1.-
THIỀN TỌA
Tư
thế ngồi có gì đặc biệt không? Không, nếu ta nói về tư
thế ngồi thông thường của mình. Nó chỉ là một cách tiện
lợi để thân ta tạm trút gánh nặng khỏi đôi chân. Nhưng
trong thiền tập, tư thế ngồi rất là quan trọng.
Chúng
ta có thể dễ dàng thấy được việc đó, chỉ cần nhìn
qua hình tướng bên ngoài thôi. Ví dụ, ta không thể biết
rằng một người nào đó đang hành thiền, nếu ta thấy người
ấy đang nằm, đứng hoặc đi. Nhưng ta có thể nhận biết
được ngay, nếu người ấy đang ngồi, nhất là trên sàn
nhà. Nhìn từ bất cứ góc cạnh nào cũng vậy, tư thế ngồi
thiền lúc nào cũng biểu tượng cho một sự tỉnh thức, mặc
dù đôi mắt đang nhắm và gương mặt có nét tĩnh lặng và
an lạc. Tư thế ngồi ấy rất vững vàng và hùng tráng như
một ngọn thái sơn. Sự vững chãi ấy mạnh mẽ lắm, tỏa
sáng vào bên trong và lan rộng ra chung quanh ta. Nhưng khi ta bị
hôn trầm và thất niệm xâm chiếm, thì ngay giây phút ấy,
tất cả những đức tính đó sẽ tiêu tan mất. Tâm ta bị
sụp đổ bên trong và ngoài thân sẽ biểu lộ cho thấy tình
trạng ấy.
Ngồi
thiền đòi hỏi một tư thế ngay thẳng và trang nghiêm, thường
thường kéo dài trong một thời gian. Nhưng có được một
tư thế vững vàng còn tương đối dễ, đó chỉ là giai đoạn
đầu của một tiến trình khai mở liên tục nhiều thử thách
này. Có thể bạn đã sẵn sàng để "đậu lại" chiếc xe
thân của mình rồi, nhưng tâm bạn thì sao, giờ này bạn có
biết nó đang làm gì và ở đâu không? Thiền tọa không phải
chỉ có nghĩa là ngồi trong một tư thế đặc biệt, mặc
dù việc ấy có một tác dụng rất lớn. Nó còn có nghĩa
là tiếp nhận một tư thế đặc biệt cho tâm của mình nữa.
Thiền tọa tức là tâm tọa.
Một
khi bạn ngồi xuống rồi, sẽ có rất nhiều đường lối
để tiếp xúc với giây phút hiện tại. Tất cả đều đòi
hỏi một sự chú ý có chủ định và không phán đoán. Chỉ
có sự khác biệt là ta chọn đề mục gì và bằng cách nào.
Phương
pháp hay nhất và đơn giản nhất là bắt đầu với hơi thở
của bạn, cảm nhận sự ra vào của hơi thở mình. Rồi từ
đó, bạn có thể nới rộng ý thức của mình ra, để quan
sát sự đến và đi của mọi việc, tính cách lòng vòng và
máy móc của tư tưởng, cảm thọ, tri thức, cảm hứng, cũng
như của thân và tâm. Nhưng muốn năng lực của định và
niệm được phát huy đúng mức, nó cũng cần phải mất một
thời gian. Và chừng ấy, ta sẽ có thể quán sát mọi đề
mục mà không bị lạc hoặc dính mắc vào bất cứ một đối
tượng đặc biết nào, hoặc bị chúng khống chế. Ðối với
đa số chúng ta, nó đòi hỏi nhiều năm tu tập và còn tùy
thuộc vào nhiệt tâm cũng như nghị lực của mình nữa. Vì
vậy, lúc đầu ta nên ở với hơi thở của mình, xử dụng
đó như là một mỏ neo đem ta trở về hiện tại những khi
mình bị trôi dạt vào thất niệm. Bạn hãy thử thực tập
trong vài năm xem sao!
Thực
tập: Mỗi ngày bạn nên dành ra một khoảng thời gian nhất
định để ngồi thiền. Năm phút cũng được, hoặc là mười,
hai mươi, ba mươi phút nếu bạn muốn. Ngồi xuống và quan
sát giờ phút hiện tại phô bày, bạn không có một mục đích
nào hết ngoài việc xử dụng trọn vẹn trong giây phút này.
Xử dụng hơi thở như một dây neo giữ ta lại trong hiện
tại. Tư tưởng của ta sẽ trôi dạt đó đây, tùy theo dòng
nước và ngọn gió tâm, cho đến một lúc nào đó, sợi dây
neo sẽ bị căng thẳng và kéo ta trở về. Chuyện này sẽ
xảy ra rất thường. Ðừng nản lòng. Mau mắn đem sự chú
ý của mình trở về với hơi thở mỗi khi nó lang thang. Bạn
nên nhớ giữ cho thân mình ngay thẳng nhưng không phải là
cứng đơ. Tưởng mình như là một ngọn núi vững vàng.
2.-
NGỒI XUỐNG CHỖ CỦA MÌNH
Mỗi
khi bạn bước đến tọa cụ của mình, bạn nên có một ý
niệm về hành động ngồi xuống chỗ của mình. Việc ấy
sẽ giúp bạn rất nhiều trong sự tu tập. Ngồi thiền rất
khác với hành động ngồi xuống thông thường hàng ngày của
ta. Khi ta ngồi thiền, hành động ngồi xuống chỗ ấy của
mình, tự nó có một năng lượng rất lớn, cả trong việc
chọn lựa chỗ ngồi cũng như chánh niệm về thân. Tư thế
ấy biểu tượng cho một sự cứng rắn, vươn thẳng, mặc
dù là ta đang ngồi xuống. Nó mang một ý thức tôn trọng
về nơi chốn cũng như sự sắp xếp của thân và tâm trong
giây phút hiện tại.
