Đọc
Kim Dung, thấy có một nhân vật Hoà thượng tên là “Nói
Không Được” rất thú vị. Thú vị không vì tính cách của
ông mà vì cái tên của ông. Thật ra, trong nguyên bản gọi
là Hoà thượng Bất Khả Thuyết. “Bất Khả Thuyết” hay
“Nói Không Được” ta đã gặp nhiều khi học Phật, không
chỉ là Bất khả thuyết mà còn Bất khả tư nghì, Bất khả
đắc, Bất khả…
Đã
biết là “bất khả” mà vẫn cứ tò mò truy tìm mọi ngóc
ngách, đó là cái nghiệp của chúng sinh, nhất là người làm
khoa học, không dễ tin nếu chưa được “chứng minh”. Điều
này quả thật hợp ý Phật. Phật đã chẳng luôn nhắc nhở
ta đừng vội tin, phải thể nghiệm đi cái đã, phải trực
tiếp lấy thân tâm mình làm cái “labo” để mà quan sát
ngắm nghía cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn
nhắc nhở ta phải tinh cần, tinh tấn, phải thực hành, không
được lơ là, chểnh mảng đó ư? Thú vị là, khi còn có thể
“thuyết” được thì chỉ mới tới được cái vỏ ngoài,
còn tới được chỗ thâm sâu, cốt lõi bên trong hẳn là phải
im lặng, phải ú ớ, phải hỏi một đằng trả lời một
nẻo, hoặc tốt hơn cả là phải “tu rị, tu rị…”. Tóm
lại là nói không được, là bất khả thuyết!
Khi
Phật phát hiện ra con đường, chính Ngài cũng ngại ngùng
không muốn tiết lộ, không muốn bày tỏ, vì con đường quả
thật là tuyệt diệu nhưng lạ lùng quá, ngược đời quá,
khó có ai tin, có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau Ngài
mới chịu nói ra, và dĩ nhiên rất đắn đo, nói từng phần,
với mỗi người một cách khác nhau, tuỳ đối tượng. Thường
khi chứng ngộ rồi, các thiền sư mới chịu chọn một vài
học trò để truyền đạt, mà cũng ít chịu truyền, vì truyền
không dễ, bởi nhiều điều “nói không được”, phải quan
sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên mật. Có
học trò uyên thâm mà không tới cả, loay hoay không thoát;
có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà ngộ. Học
giả trí thức, có bằng cấp cao cũng chẳng đến đâu, còn
có người hàng thịt, một hôm buông dao thành Phật. Cho nên
tin không dễ.
Trong
kinh Kim Cang, Phật và Tu Bồ Đề, hai thầy trò đối đáp như
kiểu “role play”, sắm vai để giảng dạy thật hấp dẫn
- trước đó, Phật đã lặng lẽ trình diễn “demonstration”
một màn rất ấn tượng nhưng không phải ai trong hội chúng
cũng nhìn ra. Có lúc, hình như người học trò Tu Bồ Đề
giả bộ hoang mang, không tin người đời sau có thể hiểu
nổi và thực hành được những lời Phật dạy thì Phật
quở: “Chớ nói vậy! Ông chớ nói vậy!”. Người đời
sau còn “thông minh” hơn, còn nhiều điều kiện hơn, dĩ
nhiên là con nhiều khổ đau hơn để mà hiểu Phật. Lạ lùng
là nhiều người trẻ ngày nay hiểu Phật rất nhanh, tin Phật
nữa – không phải là cái tin dị đoan mê tín đâu, mà tin
một cách khoa học – như là một phương thuốc chữa bệnh
tâm thần cho thời đại, giúp cho con người không dấn mình
thêm vào những nỗi khổ đau, ưu phiền, sợ hãi; giúp con
người hạnh phúc hơn; tạo một môi trường xã hội tốt
đẹp hơn và môi trường thiên nhiên an lành hơn. Những người
trẻ thậm chí mới đôi mươi, đặc biệt ở phương Tây ngày
nay có vẻ hiểu Phật, thấm Phật và hành Phật hơn cả ở
phương Đông.
Nỗi
khổ đau của kiếp người thật vô vàn, và dĩ nhiên hạnh
phúc cũng vô vàn không kém, thậm chí cái chuyện được làm
người trên cõi đời này cũng đã là chuyện hy hữu, thế
mà lạ thay, chúng ta chỉ thấy những khổ đau, chỉ nguyền
rủa cuộc đời, cay đắng với bản thân mình, và có vẻ
như rất khoái gặm nhấm những nỗi khổ đau kia, mà quên
đi, lờ đi những niềm hạnh phúc: “Rồi bị thương người
ta giữ gươm đao/Không muốn chữa không chịu lành thú độc”
(Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó có khi còn gọi là “thú
đau thương”, được con người ca tụng, nâng niu, vun vén,
hưởng thụ đã bao đời.
