mặt đúng lúc, đúng
chỗ một cách trọn vẹn. Cuối cùng, cộng với những nhân
vật đã được phỏng vấn và nêu danh tánh trong sách này,
tôi còn muốn tri ân tất cả những ai đã nhiệt tình quảng
đại cống hiến thời gian và quan tâm, trong số đó phải
kể đến Jyokuko và Kyogen Carlson, Arida Emrys, Trudy Goodman và
Sabine Volchok. Cầu mong chúng ta tất cả sẽ còn được gặp
lại nhau.
Tháng
11 năm 2000
-ooOoo-
LỜI
GIỚI THIỆU
CHO
LẦN PHÁT HÀNH ĐẦU TIÊN
Điều
ít thuyết phục nhất nơi Phật giáo là thái độ đối với
giới tính. Đức Phật đã miễn cưỡng chấp nhận phụ nữ
vào Tăng đoàn (Sangha) và tiên đoán sự có mặt của họ sẽ
làm tàn lụi hệ thống tôn giáo của Ngài... Khi chúng ta ôn
lại lịch sử Phật giáo Thiền định (Zen) chúng ta nhận thấy
mối ác cảm giới tính nhiều đến thế, hay một thái độ
giới tính lệch lạc như thường thấy nơi các Ni đoàn Thiên
Chúa giáo, nhưng chỉ thấy một thái độ dửng dưng vô tư
về giới tính mà thôi. Phụ nữ không thấy xuất hiện trong
bất kỳ trích đoạn nào nơi tác phẩm Hekiganroku hoặc Mumonkan.
Thế nhưng một cuốn sách mang tựa đề Phụ Nữ Với Phật
giáo (Zen) đã được xuất bản. -- - R.H. Blyth (1960) (1)
Kính
Ngài Blyth, thật đáng khâm phục tinh thần tuyệt vời và con
mắt tinh đời của Ngài. Cuốn sách này không phải là câu
trả lời chính xác cho thách thức Ngài đề ra, nhưng nhờ
đó mà cuốn sách được tăng thêm sinh lực. Có điều chắc
chắn làm Ngài thích thú là phiên bản vừa qua đã khai sáng
một số phụ nữ nơi những siêu tập về Phật giáo (Zen)
mà Ngài đã đề cập. Thực tế thì, những phụ nữ này không
được nêu đích danh hoặc đề cập đầy đủ, nhưng những
nhân vật trong bóng tối thỉnh thoảng xuất hiện đã vạch
ra những đường nét thường rất sắc bén của họ rồi lại
biến mất không để lại một vết tích nào cả.
Phật
giáo đã xao nhãng phụ nữ là điều có thật. Đức Phật
đã chống lại việc thu nhận phụ nữ vào đội ngũ tu trì
của Ngài cũng là điều có thật và, cuối cùng Ngài cũng
đã đề ra những qui luật có vẻ rất chướng tai gai mắt
đối với chúng ta ngày nay. Tính mập mờ và những cấm kỵ
mang tính phân biệt đối xử đó đã được giải thích như
là một thái độ mang tính xã hội, với mục đích để bảo
vệ một đoàn thể tu trì vừa mới được thành lập, Ngài
đã chọn không thỏa hiệp. Thực tế là, trừ những tàn dư
tại các nước thuộc vùng Mahayana, Ni đoàn nữ suy thoái vào
thế kỷ thứ ba sau CN và hoàn toàn biến mất vào thế kỷ
thứ 9 sau CN. Cho dù đang có những dấu hiệu phục hồi sức
sống đầy ấn tượng vào thời đại chúng ta, căn cứ vào
lịch sử mà nói thì nam giới chiếm đa số áp đảo trong
giới tu sĩ Phật giáo.
Một
điều hết sức tồi tệ là phụ nữ hoàn toàn không có mặt
trong một lượng tích truyền thuyết Phật giáo khổng lồ..
Và chắc chắn là, tất cả các vị giáo trưởng, các Đại
sư cũng như các nhà thông thái đều là nam giới. Ngay cả
mới đây một cuốn sách mang tựa đề “Làm Thế Nào Cho
Thiên Nga Xuất Hiện Trên Mặt Hồ: Lịch Sử Truyện Kể Về
Phật giáo Tại Hoa Kỳ (2) do tác giả Rick Field viết, một
tác phẩm điển hình như vậy mà hầu như vẫn thấy vắng
bóng phụ nữ.
Nhưng,
tôi hoàn toàn không muốn phóng đại, bức tranh đó đang thay
đổi. Cách vài năm không xa thi sĩ Gay Snyder có nói, “Một
biểu hiện duy nhất mang tính cách mạng trong việc hành đạo
Phật giáo tại Hoa kỳ chính là trên thực tế phụ nữ đang
tích cực tham gia. Ngay lúc đầu phụ nữ cơ bản đã bị loại.
Nhưng tại Hoa Kỳ, toàn bộ 50% tín đồ Phật tử là phụ
nữ. Điều gì đó sẽ xảy ra liên quan đến một số phương
pháp thuyết giảng và những thái độ đã được truyền lại
đang trở thành một đề tài thật hấp dẫn." (3) Snyder chưa
đề cập gì đến những Nữ Thiền sư, vì vào thời điểm
ông đưa ra nhận định trên, chưa thấy phụ nữ xuất hiện.
Sự phát triển tuyệt vời của đương thời, lưu lại nơi
cuốn sách này, là một hiện tượng vừa mới xảy ra trong
vài năm qua.
Mới
đây vào năm 1980 Ni Sư Rita Gross, trong một văn thư trình bày
tại Hội nghị mang tên là "Cuộc Gặp Gỡ Các Tôn Giáo Đông
Tây: Phật giáo &Thiên Chúa Giáo Đổi Mới Và Tương Lai
Nhân Loại" đã cho thấy thế hệ những người phụ nữ Phật
tử chúng ta "không có phương hướng anh hùng hay các vị thiền
sư vĩ đại đương thời để noi gương và bắt chước." Khi
tôi mới khởi sự công trình nghiên cứu vào năm 1983 tôi chỉ
biết được có ba nữ thiền sư. Đến bây giờ tôi có thể
kể tên ra đây hàng loạt những người đang giữ cương vị
quan trọng và còn rất nhiều vị khác đang tiếp bước họ.
Đương
nhiên Nữ giới đang "có mặt" ở khắp nơi. Tại những tổ
chức tôn giáo phương Tây, trên thương trường và trong lãnh
vực chính trị. Phật giáo không phải là tổ chức duy nhất
đã e ngại và nghi ngờ trí tuệ người phụ nữ cũng như
những khát vọng của họ. Nhưng chính Phật giáo đã thẳng
tay đàn áp họ, trong suốt hai mươi thế kỷ qua. Đương nhiên,
vẫn có những ngoại lệ – những con người đang tỏa sáng
và đầy tinh thần như các đệ tử đầu tiên của Đức Phật
Dharmadina và Khema, như Lion Yawn và Queen Srimala và những "phụ
nữ pha trà" Nhật Bản khác. Nhưng chúng ta hãy bắt đầu từ
điểm xuất phát.
II
Ngay
từ thời Đức Phật khởi sự đi hoằng đạo, phụ nữ đã
tích cực tham gia Phật giáo. Theo I.B. Horner, tác giả công trình
tiên phong buổi đầu viết về Phụ Nữ Dưới Thời Phật
giáo Nguyên Thủy (1930) (4). Những đồ đệ phụ nữ thường
dân đầu tiên đã trở lại ngay sau bài thuyết pháp đầu
tiên của Đức Phật tại Quảng Trường Con Nai (Deer Park) ở
Isipatana. Họ là mẹ và người vợ trước của ngài Yasa, "một
thanh niên quí tộc" người đã đạt đến giác ngộ hoàn toàn
và ngay cả cha của chàng thanh niên đó cũng đã trở thành
tín đồ Phật giáo, Horner viết “Đối với những người
phụ nữ này thì Đức Phật Cồ Đàm (Gotama) đã đề cập
đến bằng những lời lẽ tương tự khi ông trao đổi với
Yasa và thân phụ của ngài."
Mức
độ Đức Phật chấp nhận phụ nữ bình đẳng đến cỡ
nào thì không ai biết chắc. Tuy nhiên, mọi bằng chứng đều
dựa trên những bài kệ được viết ra do các vị sư không
đáng tin cậy qua những cốt truyện được lưu lại rất lâu
sau sự kiện đã xảy ra. Theo tôi việc nghiên cứu có tính
thuyết phục nhất là dựa vào tinh thần của hầu hết các
lời thuyết pháp cũng như thông tin về những điều kiện
xã hội tại Ấn Độ vào thời đó, cho là Đức Phật không
chấp nhận phụ nữ được bình đẳng trên tinh thần nhưng
xét dưới góc độ con người Đức Phật đã không được
miễn trừ khỏi những thành kiến sâu xa nơi không gian và
thời gian của người.
Một
trong số những thành kiến trên rất cay nghiệt và ăn sâu
trong con người chỉ có thể thấy được nơi một vài trích
đoạn từ những bản văn Phật giáo thời cổ đại. Kiểu
dáng phụ nữ đầu tiên được coi như là quỷ dữ được
tìm thấy trong văn chương Phật giáo Nguyên Thủy (Theravadin),
được biết đến như là Quy Luật Pali. Nhưng theo Diana Y Paul
trong tác phẩm nổi tiếng của bà mang tên Các Phụ Nữ Phật
giáo (5) hỏa ngục là nơi giam giữ đầy những phụ nữ được
tạo thành với hình tượng kỳ cục, già nua và ghê tởm,
được đọc thấy trong cả văn chương Đại Thừa lẫn Tiểu
Thừa. Trong “câu chuyện về vua Udayana Vatsa”, trích trong
cuốn Collection of Jewels, một trích đoạn kệ có niên đại
khoảng 1 thế kỷ sau CN thì phụ nữ được trao cho “quyền
lực phi thường”, Paul đã thể hiện trong hai vần thơ sau
đây:
Rắn
và chó chết là .....? hai sinh vật đáng ghét
Nhưng
đàn bà còn đáng ghét hơn chúng nhiều
Đàn
bà là người đánh cá
Lời
phỉnh phờ đàn bà là chiếc lưới
Đàn
ông trông tựa con cá
Đang
dẫy dụa mắc vướng vào lưới.
Trích
từ kinh Mahaparinibbana Sutta qua một mẩu đàm thoại sau đây
giữa Đức Phật và đệ tử yêu quý của ngài là Ananda, người
sau này đã được chứng tỏ là người biện hộ hùng hồn
cho quyền người phụ nữ:
Ananda:
Thưa thầy, chúng ta phải hành xử ra sao đối với phụ nữ?
Đức
Phật: Ananda thân mến, coi như không nhìn thấy họ.
Ananda:
Nhưng trong trường hợp chúng ta cứ phải nhìn thấy họ thì
sao?
Đức
Phật: Ananda con yêu, đừng tiếp chuyện với họ.
Ananda:
Dạ thưa thầy, nhưng nếu họ phải tiếp chuyện với ta thì
sao, chúng ta phải làm gì?
Đức
Phật: Ananda thân yêu. Con phải cảnh giác tối đa. (6)
Những
thái độ Phật giáo truyền thống xem phụ nữ là hạng người
thấp kém "phản ánh một quan niệm về người phụ nữ như
là một sinh vật nhập thể dâm đảng và xấu xa". Diana Paul
viết, "Đàn bà sẵn có bản chất thú vật đi kèm với những
khuynh hướng dâm dục không thấy có nơi bản chất nam giới".
Đàn bà tự bản chất sinh học đã là thứ có khuynh hướng
dâm dục không thể nào kiểm soát được. Chỉ có thái độ
khinh miệt may ra giúp họ có thể chối bỏ được số phận
sinh học tội lỗi đó”.
Một
phần, Paul còn giải thích thái độ khinh miệt phụ nữ của
các nhà sư dẫn đến việc các sư sãi phải tùy thuộc vào
các bà nội trợ trong công việc bố thí, "những cảm nghĩ
bị phụ nữ thao túng và lệ thuộc vào họ đã bộc lộ thái
độ tự gớm ghét mình, thể hiện trong thái độ ghét phụ
nữ.” Họ so sánh mỗi người phụ nữ, với khả năng tiêu
cực, như là mầm móng gây xáo trộn và đổ vỡ. Thần Samasan
được ví như là phụ nữ và phải được khuất phục. Cuộc
sống chiến một mất một còn này được ví như cuộc đấu
tranh giữa nam giới/ tinh thần/ niết bàn chống lại nữ giới
/thể xác/ địa ngục.
Hơn
thế nữa, theo như các Phật tử tiên khởi, "người mẹ là
biểu tượng của đau khổ và là người không ngừng sản
sinh ra sự sống trong đau khổ, hầu như một định luật tự
nhiên cho phụ nữ là phải chịu đựng đau khổ.” Những
bản văn đề cập đến phụ nữ như là những người tu hành
không bao giờ thấy đề cập đến, thiên chức làm mẹ là
điều vẫn được coi như ngang bằng với đau khổ, sự bó
buộc và lệ thuộc. Và mục đích tôn giáo của Phái Đại
Thừa (Mahayana) chính là giải thoát khỏi những thái độ tương
tự như vậy.
Một
cách duy nhất để cho người mẹ được công nhận là sinh
hạ con trai. Những bản văn Phật giáo đầu tiên cho thấy
phụ nữ bị xã hội chế diễu và hạ nhục khinh miệt cho
đến khi họ sinh hạ được con trai. Paul nhắc lại qui luật
không tránh khỏi là mẹ Đức Phật phải chết sau bảy ngày
sinh hạ ra Ngài để “loại trừ bất kỳ hành vi giao cấu
nào sau biến cố kỳ diệu đó.” Rõ ràng là toàn bộ các
bà mẹ của Chư Phật đều bị định mệnh dành cho một số
phận oan nghiệt.
Một
câu chuyện về Ni đoàn Phật giáo (nữ tu) nguyên thủy. Bản
tường trình truyền thống cho thấy, "rất có thể đó là
một phát minh tu trì," theo nhà văn Francis Wilson, vừa mới dịch
câu chuyện trên thì có những chi tiết huyền thoại đã được
đưa vào. (7) Điển hình cụ thể là vai trò quan trọng của
Bà Mahaprajapati, người dì và mẹ nuôi của Đức Phật. Ta
thường thấy vọng lại trong lịch sử về Ni đoàn các ni
sư thuộc nhánh đạo Jainism (xuất hiện một thời gian ngắn
trước những Ni đoàn Phật giáo tại Ấn-độ) do vai trò tương
tự bà dì của Mahavira, người sáng lập ra nhánh đạo Jain.
Ngày
nay ta thấy nguồn sinh lực mới nơi các Ni đoàn ni sư trên
khắp thế giới, nhưng cộng đoàn Nữ Tỳ Kheo đã không thể
tồn tại như là một lực lượng sinh động ngay từ lúc đầu
cũng như trong truyền thống Phật giáo Mahavira. Cho dù trên
nguyên tắc nó vẫn tồn tại, bước đường của các nữ
tỳ kheo đã sụp đổ ngay từ lúc đầu. Paul tin rằng, chính
vì
cảm thấy mình là mối đe dọa sâu xa đặt ra cho xã hội
và tôn giáo, cho nên các phụ nữ đã rời bỏ gia đình.
Đức
Phật hiển nhiên đã ngờ vực trầm trọng chính mình. Lịch
sử cứ diễn tiến, năm năm sau khi Ngài chính thức bắt đầu
hoằng đạo, ngay tại công viên Nirodha Ngài đã phải gặp
một đoàn đông đảo các phụ nữ mặc áo dài mầu vàng,
do Mahaprajapati dẫn đầu. Họ đã âm thầm tiến bước, chân
xưng húp vì đã đi một quãng đường dài. Họ muốn từ bỏ
thế tục và thực hiện một cuộc sống khổ hạnh và cầu
xin Đức Phật chấp thuận. Ba lần họ yêu cầu Đức Phật
và cả ba lần đều bị từ chối. Họ than khóc nhưng không
hề nản lòng, Mahaprajapati và các đồ đệ đã xuống tóc
như là một dấu hiệu từ bỏ và đi bộ theo Đức Phật đến
Vesali. Tại đó họ gặp được một đồ đệ thân cận nhất
của Đức Phật, “Ngài Ananda nhân hậu," Ngài rất cảm kích
nhìn thấy họ trong tình trạng khổ sở bất hạnh như vậy,
đồng thời cảm kích vì lòng nhiệt tình và quyết tâm của
họ, đã cam kết đưa lời thỉnh cầu của họ trình bầy
với Đức Phật Cồ Đàm (Gotama.)"
Ngài
đã thỉnh cầu ba lần, mà không đạt hiệu quả (chúng ta
có thể nhận thấy nhịp điệu được lặp lại trong cốt
truyện dân gian ở đây, vì tất cả các cốt truyện dân gian
mỗi nơi mỗi khác.) Cuối cùng thì Ananda phải nại đến cảm
thức công lý và chính trực của Đức Phật; phải chăng phụ
nữ không có năng lực như nam giới để theo đuổi cuộc sống
phạm hạnh và tiến bước trên con đường giác ngộ? Đức
Phật đã thừa nhận đúng là phụ nữ có khả năng đó và
rằng không có trở lực tự nhiên nào ngăn họ đạt đến
Niết bàn. Ngài đã phải mủi lòng nhận thấy "những người
phụ nữ có giáo dục tinh tế đến vậy luôn luôn di chuyển
bằng xe kéo, nhưng họ đã đi bộ băng qua những cánh đồng
bằng vùng bắc Ấn độ để đến với Ngài tại vùng Vesali
này", Horner đã ghi lại như vậy. Tác giả cũng đã cho biết
đây là một ví dụ độc nhất được ghi lại về việc Ngài
bị thuyết phục trong tranh luận.
Nhưng
chỉ sau đó ít lâu Ngài đã đưa ra lời phân giải chính thức
liên quan đến mục đích của Ni đoàn Phật giáo. Theo quan
điểm của Horner thì "điều đó không hàm ý ở những từ
đã được cân nhắc và hình như thoạt nhìn là theo bản năng
trước sự buồn thảm và than vãn về những hy vọng không
mấy sáng sủa". Theo những gì kể lại thì: "Ananda thân mến,
nếu như phụ nữ không được phép thoát ra khỏi cuộc sống
gia đình và gia nhập vào một tình trạng vô gia cư nào đó,
chiếu theo giáo lý và kỷ luật được đấng Như Lai (Tathagata
- có nghĩa là Đức Phật) tuyên xưng, thì Ananda thân yêu, tôn
giáo tinh truyền này sẽ trường tồn lâu dài, Phật pháp sẽ
kéo dài hàng ngàn năm. Nhưng, Ananda thân yêu, một khi phụ
nữ được phép tham gia như thế thì đạo giáo tinh truyền
này sẽ không thể tồn tại lâu đến thế, còn luật pháp
sẽ chỉ kéo dài được năm ngàn trăm năm mà thôi."
Mặc
dù lời tuyên bố trên hình như chỉ để diễn đạt sự miễn
cưỡng chấp nhận phụ nữ vào các Ni đoàn. Trước tiên Horner
chỉ ra những hậu quả tất yếu của các nhà sư sẽ lộ
rõ ra đây (họ có thể "đương nhiên" giới hạn tầm quan
trọng đã được dành cho phụ nữ) và thứ hai là không thấy
bất kỳ biểu hiện khó chịu nào được lộ ra. Cuối cùng,
Horner kết luận là quãng thời gian dài nhiều năm các Ni đoàn
tồn tại ít quan trọng đối với Đức Phật hơn là mở các
Ni đoàn đó cho càng nhiều người tham gia càng tốt, rằng
"phân nửa số năm (năm trăm) với những điều kiện như hiện
nay còn giá trị hơn hai lần con số đó (một ngàn) với những
điều kiện trong quá khứ.”
Quan
điểm trên đã được Sulak Sivarksa chia sẻ khi viết trên tạp
chí Kahawai (8). Ông tin là không chỉ những lời tuyên bố của
Đức Phật thường đã bị cắt nghĩa sai lệch đi, nhưng rất
có thể còn ám chỉ cả sự không liên tục của Ni đoàn Thánh
Thiện Các Ni Sư Khất Thực. Ông còn kết luận thêm, "tốt
hơn nên chỉ đường vào Niết Bàn cho càng nhiều người nhiệt
tình tìm kiếm bao có thể còn hơn chờ cho đến khi cơ hội
đã trôi qua. có thể vượt khỏi cả hồi tưởng và ngay cả
những yêu cầu đã biến mất. Rất có thể đến tận điềm
tàn lụi."
Nhưng
trong trích đoạn bản dịch của Francis Wilson đang trong tranh
cãi, hình như có rất ít nghi ngờ về những kỳ vọng của
Đức Phật:
Ôi!
Ananda, chỉ có điều này là nếu phụ nữ tiếp tục tiến
bước theo luật của Giáo pháp, thì luật pháp này sẽ không
còn tồn tại lâu dài. Ôi Ananda thân yêu, điều đó tương
tự như trong một cánh đồng rộng lớn bao la thuộc quyền
sở hữu của một chủ nhà, có một lượng sấm sét với
cường độ sấm chớp đánh liên tục đến mức độ cánh
đồng đó bị phá hủy, tiêu tan và biến thành trơ trọi.
Ôi Ananda, chính vì thế, theo Phật pháp, khi mà phụ nữ rời
khỏi cuộc sống gia đình (xuất gia) cũng sẽ không tồn tại
được bao lâu. Ananda thân yêu, giả sử như có một cách đồng
mía thuộc sở hữu một chủ nhà. Xuất hiện một thiệt hại
do cơn bệnh Crimson cho đến khi những cây mía đường bị
phá hủy, tàn lụi và trở thành trơ trọi. Cũng giống vậy,
một khi phụ nữ xuất gia, thì Phật pháp cũng không còn tồn
tại được bao lâu.
Tới
điểm đó trong bản tường trình của Wilsons, Đức Phật đã
đưa ra chi tiết Tám Điều Luật Chính Yếu (bát kỉnh Pháp)
rất nổi tiếng cho Ni đoàn ni sư, giống như một lối đi
cao ráo được xây cất ngay trên miệng dòng sông hay là một
con kênh để ngăn chặn nước lại. Horner cho biết, “ngài
rất am tường thế giới ngài đang sống và có thể mường
tượng ra được những bất ổn miệng lưỡi vu khống thế
gian có thể tạo ra trong trật tự tự nhiên nếu như những
cơ may gây ra gương mù trong quan hệ phải bị cắt đứt. Vì
thế... ngài đã tỉa xén phương pháp của ngài một cách thích
hợp."
Sự
công kích lớn nhất đối với những quy luật này chính là
đặt Ni đoàn phụ nữ ngay dưới hiện trạng và quyền hạn
cao hơn của các vị sư. Các Nữ Tỳ Kheo bị lệ thuộc vào
các đồng sự nam giới của họ đối với những nghi thức
quan trọng và những điều cần phải được nắm giữ và
phải thuận theo hoặc chấp nhận ý kiến của họ trong mọi
trường hợp, tuy nhiên nhà sư có thể trẻ tuổi hơn hoặc
phải được tự huấn luyện. Quy luật đầu tiên (hay thứ
tám tùy theo nguồn tư liệu) ta đọc thấy: “Một Ni sư khất
thực, cho dù có tuổi đời hàng trăm năm vẫn phải chào,
phải đứng dậy khi có sự hiện diện của nhà sư, phải
cúi chào trước và thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ
thích hợp đối với một sư khất thực nam giới cho dù người
này mới chỉ khởi sự công việc tu trì."