Cứ
hỏi một người đi, hỏi anh ta có hạnh phúc không, anh ta
sẽ sung sướng kể cho nghe triền miên những điều bất hạnh.
Còn nếu hỏi anh ta những điều bất hạnh, anh ta sẽ sung
sướng kể cho nghe biết bao nỗi khổ đau. Con người sống
trong cái khổ như vậy, loay hoay với cái khổ như vậy, thoát
ra không dễ. Một số không nhiều “ngộ” được cái khổ
đau kia chính là mầm sống của hạnh phúc, phiền não kia là
“nguồn lực” của Bồ đề. Cho nên, có người tìm được
con đường, vạch ra con đường, chỉ ra con đường, làm sao
không cảm kích. Mà thú vị, con đường đó không ở đâu
xa, có sẵn đó rồi ở trong ta thôi. Cho nên, người chỉ đường
nói, chả có pháp gì đâu mà bày vẽ, chả có cái gì giành
được, lấy được, chiếm được để mà khoe khoang. Con người
đó mới thật dễ thương làm sao. Con người đó bỏ vương
quyền, bỏ nhà bỏ cửa lên rừng, lội suối trèo đèo, nhịn
đói nhịn khát, có lúc chỉ còn xương bọc da, sờ bụng thì
đụng xương sống, có lúc sống trong nghĩa địa, để bọn
trẻ chăn trâu nhổ vào mặt (…), rồi ngộ ra một điều
thú vị, sảng khoái, thấy con người đáng sống, đáng hạnh
phúc. Con người đó đã biết từ bỏ, dám buông bỏ, đã
kiên trì, đã kham nhẫn, đã thiền định, đã vượt thoát
bằng con đường trí tuệ, và điều quan trọng là không giữ
cho riêng mình mà chia sẻ cho tất cả chúng ta, chẳng đáng
quý ư? Thậm chí, có lúc không thể nói lên được bằng lời
thì Ngài đưa lên một cành hoa và im lặng. Cái sự trao truyền
trong im lặng này mới thật là tuyệt diệu, nó làm cho ta được
tự do khám phá. Khám phá không ra thì ta… ú ớ, khám phá
ra rồi thì ta càng ú ớ, càng nói không được.
“Quán
Tự tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu
kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách…”.
Toàn
bộ “bí mật” nằm trong mấy chữ “hành thâm Bát nhã Ba
la mật” đó mà khong dễ tìm ra. Bát nhã Ba la mật là dịch
âm của Prajna paramita. Rõ ràng không phải để đọc tụng.
Hành cái gì? Hành cách nào? Câu hỏi đặt ra. Và câu trả
lời có thể đơn giản: hành cái “prajna”, theo cách “paramita”.
Không thể dựa vào chữ mà cũng không thể không dựa vào
chữ. Sai một ly đi một dặm. Nói vậy mà không phải vậy.
Không phải vậy mà vậy. Nó cho ta hoàn toàn tự do, và nó
đòi ta phải tự thể nghiệm. Không ai có thể “hành” giùm
người khác. Bát nhã chỉ là một từ dịch âm của Prajna,
có nghĩa là Khí, là Thở, là Hô hấp. Thế nhưng bằng cách
nào chuyện Thở, chuyện Khí, chuyện Hô hấp rất vật chất
kia được chuyển thành cái “Trí”, Trí Bát nhã, Không, Vô
ngã… Đó là một hành trình không đơn giản, một khám phá
tự thân, và với một kết quả hình như cũng “nói không
được”. Thực ra, Phật cũng đã chịu khó nói, chịu khó
giảng giải rồi đó trong Tứ niệm xứ, trong Anapanasati, chỉ
có điều ta chưa “hành thâm” tới nơi tới chốn thôi: “Đây
là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh,
diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”.
Và
như thế, Khí, Hô hấp, Prajna kia đã tự vượt qua lúc nào
để trở thành Không, Vô ngã bên trong Quán Tự Tại mà cũng
sẽ là bên trong của tất cả chúng ta khi thực sự “hành
thâm”? Cái đó nói không được, bất khả thuyết chăng?
BS.
Đỗ Hồng Ngọc (TC Văn hóa Phật giáo số 16 15-5-2006)