Đơn
cử những qui luật xã hội vào thời đó, có lẽ chi tiết
thú vị nhất được kể lại là điều Mahaprajapati sau này
đã xin với Đức Phật, qua lời chuyển cầu của Đức Ananda,
xem có phải cùng một luật lệ về điều ưu tiên đó được
áp dụng cho cả hai Ni đoàn và tùy thuộc vào hiện trạng
của mỗi cộng đoàn thay vì do tình trạng giới tính. Điều
Horner gọi là những "bản tính nữ" đó đã rõ ràng đi trước
thời gian và đương nhiên đã bị khước từ.
Những
qui luật liên quan đến kỷ luật nữ giới cũng được tăng
cường thái độ ưu thế là phụ nữ thường "say đắm”
nhiều hơn nam giới bằng cách kê ra, (chỉ dành cho nữ giới)
một thời gian thử thách thêm với mục đích làm dịu đi,
nếu không phải là loại trừ hẳn, tính đam mê của họ."
Nhưng
khi Mahaprajapati nghe được nguồn tin cho rằng sự chấp nhận
những luật lệ như trên sẽ tạo thành bước khởi sự gia
nhập đời tu. Bà cho hay, để so sánh các qui luật đó như
một vòng hoa nhài một người phụ nữ trẻ có thể với hai
tay đặt lên đầu sau khi tắm. “Ôi Ananda, ngay cả khi cha
làm như thế, hãy nhân danh chính cha đừng bao giờ để cho
tám điều luật này bị lỗi phạm trong suốt cuộc đời.”
Chính
vì thế Ni đoàn Tỳ Kheo, hay tu hội ni sư được thành lập.
Ayya Khema là một nhân tố chính làm sống lại các tu hội
nữ Tỳ Kheo ngày nay. Sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến
người phụ nữ này nhiều hơn. Bà đã viết, các phụ nữ
thuộc mọi tầng lớp xã hội đã qui tụ lại để ấp ủ
một nếp sống mới dành riêng cho họ. "Những ngăn cách đã
tồn tại hàng thế kỷ đã bị phá bỏ. Dần dà họ đã nổi
lên từ những ranh giới phân cách, họ đã bị giam hãm trong
đó quá lâu. Các bà góa thoát ra từ những cách biệt đã
áp đặt lên họ, các bà mẹ cô đơn, người thân mới qua
đời hay không có con cái đã tìm được an ủi trong Phật
pháp. Những người hầu gái thoát khỏi cảnh hạ nhục vì
bị bán cho các ông chủ ngã giá cả cao nhất. Những đầy
tớ gái tìm thấy được tự do khỏi ông chủ của mình, các
gái nhảy và những gái điếm loại sang cũng được chấp
nhận và đã phấn đấu sống một cuộc đời gương mẫu
hơn.” (9)
Tình
chị em nơi Phật giáo cũng tương tự như "không gian người
phụ nữ" đầu tiên tại Ấn độ như J. Hughes viết trong cuốn
sách nhỏ thật kích động mang tựa đề Nữ Tính Nơi Phật
giáo (Buddhist Feminism) (10). Phật giáo đã đem lại cho người
phụ nữ một cơ hội có “một cuộc sống tách biệt khỏi
các vị sư sãi, nếu như không phải là lệ thuộc vào họ;
Các sư sãi có thể đi đây đó, học hỏi và trao đổi kinh
nghiệm với các phụ nữ khác, không bị bó buộc về con cái
hay gia đình."
Thế
rồi, thoạt tiên các đoàn thể này phát triển và rất nhiều
phụ nữ đã đạt đến mức thể hiện cao nhất. Một số
trong họ được kể đến như là những đồ đệ có khả
năng nhất của Đức Phật. Chúng ta biết được danh tánh
của họ qua kinh và kinh Therigatha, một tập thư đem lại giác
ngộ tên là Theris, vì những nữ tỳ kheo đầu tiên có tên
gọi như thế. Dharmmadina được coi như một người “siêu
việt," và Khema được liệt kê vào số những người có địa
vị cao nhất vì trực giác tuyệt vời của bà. Punnika Their,
một người nô lệ, được kể như đã khuyến cáo Bradmin:
"là đồ ngu trong số các kẻ ngu! Là người được nhắc đến
đã thoát khỏi những hành vi xấu xa nhờ phép rửa bở nước,
(water Baptism). Nếu thế thì, tất cả con rùa, con ếch, rắn
và cá sấu sẽ được vào Niết Bàn cả!" (11)
Sau
đây là ba bài kệ trích trong tập kệ Therigatha, Susan Murcott
và John Tarrant (12) viết theo thể kệ. Tính phổ quát và tính
tức thời hình như vượt không gian và thời gian (đã xuất
hiện cả 2.500 năm).
MUTTA
Ôi
tự do, tôi đã được tự do
Đã
thoát khỏi ba điều uẩn khúc
Súng
đạn, chầy cối và người chồng bất lương
Tôi
đã được giải thoát khỏi
Sinh
tử và những gì
Ghì
kéo tôi lại.
*
VIMALA
(gái
điếm đã hoàn lương)
Trẻ
trung,
Thân
xác tôi, vẻ mặt tôi
Sự
hấp dẫn lôi cuốn và
Cả
danh tiếng khắp nơi tôi
Cũng
không đầu độc nổi.
Tôi
khinh miệt ghê tởm các chị em
Ăn
mặc hở hang
Lấp
ló cửa nhà chứa
Như
thợ săn đang giăng bẫy
Để
vồ kẻ ngu xuẩn
Cười
vang tôi chòng ghẹo họ
Tại
trong cung lòng
Tất
cả đã dọn sạch
Đầu
cạo trọc, khoác áo cà sa,
Một
kẻ khất thực
Chính
tôi con người tôi toàn vẹn
Ngồi
ngay dưới gốc cây Bồ đề
Không
còn lý do nào hết
Mọi
ràng buộc đã được phá bung
Tôi
đã cắt đứt mọi quan hệ với người và thần thánh
Ra
khỏi cuộc sống tôi.
Tự
trở về hư vô
Tôi
hoàn toàn tươi mát, đã cơn khát
*
CITTA
Tuy
thể xác gầy yếu,
Ốm
đau và chống gậy
Tôi
vẫn gắng trèo lên Đỉnh Chim Ưng
Vứt
bỏ lại áo cà sa
Bình
khất thực đổ nhào
Đứng
tựa nơi vành đá
Một
màn đêm mù mịt vây quanh.
Dưới
thời trị vì của vị vua Phật giáo Ấn độ vĩ đại, Asoka
(269-232 trước công nguyên) có một cuộc gặp gỡ khoảng 96.000
nữ tỳ kheo tại Jampudipa. Cho dù sự phỏng đoán đó có phần
phóng đại thì rõ ràng là Ni đoàn vẫn còn tiến triển mạnh
mẽ. Con gái đức vua Asoka, có tên Shanghamitta, được xuất
gia ở tuổi 18 và sau đó được cha mình là đức vua Asoka
sai đi truyền đạo để thiết lập tại Sri Lanka. Bà đã mang
theo từ Gaya một nhánh cây Bồ Đề. “Cây được trồng tại
vườn Mahamegha tại Anuradhapura với một nghi thức đặc biệt,”
theo Ayya Khema “Cây này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay
đó là một cây có tuổi thọ lâu đời nhất hiện nay trên
thế giới."
Sau
nhiều thế kỷ Ni đoàn vẫn phát triển tại Sri Lanka và còn
lan tràn sang các quốc gia khác tại Đông Nam Á. Cộng đoàn
này cũng được thiết lập tại Trung Hoa vào thế kỷ thứ
5 sau công nguyên do một đoàn truyền đạo các nữ tỳ kheo
đến từ Sri Lanka. Tuy nhiên, đường hướng xuất gia đầy
đủ này đã hoàn toàn biến mất vào giữa những năm 900 và
1000 nơi tất cả các quốc gia theo truyền thống Nguyên Thuỷ
(Theravadin) (như Miến điện, Thái lan, Cam-Bốt và Sri Lanka)."
Khó
lòng có thể thuật lại đầy đủ việc Ni đoàn đã được
thiết lập hoàn chỉnh như thế đã biến mất như thế nào,
Ayya Khema viết. "Rất có thể chính các tỳ kheo đã chống
lại bất kỳ cố gắng nào nhằm tái thiết lập các Ni đoàn
như thế. Và các nhà sư chỉ khoan nhượng sự có mặt của
các nữ tỳ kheo như là chuyện đã rồi, vì ngay tại Đại
Hội (sau khi Đức Phật viên tịch), Thượng Tọa Ananda đã
được yêu cầu phải xin lỗi Đại Hội vì đã thuyết phục
Đức Phật ban phép xuất gia cho nữ giới.” (13)
Ngày
nay Ayya đang hy vọng muốn làm sống lại đầy đủ Ni đoàn
được xuất gia tại Sri Lanka. Bà đã thiết lập một Trung
Tâm Phật giáo Phụ Nữ Quốc Tế tại Colombo (cũng dành cho
cả người đời nữa) và cù lao Parappuduwa thuộc quyền sở
hữu của các Ni Sư nằm trên chiếc hồ lớn trong đất liền
(trên vùng đất đã được chính quyền Sri Lanka ban tặng).
Bà cũng chủ trương tăng uy tín cho các nữ tỳ kheo tại quốc
gia đó bằng cách đem lại cho họ một nền giáo dục và đào
tạo hoàn hảo. Nhìn chung, ni giới phải gánh chịu một mức
sống rất thấp trên khắp vùng Đông Nam Á.
Trong
phần nhập đề cuốn: Nữ Giới Trong Phật giáo, Diana Paul
có viết rằng, tương tự như Do Thái và Thiên Chúa giáo, "Phật
giáo là một tổ chức trong đó tuyệt đại bộ phận các
tổ chức đoàn thể đều do nam giới chiếm lãnh và được
các thế lực cơ cấu giáo trưởng điều hành... Nữ giới
thường được coi như là thành phần đời, không có quyền
hạn, bị coi thường và bất toàn." Trong những bản văn Mahayana
ta thường tìm thấy hàng loạt những hình ảnh phức tạp
và không mấy xây dựng chối bỏ những đóng góp của giới
nữ trong phạm vi đạo Phật. Chúng ta nên nhớ rằng những
văn bản này là những phán quyết lý tính đã được phê
chuẩn của các vị tu hành ưu tú và tính chất phổ thông
cũng như ảnh hưởng luôn kèm theo định kiến. Nhưng một
hội đoàn với bản chất và giới tính – có thể gây ô
nhiễm và chết chóc cho nam giới – vẫn thấy được tồn
tại. Có điều làm tôi hết sức thú vị là, giống như thần
thoại trong Kinh Thánh Do Thái giáo, cuốn Sáng Thế Ký, trong
đó cho thấy đàn bà là nguyên cớ sa ngã, trong Kinh Suttra Pali
cũng gán cho phụ nữ là nguồn gốc hư đốn tình dục cùng
với sự sa ngã của nhân loại; nhiều bản văn Phật giáo
Cổ đại cũng buộc tội phụ nữ có trách nhiệm trong việc
sa ngã này.
Nhưng
lại có một mặt khác. Một văn bản thứ hai xuyên suốt trong
thứ văn chương này, người ta thấy phụ nữ là hiện thân
của khôn ngoan, có giáo dục, sáng tạo, nhân hậu và đầy
lòng trắc ẩn. Mặc dù phụ nữ được coi như là những nhân
vật tôn giáo luôn được mô tả như là thành phần đối
kháng với nam giới, nhưng cũng có nhiều luật trừ. Một tác
giả tôi ưa thích nhất là Lion Yawn, nhà văn xuất hiện trong
văn chương Sutra với một cái tên thật đẹp: The Harmony of
the Young sapling Sutra (viết vào khoảng sáu trăm năm sau khi Đức
Phật viên tịch). Francis Wilson đã cống hiện cho chúng ta bản
dịch tiếng Anh. (14) trong đó kể lại đứa con của một thương
gia tên là Sudhana trên đường hành hương. Cậu ta đến một
công viên rất lớn có tên là Sun Bright cây cối um tùm, người
ta thường gọi là cây Moonrise (cây mặt trăng mọc) tỏa sáng
xa cả dặm đường, chiếu sáng tứ phía. Còn có nhiều cây
với lá Lapis Lazuli, cây đổ mưa hoa muôn mầu, cây ăn trái,
cây đá quý, cây âm nhạc, cây nước hoa. Cùng với suối nước
phun, hồ nước, đầm nước và cả ao sen kê ghế bao quanh
Sandal Paste, tất cả những thứ đó đều là công trình của
ni cô nhân hậu có tên Lion Yawn.
Khi
Sudhana nhìn thấy Ni cô đang ngồi “trên ngai những con sư
tử" dưới lùm cây, có các tớ gái bao quanh. Ni cô trông tựa
như mặt hồ nước yên tĩnh, một viên ngọc ước luôn sẵn
sàng thi ân mọi điều cầu xin.” Nàng giống như một bông
hoa sen, một con sư tử, một ngọn núi lớn, một mùi hương
thơm tỏa lan, một loại gỗ quí mát dịu và một nhân vật
thuộc đẳng cấp cao trong xã hội An Độ, không vương vấn
tính tham lam, thù hận hoặc lừa dối. Nàng như mặt nước
phẳng lặng làm mát dịu tâm can mọi chúng sanh. Và nàng được
phong tặng là Dharma của roi đoàn, bao gồm nhiều chúng sanh
đang tìm kiếm chân lý thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau. "Đối
với họ ni sư Lion Yawn đang giảng Phật pháp cho mỗi người
lui tới nơi đây và hành thiền. Ngài dạy mỗi người tùy
theo vị thế trong xã hội, tùy theo quyết tâm lòng tin của
họ để tất cả chiếm được đấng Tối cao, hay đạt đến
giác ngộ hoàn hảo."
Ngài
nữ Thiền sư Boddisattva Lion Yawn đã trở thành một nhân vật
"giác ngộ" và một thiền sư hoàn hảo. Chỉ có một người
đàn bà có thể vượt trội hơn nữ thiền sư theo truyền
thống Phật giáo là Hoàng Hậu Srimala. Người có tài hùng
biện như "tiếng sư tử gầm" và là người mà Diana Paul cho
là một Phật nữ hiện thân."
Liên
quan đến khả năng người phụ nữ đạt đến giác ngộ hoàn
toàn, các bản văn Đại Thừa (Mahayana) đưa ra ba nhận định
quan trọng: 1) người phụ nữ phải chờ đợi cho đến khi
sanh hạ được một người con trai thì mới có thể biến
thành Bồ Tát hay Phật hóa, 2) một người phụ nữ ngoại
lệ có thể trải qua "thay đổi giới tính” trong cuộc sống
trần gian này và 3) người phụ nữ được chấp nhận vào
hàng ngũ Bồ Tát hay có khả năng Thành Phật. Quan niệm đầu
tiên hòa hợp với ý nghĩa là thân xác người phụ nữ không
được trong sạch, cho nên không có khả năng tiếp thu chân
lý Phật pháp. (Phụ nữ giống như “vùng đất bị nhiễm
mặn” ta không thể trồng bắp hay cỏ cây trên đó”, trích
tư liệu của Abhidharma Kosa, trong tư liệu siêu hình cuối thế
kỷ thứ Tư sau công nguyên.) Quan điểm thứ hai, sự biến
đổi giới tính tự nhiên từ nữ sang nam tượng trưng cho
sự thay đổi hiện trạng tình dục sang một hiện trạng vô
dục khi đã giác ngộ. Như Đức Phật đã tuyên bố trong Kinh
Sutra Về Sự Biến Đổi Giới Tính Phụ Nữ, “Nếu như người
phụ nữ ý thức được hiện trạng giác ngộ, họ sẽ có
được trạng thái siêu thóat của một con người vĩ đại
và một người tốt, hay hiện trạng siết thoát của người
đàn ông hay của người thông thái... Họ sẽ vĩnh viễn tách
biệt ra khỏi nữ tính và sẽ trở thành người con trai." (15).
Trong
trích đoạn Kinh Sutra Cuộc Đối Thoại Với Bà Gái Candrottara,
được viết vào thế kỷ thứ Ba hay thứ Tư sau công nguyên.
Diana Paul đã dịch sang Anh ngữ lần đầu tiên. Bà là một
phụ nữ trẻ phi thường, tên của bà mang ý nghĩa "Trên Đỉnh
Cung Trăng” vì bất kỳ sự gì đụng tới người nàng đều
phát sáng chói chang – cho ta thấy nhiều dấu hiệu của tình
trạng sớm giác ngộ và sau này đã chứng minh cách hùng hồn
những chiều kích sâu sắc nhất nơi Phật pháp. Ngoài ra Diana
cũng để lại một nhận định nhỏ về điều bất hợp lý
của chuyển đổi giới tính xét dưới bối cảnh vô vi (trống
rỗng) – kể cả việc bà đã thanh thản biến đổi giới
tính khi vừa nghe được lời tiên tri của Đức Phật là nàng
sẽ được thành Phật. Khi nghe được những lời trên, Candrottara
đã "quá sức vui mừng," nhiều lần như được nhắc bổng
lên tới tận đỉnh ngọn núi bẩy cây Tala. Trên đỉnh ngọn
cây thứ bảy, cô gái biến đổi thân xác phụ nữ thành một
cậu trai xinh đẹp.”
Những
hình ảnh hào phóng và bình đẳng nhất của những người
phụ nữ - ở trạng thái đạt đến chân lý tột đỉnh (bodhisattvas)
- được thể hiện rất ít trong một số những bản kinh Sutras.
Tuy vậy một vài đoạn cũng đã gây nhiều ảnh hưởng và
rất phổ biến trong văn chương Mahayana (thí dụ., Kinh Vimalakirtinirdesa
và Kinh Sutra Về Hoàng Hậu Scrimala Người Có Tiếng Gầm Sư
Tử). Trong đó chúng ta tìm thấy những lời tuyên bố mang
tính siêu hình. Thí dụ: nếu mọi hiện tượng đều chỉ
là vô thường và không bền vững, sẽ không tồn tại nam
tính và nữ tính. Sự phân biệt này chỉ mang tính ảo giác.
Phật pháp và Đạo pháp chẳng phải là nam tính cũng như nữ
tính bao giờ. Như trong Kinh Diamond Sutra cho thấy, trong lãnh
vực vô thường, không thấy xuất hiện sự phân biệt giữa
hai giới tính nam nữ. Và sự giác ngộ cũng không phân biệt
giới tính và tuổi tác, theo nhận định đương thời về
kinh Lotus Sutra và Fa-bua I-shu.
Trong
kinh Vimalakirtinirdesa Sutra ta thấy có một cuộc đối thoại
rất sinh động giữa Sariputra và một nữ thần (theo bản dịch
của Diana Paul):
Sariputra:
Tại sao nữ thần lại không biến đổi nữ tính của ngài?
Nữ
thần: Tôi đã hiện thân là nữ giới được 12 năm và đồng
thời tìm hiểu những đặc tính bẩm sinh trong đó và không
cách nào tìm ra, thì làm sao có thể biến đổi thành nam giới
được. Tương tự như nhà ảo thuật tạo ra một ảo giác
về người phụ nữ, nếu như ai đó đưa ra câu hỏi tại
sao ngài không biến đổi nữ tính của ngài đi, quả thực
họ đang yêu cầu điều chi vậy?
Sariputra:
Nhưng ảo giác làm sao có được những đặc tính nhất định,
vậy thì làm sao mà thay đổi được?
Nữ
Thần: Vạn vật đều là vô thường, vì thế cho nên làm sao
bạn có thể nêu thắc mắc: "Tại sao lại không biến đổi
nữ tính cho rồi?”
Rồi
sau đó nữ thần với quyền phép siêu phàm đã biến đổi
Suriputra trở thành hình ảnh của chính mình và biến hóa hình
ảnh nữ thần thành hình ảnh của Suriputra rồi hỏi lại:
"Tại sao ngài lại không thay đổi nữ tính của ngài luôn
đi?
Sariputra,
trong hình ảnh một nữ thần, trả lời: "Tôi không biết tại
sao tôi lại phải thay đổi cũng như bằng cách nào tôi đã
biến đổi thành hình tượng một phụ nữ."
Nữ
thần đáp lại: “Sariputra thân yêu, nếu con có thể biến
đổi thành phụ nữ, thế rồi tất cả những phụ nữ khác
(trong trạng thái tâm linh) cũng có thể làm được thư thế,
nếu như con không thực sự là một người phụ nữ nhưng
thể hiện ra là nữ giới ở ngoại hình, thì tất cả phụ
nữ đều có thể làm được như vậy, nhưng thực sự họ
không là phụ nữ. Vì thế cho nên, Đức Phật cho là tất
cả chúng ta thực sự chẳng phải là nam mà cũng chẳng phải
là nữ là vì vậy."
Theo
ý kiến Diana Paul, Hoàng Hậu Srimala có được tiếng sư tử
như là một Phật tính, chẳng phải là gì của riêng bà".
Ngày giờ chính xác của trích đoạn kinh Sutra mang tên bà cũng
không được biết đích xác, nhưng rất nhiều bài bình luận
về trích đoạn đó đã được viết từ những năm 400 đến
những năm 600 sau CN. Trích đoạn Sutra kể lại, ngay sau khi
đã tự đạt đến tình trạng giác ngộ (cho dù có nhiều
bất đồng giữa các nhà bình luận liên quan đến những giai
đoạn giác ngộ của Hoàng Hậu – cho là có tám giai đoạn,
như một số người công nhận như vậy, chính là muốn gán
cho phụ nữ một địa vị nổi bật). Srimala tiến hành cảm
hóa tất cả tất cả các phụ nữ trong thành phố, rồi đến
chồng bà và sau cùng là những người đàn ông khác. Bà gọi
những người theo bà là các "con trai con gái của mình". Paul
cho biết, không thấy một ám chỉ nào về phân biệt cấp
bậc, địa vị hay phân công lao động theo giới tính ở đây.
Toàn bộ mạch văn của Sutra đều mang tính cách tưởng tượng
về phụ nữ. Tác giả cảm thấy chính Hoàng Hậu Srimala có
nhiều điểm rất tương đồng với hình ảnh của một Phật
Bà.
Kinh
Sutra về Hoàng Hậu Srimala là một cảm hứng dân gian rất
lôi cuốn các phụ nữ Ấn độ, Trung Hoa và Nhật bản. Paul
gợi ý cho biết, vì Sutra đã mô tả người phụ nữ đầy
tính nhân hậu cũng như phải chiến đấu để tồn tại và
am hiểu cuộc sống trên đời này trong tự do.
Cũng
cần nhắc lại một nhân vật nữ khác nữa rất được tôn
kính, tuy chỉ đề cập ngắn gọn ở đây, vì đã được
nghiên cứu đầy đủ ở chỗ khác, đó là Bồ tát Kuan Yin
(Quan Âm), rất nổi tiếng tại Trung Hoa và khắp vùng Đông
Nam Á. Tại Nhật Bản bà được gọi với tên Kannon (Kanzeon).
Bà còn là bồ tát Avalokiteshavara, một vị bồ tát đàn ông
người Ấn độ nhân hậu tuyệt đối và đồng cảm với
những đau khổ của nhân loại. Nguồn gốc mô hình phụ nữ
như Quan Âm có liên quan đến việc du nhập những bản văn
Phật giáo Đại Thừa vào Trung Hoa từ đời nhà Tần và tiếp
theo sau là sự pha trộn với vị Bồ tát White Tara, nguyên thủy
là một phụ nữ thâm giao với Bồ tát Phật Bà Avalokiteshvara.
Diana Paul còn bổ sung nhiều chi tiết về sự biến hóa này.
Xem trong cuốn sách do John Blofeld viết mang tựa đề Bồ Tát
Từ Bi (Bodhisattva of Compassion) (16).
Xuyên
suốt những lời giảng dạy nơi truyền thống Đại Thừa
(Mahayana và các trường phái phương Bắc), giới tính được
coi như đối kháng với trạng thái giác ngộ. Nhưng theo Phật
giáo Đại Thừa thì bán âm bán dương – là sự kết hợp
giữa đặc tính tuyệt hảo nhất của hai phái – lại được
coi là trạng thái hoàn thiện. Với sự kết hợp giữa giáo
thuyết Phật giáo với giáo thuyết Đại Thừa thì phụ nữ
nắm giữ vai trò quan trọng sâu xa hơn nhiều so với Phật
giáo nguyên thủy. Trong Kinh Tantra, các nguyên lý nữ tính và
nam tính được hiểu như là những xu hướng chảy xuyên suốt
qua thân thể cả người nam cũng như người nữ, tích cực
và thống nhất thực hiện Phật pháp. Hình ảnh người phụ
nữ nổi lên với những đặc tính vừa nhục dục lại vừa
siêu nhiên, vừa thỏa mãn lại vừa thông minh, vừa giận dữ
điên cuồng lại vừa an nhiên tự tại. Tsultrim Allione viết
trong bài giới thiệu cho cuốn sách của bà mang tên Người
Phụ Nữ Khôn Ngoan (Women of Wisdom) cho biết "Làm thế nào để
được khoan khoái thoải mái mà vẫn cảm thấy trong lòng trong
trắng và bình yên, với con mắt sầu thảm để có thể trở
thành siêu nhiên được.” (17)
Người
Tây Tạng cho rằng nguyên lý nam tính sẵn tính năng động
sôi nổi (thật thú vị, nó được so sánh với mặt trăng)
còn nguyên lý nữ tính lại được cho là khôn ngoan hoàn hảo
(tựa như mặt trời) hợp nhất cả hai lại là điều hết
sức quan trọng trong việc thực hành Phập pháp của người
Tây Tạng.
Như
một lời chú thích khôi hài ở cuối trang sách, đây là một
nhận định (được một thiền sinh hành thiền tại San Francisco,
do Susan Murcott tường trình trong cuốn Kahawai, xuất bản mùa
hè 1981) về nguyên lý nữ tính như là một cái gì "trống
rỗng" và nguyên lý nam tính là "sinh động hoạt bát”. Đây
là lời của anh ta: "Điều đó ngụ ý các phụ nữ dọn dẹp
bàn sau bữa ăn, còn nam giới ngồi hút thuốc sì- gà."
Một
điển hình cuối cùng đề cập đến một nữ Phật tử đã
chứng tỏ sự phấn đấu liên tục trích trong văn chương
Thiền định (Zen.) Tên là Myoshin, đồ đệ của Thiền sư
Kyozan. Câu chuyện về bà đươc kể lại trong cuốn Raibai Tokuzui,
một phần trong tác phẩm kiệt tác mang tên Shobogenzo của nhà
hiền triết Phật Thiền Zen kiêm thiền sư lỗi lạc Dogen Zenji,
trong câu chuyện trên, Kyozan nhận ra được Myoshin đắc thủ
tính khí của một chiến binh can trường. Ông đã cắt cử
bà đứng đầu một thiền viện. Một buổi chiều nọ có
khoảng 17 nhà sư từ Szechwan đến thăm chùa trong một cuộc
hành trình tìm kiếm một thiền sư để thọ giáo và hy vọng
sẽ được tiếp chuyện với Kyozan. Đêm xuống họ tá túc
tại thiền viện và tranh luận sôi nổi với nhau về đấng
tổ phụ thứ Sáu. Và mỗi người cứ luân phiên tranh luận
với nhau, chẳng có ai nắm được điểm chính. Bên kia bức
tường Myoshin nghe thấy họ tranh cãi to tiếng liền la lên:
"Đồ lừa chết tiệt! Biết bao đôi giầy cỏ họ đã lê
mòn trên đường tìm kiếm Phật pháp mà chẳng gặp được
cho dù ngay cả trong mơ."
Khi
mười bảy nhà sư nghe thấy lời bình phẩm của bà, họ thấy
mắc cở, chỉnh lại áo cà sa và thắp nhang, đồng thời tỏ
lòng tôn kính và xin được thọ giáo ngài Myoshin. "Phật pháp
đâu có phải ngọn gió di chuyển; không phải ngọn cờ lay
động; cũng chẳng phải tâm trí chuyển động.” Nghe bà diễn
đạt về Phật pháp như vậy, các nhà sư tự kiểm định
lại chính mình và vái chào biết ơn, họ quyết định thọ
giáo nữ thiền sư. Và không cần chờ đợi được trao đổi
với Kyozan họ đã lên đường trở về thẳng Szechwan.
Dogen
kết luận, "Thật vậy, điều trên chẳng ăn nhằm gì tới
ba điều khôn ngoan và mười kiểu thánh đức; đó chỉ là
hành vi của một con người truyền đạt trực tiếp Phật
pháp từ Đức Phật và các Thiền sư." (18). Ở vào thời đó
(1240 sau công nguyên) tác phẩm Raibai Tokuzui của Dogen đã là
phán quyết mạnh mẽ khẳng định sự bình đẳng của người
phụ nữ, đặc biệt đối với những ai "nghiêm chỉnh nghiên
cứu Phật pháp," (xem chương 7).
Xét
dưới góc độ lịch sử Phật giáo vốn thường ấp ủ một
mối ác cảm lớn đối với phụ nữ. Chính Phật pháp vượt
trên mọi ác cảm, tồn tại ở đâu đó và chỉ là những
quan niệm tản mạn. Lời Phật dạy lại là một vấn đề
khác, vì được phát xuất từ tâm trí và ngôn ngữ bị lịch
sử và kinh nghiệm con người chi phối. Điều này có thực
nơi tất cả các tôn giáo khác– biết làm thế nào được?
Như thế nếu lời Phật dạy càng trở thành "vững chắc"
bao nhiêu thì các tôn giáo đó lại càng phản bội lại những
cảm hứng siêu việt nguyên thủy hoặc cái cốt lõi thần
bí của tôn giáo bấy nhiêu. Điều này sản sinh ra những điều
bí ẩn không rõ rệt như các Phật tử thường cảm thấy
gần gũi với điều siêu nhiên cốt lõi nơi Thiên Chúa giáo
hơn là một vài biểu hiện bề ngoài của Phật giáo. Điều
đó cũng làm rõ tại sao Meister Eckhart, Martin Buber, Mẹ Theresa,
là tác giả không tên tuổi của tác phẩm The Cloud of Unknowing,
Hildegard von Bingen và Gerald Red Elk nói về chúng một cách trực
tiếp cũng như các học giả lớn Phật giáo.
Nhưng
hiện nay đối với nhiều phụ nữ đang hành đạo, một trong
những trở ngại lớn nhất còn tồn tại là thiếu vắng những
mô hình rõ ràng về vai trò của người phụ nữ cũng như
các bà mẹ nòng cốt ở thế hệ trước được thể hiện
trong văn chương hay Kinh Phật. Một thực tế rất hiển nhiên
là tất cả các thiền sư tên tuổi, các nhà hoạch định
đường lối và các nhà sư trụ trì xuyên suốt mọi thời
đại vẫn là nam giới. Trong khi đó, chỉ một ít năm trở
lại đây, tại Tăng đoàn tu sĩ Phật giáo Diamond ở Hawaii
đã thay đổi lời trong những bản tụng kinh hàng ngày, bằng
cách bỏ đi các từ “các thiền sư sáng lập” hay “các
thiền sư tổ phụ”. Duy có điều khó tránh khỏi là các
vị tiền bối vừa đề cập đến ở trên đoàn bộ vẫn
là nam giới. May mắn thay, các thành viên của đoàn thể này
đã cố gắng thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, với sự
giúp đỡ của nhà dịch thuật Thomas Cleary và các thiền sư,
Robert Aitken, Roshi, họ đã cho phát hành trong tờ tập san mang
tên Kahawai, một loạt bài về cốt truyện chưa được biết
đến từ xưa đến nay về các phụ nữ còn trong bóng tối
trong lịch sử thiền Phật được biết đến với tên "Kahawai
Koans" (19) mà chúng tôi đã đến gặp một số phụ nữ tiêu
biểu trên và một số phụ nữ nổi bật đang tham gia cuộc
chiến Phật pháp với các nhà sư cũng như các thiền sư để
bình đẳng. Các nhân vật phụ nữ này thường không xuất
đầu lộ diện, họ tự giấu mặt trong các túp lều và các
phòng trà, ở đó những ai đến tìm gặp họ hoặc tình cờ
gặp họ sẽ nhận được một số Phật pháp. Tôi cảm thấy
các “nữ tiếp viên phòng trà" (tea ladies) này rất thu hút.
Hình như có mối dây liên hệ giữa họ và các phụ nữ Phật
giáo thần bí Tây Tạng, Twultrim Allione đã mô tả trong cuốn
Woman of Wisdom. Tôi thắc mắc không hiểu với vị thế vô danh
tiểu tốt như vậy có phải là điều tự nhiên đối với
phụ nữ hoặc đó chỉ là một cấu trúc xã hội, hoặc cả
hai? Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa khi trong số các phụ nữ
tôi phỏng vấn trong cuốn sách này cũng lại là một nữ tiếp
trà (chương II).
Cuối
cùng hình như tôi đang lưu ý đến các phụ nữ tiếp trà
ở mọi nơi. Một người bạn tôi quen biết đã 20 năm lại
là một nữ tiếp trà giả dạng. Trong một cuốn sách rất
hay mang tên A journey in Ladakh (cuộc hành trình về Ladakh) tác
giả là Andrew Harvey, chúng ta bắt gặp nhân vật Moneesha, một
phụ nữ cứng cỏi thường hay bận tâm đến những kỳ vọng
thiêng liêng. Nói đến thiền sư của mình - Thuksey Rinpoche
- bà ta kể:
Thiền
sư là một người chăm chú, đơn giản, nhân hậu và một
ông già vui tính và vì thế tôi rất yêu quí ông. Ông quá
bận tâm đến thế giới xung quanh, không còn nhiều thời gian
để kể lại những kinh nghiệm đời mình cho ai cả. Ngay cả
khi ông ta rỗi rãi ông cũng không muốn làm thế. Bạn đang
tìm tòi điều gì chăng; ông đã kiếm ra điều bạn đang tìm.
Đó là những khác biệt và cũng là những gì bạn luôn bàn
cãi tranh luận, phân tích và so sánh. Để rồi đừng làm cho
bất kỳ ai phải lung lạc - tất cả những gì được bàn
bạc về Đức Phật hay Niết Bàn từ những người mất trí
do những điều nhạy cảm và những phản ứng của chính họ
ám ảnh! Bạn hãy làm một điều gì đi, hãy làm đôi điều
hữu ích hơn.
Giọng
nói đặc sệt truyền thống. (Nếu bạn suy nghĩ về điều
đó, rất có thể chính bạn đã hình dung ra được một số
nữ tiếp trà là như thế nào.)
III
Trong
những năm gần đây, ngày càng có nhiều phụ nữ tích cực
tham gia các hoạt động trong nhiều ngành Phật giáo tại Hoa
kỳ. Bằng nhiều cách khác nhau chúng tôi đang gặp gỡ, trao
đổi kinh nghiệm để tìm hiểu một vài khó khăn cũng như
xung khắc nơi các phụ nữ đang hành đạo trong khuôn khổ
sự hiện diện của nữ giới nơi các truyền thống giáo phụ
khác nhau.
Một
trong những đáp ứng đầu tiên trước nhu cầu này là ấn
bản tập san Kahawai, do cộng đoàn tu sĩ Phật giáo Diamond tại
Honululu ấn hành. Tập San Người Phụ Nữ Và Thiền định
(Zen). Từ năm 1971 tập san này đã xuất bản những bài viết,
những bản dịch, thư từ và đối thoại trong một thời gian
dài, tập san là kênh duy nhất để chúng tôi liên hệ với
nhau.
Mùa
hè 1981, một cuộc hội thảo đầu tiên về Phụ Nữ và Phật
giáo được diễn ra tại Trung Tâm Thiền Naropa thành phố Boulder,
bang Colorado. Đó là cuộc gặp gỡ của các phụ nữ đang hành
Phật thuộc ba truyền thống chính tại quốc gia này là: Tây
Tạng, Thiền định Zen và Đại Thừa. Cuộc hội thảo thứ
hai cũng đã được tổ chức tại đó vào năm sau. Qui tụ
các phụ nữ trên toàn quốc đến dự, họ tham gia thuyết
trình, thảo luận, chia sẻ luyện tập., hy vọng và quan tâm.
Cuối cùng họ cảm thấy là "Chỉ có một cộng đoàn tu sĩ
cho tất cả mọi người" (Sangha).
Nhiều
phụ nữ còn muốn hành đạo tập thể với nhau, tách khỏi
nam giới (không nhất thiết luôn phải tách ra, nhưng đôi khi
cần thiết) và dần dà đã được công nhận tại đây. Cho
dù đây chỉ là trường hợp hiếm thấy xảy ra tại Hoa kỳ,
rất có thể điều này lại không xảy ra ở nơi khác. Tại
Luân Đôn chẳng hạn, các thành viên cộng đoàn Phật giáo
phương tây đã tiến hành tổ chức các cuộc tu thiền dành
riêng cho phụ nữ đã nhiều năm nay. Ruth Dension có lẽ là
người đầu tiên tại Hoa Kỳ tổ chức các cuộc tu thiền
dành riêng cho phụ nữ từ những năm 70. Mới đây nhiều cuộc
tĩnh tâm như vậy đã được tổ chức từ Bờ Đông sang Bờ
Tây Hoa kỳ do Maurine Stuart (Maurine Freedgood là tên cũ) rồi
Jacqueline Mandell, Christina Feldman, Michelle McDonald, Julie Wester
rồi đến Anna Douglas. Anna Douglas cảm thấy họ cần phải
tạo ra một nơi nào đó an toàn nơi mà mọi cõi lòng và trực
giác có thể được lắng nghe rõ ràng hơn và những vấn đề
siêu
nhiên được khám phá mà không phải lo sợ bị chi phối bởi
hoàn cảnh xung quanh trong việc hàn gắn vết thương cho từng
cá nhân cũng như tập thể.
Cũng
theo những đường hướng trên, một nhóm người đời và
nữ tu sĩ Phật giáo tại Washington DC. Cũng đi tìm kiếm một
nơi thích hợp để thành lập một nữ tu viện Phật giáo,
một đoàn thể đại kết, một Trung Tâm Thiền cho phụ nữ
thuộc mọi trường phái Phật giáo. Họ chủ trương “Cộng
đoàn này chỉ dành chăm lo đời sống thiêng liêng cho giới
phụ nữ" và họ hy vọng duy trì được tính toàn vẹn của
mỗi truyền thống, "trong khi động viên sự phát triển tính
khôn ngoan lòng từ bi giữa sự khác biệt nơi các truyền thống.
Tinh thần hòa hợp và không phân biệt đối xử (cho dù đã
trải qua hơn 2000 năm ly tán vô căn cứ). Đó là một biểu
hiện rõ nét những giá trị cơ bản của cả Phật giáo lẫn
phụ nữ".
Một
số phụ nữ tham gia tạo dựng nên Trung Tâm này đã được
xuất gia nữ tỳ kheo. Trong khi đó theo truyền thống Đại
Thừa phụ nữ vẫn có thể được xuất gia đầy đủ (cho
dù đôi khi phải gặp rất nhiều khó khăn: xin xem câu chuyện
kể về Roshi Kennett, chương 7). Theo truyền thống Đại Thừa
và Mật Tông thì việc phong chức đầy đủ đã biến mất
cả ngàn năm nay. Tuy nhiên vào năm 1980 với sự khích lệ của
Thượng tọa lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng Ngài Gyalwa Karmapa,
thì Ane Pema Chodron, một nữ tỳ kheo người Hoa Kỳ theo trường
phái Tây Tạng, đã nghiên cứu và tìm ra được một phiên
bản nghi thức cổ xưa vẫn được áp dụng tại Hong Kong.
Câu chuyện về việc xuất gia của nữ tỳ kheo này sẽ được
kể lại trong chương 3. Vị nữ thiền sư này hiện nay là
Tu Viện Trưởng trụ trì tại một thiền viện ở Nova Scotia.
Bà là người Mỹ đầu tiền theo trường phái Tây Tạng đã
được xuất gia với một nghi thức rõ rệt, Nhưng hiện thời
nhiều phụ nữ phương Tây khác cũng đã noi gương bà. Một
khi số người xuất gia lên đến con số 10 người, thì có
thể tổ chức xuất gia theo một nghi thức phương Tây.
Sau
cùng, rải rác đây kia, các nữ thiền sư đang khởi sự xuất
đầu lộ diện. Để ghi lại sự kiện này vào tháng 6 năm
1983. Trung Tâm Thiền Providence đã đăng cai một cuộc hội
thảo một ngày với sự tham dự của Maurine (Freedgood) Stuart,
Jacqueline Schwartz Mandell và Boby Rhodes, Thiền sư từ thiền viện
Nhật bản, thiền phái Thiền Minh Sát (Vipassana) đến tham dự,
rồi có cả thiền viện theo truyền thống Đại Hàn cũng có
mặt. Sự hưởng ứng đó thật khích lệ đến độ vào năm
1984 họ đã mời 6 nữ thiền sư để tổ chức một buổi
hội thảo cuối tuần đã thu hút được hơn 100 người tham
dự (hầu hết là phụ nữ, nam giới chỉ đếm được trên
đầu ngón tay). Vào tháng 3 năm 1987 một cuộc hội thảo dành
riêng cho phụ nữ được tổ chức tại Bờ Tây (West Coast).
Hơn 150 phụ nữ có mặt tại Berkeley, tiểu bang California, để
tham gia cuộc Cử Hành Những Người Phụ Nữ Phật tử, thuộc
đủ mọi truyền thống khác nhau. (Kể cả những người hành
đạo độc lập) và hoàn toàn không theo một hình thức cơ
cấu phẩm trật nào cả. Có sự hưởng ứng ngoài sức tưởng
tượng – 50 phụ nữ đã không thể tham gia được (thiếu
chỗ) – và vì thế có nhiều cố gắng đã bỏ ra để hoạch
định một buổi hội thảo thứ hai sáu tháng sau đó ngay cuộc
hội thảo đầu tiên kết thúc.
Tuy
vậy vào thời điểm những cuộc hội thảo đầu tiên này,
những dấu hiệu đau khổ và bất ổn đang diễn ra nơi một
số cộng đoàn tu sĩ trên toàn quốc. Vì sự thân mật đã
nảy sinh trong giai đoạn hội nghị, một số vấn đề tế
nhị có khả năng bùng phát đã ló dạng. "Một trong số những
vấn đề đó là những tương quan tình dục giữa các thiền
sư và thiền sinh" Deborah Hopkinson đã tường trình trong tạp
chí Kahawai: "Vấn đề này đã gây ra biết bao nhiêu cảm xúc
và căng thẳng đến nỗi chúng tôi phải quyết định giải
quyết những tranh cãi đó như là chi tiết lịch sử không
được lưu trữ lại bằng máy ghi âm. Và như vậy đôi lúc
chúng tôi đã phải tắt máy ghi âm trong buổi hội thảo."
Bản tường trình này cũng được xuất hiện tại cuộc hội
thảo Boulder lần thứ hai nhưng vấn đề vẫn trở nên sôi
động nơi các cuộc hội thảo khác tại Providence.
Hiện
nay những vấn đề như vậy đã được công bố công khai
như là đồng tính luyến ái và được mổ xẻ (một số người
cho là mổ xẻ quá kỹ) một cách thẳng thắn và đầy đủ.
Vấn đề chủ yếu đối với nữ giới là lạm dụng sức
mạnh tiềm ẩn nơi các vấn đề quan hệ thầy và trò. Nhưng
một khi được công khai mổ xẻ, thực trạng tương tự sẽ
không cố ý gây ra xung khắc và đau khổ nữa. Nhiều cuộc
sống đã bị tan vỡ. Có những đạo hữu phụ nữ trưởng
thành cũng như chưa trưởng thành đã dẹp bỏ Phật giáo sang
một bên, mất tinh thần và vỡ mộng.
Đa
số chúng ta đều công nhận đó phải là một vấn đề "thuộc
Phật giáo". Từ góc độ người phụ nữ có thể thấy rõ
ràng vấn đề đó tiềm tàng nơi chính hệ thống phụ quyền
gây ra. Một điều rất rõ ràng không thể chối cãi là các
tổ chức Phật giáo đã mang tính chất phụ quyền một cách
mạnh mẽ ở nơi này hoặc nơi khác. Nhưng ngay lúc này, tại
Hoa kỳ hệ thống đó mới chỉ bắt đầu chớm thay đổi.
Phật
giáo tại Hoa kỳ trong thực tế có thể đang đứng trước
ngã ba đường. Sự xuất hiện những nhân vật phụ nữ đầy
ảnh hưởng hình như trùng khớp với điều có thể gọi là
thời kỳ chớm nở của Phật giáo tại Hoa kỳ. Đến nay hầu
như đã gần 100 năm kể từ khi Đại sư Shoyen Shaku là thiền
sư (Zen) đầu tiên đến viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1893. Cũng
chỉ mới 80 năm sau ngày ông trở lại từ Nhật Bản để
huấn đạo cho một số người Hoa Kỳ hành thiền; khoảng
35 năm kể từ khi một số thiền sư Nhật Bản khác, kể cả
Nakagawa Soen Roshi và Yasutani Roshi bắt đầu đến thăm Hoa Kỳ
thường xuyên để huấn giáo cho các học viên và tổ chức
các cuộc tu thiền (sesshins); 25 năm kể từ ngày các Trung Tâm
Phật Học lớn được thiết lập tại Thành Phố New York,
San Francisco và Los Angelos, với những nơi cư ngụ của các
thiền sư người Nhật bản và kèm theo là những chương trình
huấn luyện nghiêm khắc; tròn 20 năm kể từ thế hệ thiền
sư Hoa Kỳ đầu tiên là các thiền sư Philip Kapleau và Robert
Aitken thiết lập các trung tâm của chính họ tại Rochester
và Hawaii, phỏng theo kiểu các trung tâm tại Nhật bản; 15
năm kể từ ngày hai vị đại thiền sư Tây Tạng là Tarthang
Tulku và Chogyam Trungpa, thiết lập các trung tâm tại California
và Colorado; chừng 15 năm kể từ ngày một thiền sư (Zen) người
Hàn quốc và vị kia người Việt Nam Seung Sahn và Thích Thiên-
An mỗi người thiết lập một viện đệ tử và một trung
tâm truyền dạy thiền. – một tại thành phố Providence và
một tại Los Angeles; có 10 năm kể từ khi ba thanh niên Hoa kỳ
– một nữ và hai nam – sau khi theo học nhiều năm tại Đông
Nam Á, đã đem về Hoa Kỳ truyền thống Thiền minh sát (Vipassana)
và thiết lập một trung tâm thiền viện tại Barre, bang Massachusetts.
Vậy
nên Phật giáo đã được gieo trồng trên đất Hoa Kỳ, đã
được các truyền thống cổ đại xúc tích Á Châu vun tưới
và chăm bón, điều đó giúp tăng cường cho gốc rễ và nhánh
non đâm chồi nẩy lộc. Nhưng thổ nhưỡng và khí hậu tại
đây rất khác và cũng cần phải có thực phẩm bổ dưỡng
cần thiết như hiện nay. Để cho Phật giáo thực sự được
thiết lập vững chắc tại Hoa Kỳ, cần phải gỡ bỏ khỏi
sự nương tựa vào những hình thức kế thừa và phải tìm
kiếm cho ra ngay tại miếng đất nó đang tăng trưởng lên.
Nói cách khác, thế hệ tín đồ Phật giáo hiện nay của chúng
ta là ai? Làm thế nào chúng ta có thể đào sâu hiểu biết?
Đâu là hình thức độc nhất và hoàn hảo để cho Phật pháp
phát triển tại đây vào lúc này? Tại một vài nơi đã thấy
xuất hiện những động thái thoát ly khỏi những hình thức
Á Châu và đã có những công trình nghiên cứu tập thể để
tìm ra cho được những hình thức xác thực và thích hợp.
Nhưng điều đó không có nghĩa là công việc đã đi đến
chỗ kết thúc. Các vị thiền sư Á Châu vẫn thường xuyên
nắm cương vị lãnh đạo. Và ngay cả khi họ không nắm quyền
đó thì những hình thức Á châu vẫn được tuân thủ nghiêm
ngặt. Đúc kết lại, chúng ta có thể đặt câu hỏi. Phật
giáo là như thế thôi sao?
Một
số người đang cân nhắc vấn đề đó rất cẩn thận, thực
tế thì Phật giáo là gì? Phật pháp là thế nào? Đâu là
cơ sở tồn tại của chúng ta? Và đâu là những phương thế
tốt nhất để tìm ra cơ sở đó? Phật giáo truyền thống
đã sáng tạo ra những phương cách tốt nhất có trong tay và
đối với những quốc gia tại Ấn độ, Trung quốc – Tây
Tạng, Nhật Bản và Đông nam Á những phương thức này đã
được gọt giũa và hoàn thiện. Một khi Phật giáo di chuyển
từ nước này sang nước khác, những phương pháp và đặc
tính của nó thay đổi đáng kể. Rất có thể, ngay từ lúc
đầu, những cách thức cổ điển đã được bắt chước
rất cẩn thận. Nhưng các phương cách tốt nhất tại một
nền văn hóa này không nhất thiết phải là những phương
cách tốt nhất nơi một nền văn hóa khác. Và khi thời gian
trôi qua, mỗi quốc gia lại phát triển một hình thức Phật
giáo với những đặc trưng và hương vị của chính mỗi nước.
Mười
lăm năm về trước, Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh, một thiền
sư Việt Nam và cũng là một thi sĩ đã viếng thăm Hoa kỳ
nhiều lần, viết trong cuốn sách, Cẩm Nang Hành Thiền (Zen
Keys) "người ta không trở thành một hành giả hành Thiền
bằng cách bắt chước cách ăn, cách ngồi, hoặc cách ăn mặc
của các hành giả hành thiền Nhật Bản hay Trung quốc. Thiền
chính là cuộc sống, thiền không thể bắt chước. Nếu một
ngày nào đó thiền trở thành hiện thực tại phương Tây,
nó sẽ khoác lấy những hình thức phương Tây. Khác biệt
đáng kể so với Thiền phương Đông.” (20)
Đây
là giai đoạn chúng ta đang tiến tới hiện nay. Phật giáo
Hoa kỳ đang trong giai đoạn đi tìm cho mình một bản chất
riêng. Phải nói rằng giai đoạn này rất ồn ào náo nhiệt.
Những biến động và lộn xộn hình như là đặc thù chung
ở nhiều đoàn thể Phật giáo trên khắp đất nước Hoa Kỳ.
Trong từng thành viên của một số nam thiền sư đã rời khỏi
những bệ, tự giác hay không tự giác, mà họ đã giúp xây
dựng lên. Một sự kiện nổi bật khác có ba trong số các
thiền sư được phỏng vấn trong cuốn sách này đã giã từ
sư phụ mình, người đã truyền nghề cho họ. Một người
khác vẫn duy trì liên lạc với đồng môn của mình trong cùng
một dòng hệ. Một người khác đã thêu dệt nên một hoàn
cảnh kích động đau khổ trong đoàn thể, đã giã từ trong
một thời gian dài để lượng định lại thực tế. Một
phụ nữ khác đã hành thiền trong nhiều năm tại Đông Nam
Á, vừa được hai lần theo truyền thống Đại Thừa, trở
thành một trong những thiền sư nổi tiếng theo phái Thiền
Minh Sát (Vipassana) tại quốc gia này. Khi tôi phỏng vấn nữ
thiền sư này vào cuối năm 1983, thiền sư vừa mới rút lui
khỏi chức vụ thuyết pháp tại trung tâm thiền sư nơi tạo
dựng nên sự danh tiếng và hiện nay đang đi theo đường lối
riêng của mình. Nữ thiền sư cho biết, "Tôi không còn có
thể đứng trước các phụ nữ và tuyên bố rằng tôi đại
diện cho một trường phái không công nhận phụ nữ được
bình đẳng với nam giới.” (chương II).
Vậy
nên cơ cấu đã bị lung lay, trong khi đó sự lộn xộn hình
như đang xảy ra trong nội bộ Phật giáo Thiền định (Zen)
(cho đến nay vẫn là phái được thành lập lâu đời nhất
trên đất nước này) những tiếng đồn đại rõ ràng đã
vượt khỏi giới hạn ở khắp nơi. Mọi sự đều có thể
được đặt thành vấn đề, từ những tiến trình nghi thức
đối với những chức vụ trong thiền viện. Một trong những
vụ việc đầy kịch tính xảy ra là sự rạn nứt giữa nội
bộ Trung Tâm Thiền Rochester năm 1980, khi mà một nửa cộng
đoàn, dẫn đầu là Toni Packer, đã từ bỏ toàn bộ những
hình thức hành thiền và chỉ giữ lại những gì cơ bản
nhất. Một số người mô tả điều này như là trận Động
Đất tại Thiền viện. Tuy vậy Toni và đoàn thể vẫn tiếp
tục cải tiến, vừa rồi đây còn đặt vấn ngay cả từ
Thiền định (Zen). Những trung Tâm khác không được triệt
để như thế, nhưng dần dà cũng bỏ qua một số điều như:
vái lạy, tụng kinh và phật phục. Cộng đoàn Diamond tại
Hawaii đứng đầu là nữ tỳ kheo Robert Aitken, Roshi, trong nhiều
năm nay đã rà soát lại qui trình phụ nữ hóa trong chính trị,
ra quyết định cũng như dịch thuật lại các Kinh Phật (sutras)
loại bỏ ngôn từ giới tính đã được truyền xuống như
điều bất khả thay thế suốt nhiều thế kỷ nay.
Xu
thế xem ra có chiều hướng thiên về cởi mở hơn, không cứng
ngắc, có cơ cấu nữ giới và loại bỏ phẩm trật và quyền
bính, hướng về những đoàn thể đời rất đa dạng, tập
trung vào hoạt động giữa đời, trong gia đình, trong tương
quan và quan tâm nhiều đến những giá trị phụ nữ truyền
thống như chăm sóc và dưỡng dục con cái.
Dưới
nhiều góc độ, Phật giáo và nữ giới phản ảnh những giá
trị và nhận thức giống nhau. Cả hai đều mang tính duy nghiệm
sâu xa và cũng rất trực giác. Cả hai đều cảm nhận được
sự liên kết và tương quan mật thiết giữa vạn vật. Cả
hai tự bản tính đều bao gồm hơn là loại trừ. Vậy nên
đối với nhiều người, việc cả hai hòa quyện vào nhau xem
ra hoàn toàn tự nhiên và đầy hứa hẹn. Cho dù tuyệt đại
đa số các nữ thiền sư được đề cập trong cuốn sách
này đều không coi mình thuộc nữ giới. Có điều sẽ thấy
là khuynh hướng và thuyết pháp cơ bản của họ hoàn toàn
phù hợp với các giá trị phụ nữ. Vì lý do những phụ nữ
này dứt khoát tiến lên và gây ảnh hưởng (và hầu như chắc
chắn là họ đại diện cho ranh giới phát triển của Phật
giáo Hoa kỳ hiện nay) chắc chắn là họ sẽ nắn sửa lại
cách nhìn và cảm nhận của mình về cách hành Phật sự tại
Phương Tây cho những năm tới.
Nếu
chăng đa số các thiền sư đề cập đến trong cuốn sách
này đặc biệt không tự nhận mình thuộc phái nữ quyền,
chúng ta cần đặt vấn đề tại sao họ lại không làm thế.
Sau khi đã lắng nghe và thảo luận cẩn thận, tôi hiểu là
cơ bản cách suy nghĩ của họ phản ánh một tầm nhìn không
mang tính chất nhị nguyên tính – như một sự miễn cưỡng
phân cực, loại trừ, tuyên bố thù nghịch, hoặc là chấp
với bất kỳ những ý kiến cố định nào đó. Tôi muốn
công nhận, thừa nhận và chấp nhận và gộp tóm khuynh hướng
này, trong khi đó cố gắng nới rộng cuộc đàm thoại ở
mức độ rộng thêm chút nữa.
Tôi
tin một phần vấn đề là ở chỗ chúng ta không phân biệt
rõ ràng được các mức độ thực tế khác nhau. Chúng ta đang
vấp phải những vấn đề hóc búa như: Niết Bàn và Vòng
Luân Hồi (Samsara) cái tuyệt đối và tương đối, hữu biên
hay vô biên, siêu nghiệm hay tạm thời. Không dễ gì kiếm
ra được lối thoát. Nhưng khó lòng tránh khỏi, trong lãnh
vực hữu biên chúng ta đang sống và đang hành Phật sự. Đó
là hiện tượng chúng ta đã được mách bảo phải nắm giữ
cẩn thận. Chúng ta đã học phải biết tỉnh thức, chú tâm
vào vấn đề. Đừng bỏ qua điều gì, ý thức nơi chúng ta
đang hiện hữu – trên thế gian này – đó là phương cách
duy nhất vượt khỏi kinh nghiệm giới hạn của chúng ta là
thông qua điều đó. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng
ta bị bắt buộc không nhận ra một vài sự việc. Điều gì
sẽ xảy đến nếu chúng ta tự luyện mình không am tường
điều chúng ta phải cảm nhận trong một vài hoàn cảnh cụ
thể? Nếu chúng ta cần đến một vài soi sáng ngoại lệ để
chiếu sáng những nơi u tối.
Tôi
đang đề xướng, ở mức độ nào đó nữ quyền thuyết chính
là thứ ánh sáng đó. Hơn mười năm trước Elise Boulding đã
viết một cuốn sách mang tựa đề Phần Ngầm Của Lịch Sử
(The Underside of the History). Nói về những nhiệm vụ không có
trong danh sách của phụ nữ từ thời đồ đá (21). Cho đến
nay hàng loạt những cuốn sách đã được xuất bản chứng
minh bằng văn bản những đóng góp của phụ nữ trong mọi
lãnh vực khả dĩ có thể tưởng tượng được trong cuộc
sống. Những cuốn sách này rất cần thiết để giúp ta biết
được toàn bộ vấn đề, hơn là chỉ một phần nhỏ mà
vì yếu tố thời gian đã được nhìn nhận là "sự thật".
Cuốn sách này cũng đang nằm trong chiều hướng đó. Vì rằng
thế giới chúng ta đang sống trong một thời gian dài đã được
thiết lập dựa trên những đường lối tổ phụ. Sự nhận
thức những kỳ vọng và chính ngôn ngữ của chúng ta chỉ
phản ánh một phần sự thật.
William
Blake đã nói, "đừng từ chối điều gì cả." Công việc thực
sự hiện nay của chúng ta là không từ chối điều gì hết.
Về cách nhận thức thiếu phán đoán hoặc quan sát mà không
am tường như Toni Packer đã nói. Nếu như vấn đề nổi lên
về thuyết nữ quyền đối với một số thiền sư của chúng
ta đã trở thành sơ cứng và khắc sâu trong tâm trí bằng
phán đoán và "hiểu biết" thì chính đó lại là điều chúng
ta cần lưu ý trong đầu. Có điều chắc chắn là những kiểu
dáng này sẽ xảy ra. Nhưng đó chẳng phải là bản chất thú
tính hay sao. Bằng mọi giá chúng ta phải tỉnh thức. Nhưng
sự tỉnh thức của chúng ta phải được ý thức, chúng ta
đang hiện diện ở thế gian này, chúng ta đang trong vòng luân
hồi, cũng giống như Niết Bàn, có liên quan đến sỏi đá
và rác rưởi và ánh sáng mặt trời, đến suy tàn, hận thù
(kể cả hận thù chính bản thân mình) và tình yêu. Ngay cả
khi đã thấm nhuần điều đó, thì vị thế "tuyệt đối”
hoặc “siêu việt" đôi khi tỏ ra khô khan cứng cỏi và ưu
tiên một cách khó chịu.. (đương nhiên, chúng ta lại rơi
vào nghịch lý trở lại.. không hề có một "vị thế" nào.
Ý thức được vị thế của ta có nghĩa là chúng ta chẳng
chiếm được một vị thế nhất định nào cả.) nhưng chẳng
có vị thiền sư nào có lỗi vì sự ưu đãi khô khan đó.
– Họ đâu có gạt bỏ thế giới thực tại đâu, nơi bất
kỳ thể hiện nào. Nhưng do chối bỏ nữ quyền, họ đang
từ chối chỉ là một phương cách nhằm rọi sáng vùng tối
tăm nơi nhiều cuộc đời chúng ta, sau đây tôi lại đưa ra
một cái nhìn ở một góc độ khác.
Xét
cho cùng, chính Phật giáo chẳng phải là một hiện tượng
như vậy sao? – Lại thêm một "duy thuyết" (ism) có khả năng
soi sáng cũng như kiện cường nơi một cơ cấu sơ cứng và
bất biến? Chúng ta hãy bằng mọi cách đặt lại vấn đề
nữ quyền và Phật giáo.
IV
Chúng
ta luôn luôn ở điểm khởi đầu... Tôn giáo tồn tại được
bằng cách tự khẳng định lại chính mình. -- Iris Murdoch (22)
Một
số nữ thiền sư tôi đề cập đến đã duy trì liên lạc
mật thiết với truyền thống để lại, trong khi đó lại
truyền bá hết sức nhiệt tình và tế nhị liên can mật thiết
với bản chất truyền thống đó. Một số khác đã gạt bỏ
những hình thức truyền thống, toàn bộ hoặc một phần và
đang thăm dò những phương cách khác để hành Phật hoặc
truyền bá Phật pháp cho phù hợp với kinh nghiệm phương Tây.
Có thể sự tiến triển thách thức nhất chính là ý định
của một số người còn muốn đi xa hơn đặc tính của chính
Phật giáo nữa. Toni Parker muốn dẹp bỏ Phật giáo sang một
bên, Joko Beck chấp nhận song song với một số truyền thống
hữu dụng khác. (Tuy nhiên bà vẫn tin tưởng rằng nơi mọi
tôn giáo, Phật giáo rất có thể đã cống hiến một phương
cách thực hiện rõ nét nhất.) Điều này rất có thể không
phải là một sự phát triển cách mạng ở thời đại chúng
ta được đơn cử ra đây từ tác giả Bankei (1622-1693).
Tôi
không bàn đến Phật giáo nói chung cũng không bàn đến Thiền
(Zen) nói riêng. Bởi vì tôi có thể tự xoay sở để chỉ
cần đề cập đến chính bản thân con người Phật tử mà
thôi, như họ đang tồn tại ngay tại đây và trong lúc này.
Tôi không cần phải bàn đến Phật giáo hay Thiền làm chi
cả. (23).
Nếu
phụ nữ giúp thay đổi bộ mặt Phật giáo tại Hoa kỳ, thì
họ đang quan tâm đến những vấn đề đặc biệt gì? Thực
tế thì nữ thiền sư khác biệt với nam thiền sư ra sao? Chủ
đề nổi bật nhất vọng lại nơi hầu như toàn bộ các nữ
thiền sư chính là ưu tiên số một cho cuộc sống hàng ngày,
cuộc sống nội tại trong chúng ta như là một lãnh vực thực
hành Phật giáo của chúng ta. Bà Christina Feldman, một Ni Sư
Thiền Minh Sát (sống tại nước Anh nhưng thường ghé sang
và tổ chức các cuộc tĩnh tâm, đa số các cuộc tĩnh tâm
đó dành cho phụ nữ và bàn về linh hướng cho phụ nữ) đã
cho biết trong cuộc phỏng vấn chính thức về sự thiếu cân
đối trong việc trình bầy Phật giáo. Bà mô tả con đường
“đạt đến hay xóa bỏ bản ngã" như là một đường lối
một chiều hoàn toàn sao nhãng toàn bộ mọi khía cạnh tâm
linh khác.
Theo
Phật pháp truyền thống thế gian là nơi chúng ta phải thoát
ra khỏi càng nhanh càng tốt. Có cả một hệ thống giá trị
trong đó những vấn đề như tương quan, tiếp xúc với thiên
nhiên, những hoạt động xã hội được đề cập đến như
là thứ yếu so với toàn bộ cuộc sống tận hiến siêu nhiên.
Và thành thật mà nói, những sự việc như bản thân bạn,
những cảm nhận, tình cảm là những điều cần phải tìm
cách chế ngự và bỏ qua. Cơ bản chúng ta phải thoát khỏi
sự ràng buộc đó có nghĩa là biến mình thành trống rỗng.
Nhưng
thực tế trong cuộc sống nhiều người, đặc biệt cuộc
sống của nhiều phụ nữ, chúng ta bỏ ra rất nhiều thời
gian thiết lập tương quan với thế giới, họ đã phải tốn
nhiều thời gian giải quyết hoàn cảnh tiêu cực chung quanh
cuộc sống, để tìm ra ảnh hưởng và sự cần thiết của
những cảm xúc trong cuộc sống. Tôi cảm thấy một tiếp
cận quân bình với tâm linh không phải là cách chúng ta loại
bỏ, hay thoát ra khỏi ảnh hưởng của mọi sự vật đã tạo
ra cuộc sống chúng ta như là một phương tiện hiểu biết.
Cơ bản mà nói thì toàn bộ kinh nghiệm trong cuộc sống của
chúng ta chỉ là một phương tiện để hiểu biết nếu được
sử dụng một cách khôn ngoan, nếu được sử dụng trong tình
thương và lòng cảm thông. Sự tiếp cận này xem ra tích cực
hơn trong việc cổ vũ dấn thân cho xã hội. Tạo ra sự gắn
kết với hơn là đoạn tuyệt với cuộc sống (24).
Tsultrim
Allione cũng đồng ý rằng:
Các
phụ nữ cũng cần ý thức xem những điều thực hành nào
thực sự giúp ích cho cuộc sống chúng ta, những điều nào
có thể thích hợp so với những nỗ lực chúng ta bỏ ra và
phù hợp với những hoàn cảnh sống của chúng ta nữa. Chúng
ta không thể hài lòng bằng cách chỉ có biết thực hiện
đôi điều gì đó vì điều đó được coi như dẫn đến
giác ngộ hoặc tuân thủ một cách mù quáng, những chỉ dụ
của các thiền sư và những vị quản trị nam giới. Chúng
ta cần phải tuân thủ những gì thực sự đang diễn ra. Phụ
nữ cần những phương thế khôn ngoan (upaya) cũng như nam giới
cân đối nghị lực với những hiểu biết sâu rộng (Prajna)
và cả cõi trống không.
Tôi
nhận thấy rất nhiều Phật tử đang nóng lòng lao vào quan
điểm tuyệt đối và coi bất kỳ những tranh luận về những
khác biệt khả dĩ trên đường siêu nhiên của nam cũng như
nữ giới như là điều ấn định hai chiều vô ích được
tạo ra do thiếu hiểu biết thật sự của trí tuệ. Nhưng...
cả hai sự thật tuyệt đối cũng như tương đối cần phải
được cứu xét. (25)
Tác
giả tiếp tục mô tả nhiều cách trong đó những hoạt động
trong cuộc sống phụ nữ – đặc biệt là tình mẫu tử –
đã cung cấp cơ sở để phát triển tâm linh và thúc đẩy
phụ nữ đã thực sự ý thức được một cách siêu nhiên
phải tạo mối liên kết giữa cuộc sống của họ và những
điều họ thuyết giảng. Nhận định về tiềm lực siêu nhiên
mạnh mẽ của tình mẫu tử như là một đường tiến siêu
nhiên đã vọng lại trong tác phẩm của Carol Ochs mang tên tâm
linh và Phụ Nữ (Woman and Spirituality) như sau:
Sự
hướng ngoại của bản ngã đạt được thông qua khổ hạnh
chỉ có thể hoàn tất tốt thông qua sự cống hiến đích
thực, đầu tiên và trên hết là sự chăm sóc thể chất.
Trong việc chăm sóc con cái, các bà mẹ sẽ không tìm cách
hy sinh những nhạy cảm giác quan – họ đơn giản chỉ biết
là trẻ con cần phải có tã lót và khi trẻ con ói mửa chúng
phải được tắm rửa. Họ coi những hành động của họ
không phải là những thành tựu siêu nhiên vĩ đại. Chỉ cần
thực hiện những gì cần phải làm thì sự tiến tới trong
siêu nhiên của họ đã tiến triển rát nhiều. (26).
Tác
giả cho biết, đối với các bà mẹ họ phải học yêu và
chấp nhận - nói cách khác, họ cần phải biết hướng ra
khỏi bản ngã của mình. Thay vì đặt vấn đề “Thượng
đế là gì?" tác giả thay bằng "Thượng đế ở đâu?” và
trả lời: "Ngài ở nơi kinh nghiệm sống của ta và thông qua
những kinh nghiệm của chính chúng ta.... là tuyệt đối trường
tồn”. Kinh nghiệm chăm sóc con cái đầy những “khám phá
thầm lặng này." Chúng ta nhận thấy rằng chúng ta chỉ là
đường dẫn tình yêu, nằm ngoài sự kiểm soát của chúng
ta, điều đó vĩ đại còn hơn chúng ta và chúng biến đổi
chúng ta, “Chúng ta đồng ý để cho cuộc sống người khác
tiếp cận cuộc sống chúng ta đến tận chỗ sâu thẳm nhất
của con người chúng ta, hơn thế nữa, chúng ta cũng lại đồng
ý để cho qui trình nuôi nấng con cái biến đổi chúng ta y
như nó đã hình thành đứa trẻ.” (27)
Trong
những năm qua đã xảy ra những tiếng đồn thổi và những
lượng định lại giá trị tập trung nơi những phụ nữ trung
thành với truyền thống tâm linh Tây phương. Phản ứng lại
những căng thẳng tương tự về nam giới độc quyền và sự
phân biệt đối xử đối với phụ nữ như ở Thiên Chúa
giáo và Do Thái giáo, nhiều nhóm phụ nữ đã tạo ra những
hình thức mới diễn đạt cuộc sống siêu nhiên của họ.
Một số đã quay sang thờ cúng thần nữ. Một số khác lại
quay sang với những hình thức truyền thống mang tính bản
xứ. – như thổ dân Hoa kỳ, thổ dân Châu Phi, Hawaii – hòa
hợp hơn với những giá trị và bản năng của họ, trong khi
đó còn một số người nữa lại tạo nên những trường
phái tâm linh riêng của họ. Một phản ứng khác thì lại
duy trì hợp nhất với truyền thống nguyên thủy trong khi đó
lại cố thay đổi truyền thống đó ngay từ nội tại.
Carol
Christ và Judith Plaskow viết. "Đối với một số người có
cảm quan siêu việt tồn tại trong truyền thống được thể
hiện như là cái cốt lõi đích thực đáng tin cậy của mặc
khải đang nhắm đến tự do từ áp bức, một thứ tự do
họ tin là đã được diễn đạt một cách rõ ràng và thích
hợp hơn bên trong chứ không phải bên ngoài truyền thống.
Một số người khác lại cho là quá khứ tiền Kinh Thánh hay
kinh nghiệm hiện đại cung cấp nhiều nguồn xác thực hơn
về thần học và phụ nữ quan" (28). Thí dụ như, phụ nữ
trong giáo hội Công giáo, kể cả nhiều nữ tu đã nhiều năm
tranh đấu để phụ nữ được phong chức linh mục. Vừa mới
đây thôi có một nhóm thứ hai, chối bỏ chức linh mục vì