Mỗi
khi chúng ta ngồi xuống chỗ của mình, mặc dù ý thức được
năng lượng của nó, nhưng ta cũng đừng bao giờ để quá
bận tâm về nơi chốn cũng như thư thế ngồi của mình. Thật
ra, trong nhà hoặc ở ngoài trời, chúng cũng có những "địa
điểm năng lực" đặc biệt. Nhưng với một thái độ ngồi
xuống chỗ của mình, ta có thể ngồi xuống ở bất cứ một
nơi nào, với bất cứ một tư thế nào, ta vẫn có thể cảm
thấy an ổn. Khi nào ta có thể duy trì chánh niệm về thân,
tâm, nơi chốn cũng như tư thế của mình, và vẫn giữ được
một sự bình thản, không mong ước, chừng ấy và chỉ có
chừng ấy, ta mới thực sự là ngồi thiền.
3.-
NHÂN PHẨM
Khi
diễn tả về tư thế ngồi thiền của mình, tôi nghĩ danh
từ thích hợp nhất là nhân phẩm.
Mỗi
khi ngồi xuống thiền, tư thế của ta thường nói với ta
một việc gì đó. Nó có một sự phát biểu riêng của nó.
Ta có thể nói rằng,tư thế ngồi thiền tự chính nó là thiền
tập. Nếu ta ngồi xiêu vẹo, nó phản chiếu một sự thiếu
năng lượng thụ động và không được trong sáng. Nếu chúng
ta ngồi thẳng cứng đơ, là ta đang bị căng thẳng, dụng
công hoặc cố gắng quá sức. Trong những khóa tu thiền, mỗi
khi tôi xử dụng danh từ "nhân phẩm" để nhắc nhở các thiền
sinh, như là "ngồi sao cho biểu lộ được nhân phẩm của
mình", tôi để ý thấy mọi người lập tức sửa lại tư
thế người cho được thẳng hơn. Nhưng họ không hề gồng
cứng người. Gương mặt họ thoải mái, hai vai xuôi xuống,
đầu, cổ và lưng cùng nằm trên một đường thẳng. Xương
sống đứng thẳng ra từ xương chậu, biểu lộ năng lượng.
Ðôi khi những người ngồi trên ghế có khuynh hướng nhích
tới trước,tách ra khỏi lưng dựa một cách tự nhiên, khi
nghe lời nhắc nhở của tôi. Mọi người dường như ai cũng
lập tức ý thức được cảm nhận về nhân phẩm trong họ,
và làm sao để biểu lộ nó.
Tôi
nghĩ, thỉnh thoảng chúng ta phải cần được nhắc nhở rằng,
mình bao giờ cũng có nhân phẩm, tư cách và xứng đáng. Nhiều
khi chúng ta quên mất điều ấy, có lẽ vì những thương tích
trong quá khứ, hoặc vì sự bất định trong tương lai. Tôi
không tin rằng, mình cảm thấy không xứng đáng vì tự ở
mình. Chúng ta đã được giúp đở rất nhiều trong việc gầy
dựng cái mặc cảm tự ty ấy. Từ thuở còn thơ, ta đã được
dạy bằng trăm ngàn cách khác nhau và chúng ta học rất nhanh.
Vì
vậy, mỗi khi ta ngồi xuống tọa cụ và tự nhắc mình ngồi
với nhân phẩm, là chúng ta đang trở lại với một tự tánh
nguyên vẹn. Hành động đó tự nó là một lời tuyên bố
sấm sét. Bạn có thể tin chắc rằng nội tâm bạn sẽ lắng
nghe. Còn bạn thì sao, bạn có biết lắng nghe không? Chúng
ta có sẵn sàng tiếp nhận những kinh nghiệm trực tiếp của
giây phút hiện tại này không?
Thực
tập: Hãy ngồi xuống sao cho biểu lộ nhân phẩm của mình
trong chừng ba mươi giây. Ghi nhận những cảm giác của bạn.
Hãy thử đứng với nhân phẩm. Ðôi vai của bạn như thế
nào? Xương sống và đầu của bạn ra sao? Ði một cách có
tư cách, có nhân phẩm nghĩa là đi như thế nào?
4.-
TƯ THẾ
Khi
ta ngồi với một chủ định vững vàng, tự thân ta sẽ biểu
lộ được một nghị lực và niềm tin rất sâu sắc. Chúng
tỏa chiếu vào bên trong lẫn bên ngoài ta. Một tư thế ngồi
vững vàng đầy nhân phẩm, tự nó chính là một sự xác nhận
của giải thoát, của tính chất hòa hài, của vẻ đẹp và
sự phong phú của cuộc sống.
Có
khi bạn cảm nhận được những điều ấy, và cũng có khi
là không. Những lúc ta cảm thấy buồn nản, mệt nhọc và
bối rối, ngồi thiền cũng có thể giúp ta tiếp xúc được
với sức mạnh cũng như giá trị của cuộc đời ta đang sống.
Trong những giai đoạn khó khăn, nếu bạn có thể gom góp nghị
lực lại để ngồi xuống thiền, cho dù trong một khoản thời
gian ngắn, nó có thể giúp bạn lấy lại được cái cốt
tủy của con người mình, nó nằm ngoài phạm trù của những
sự thăng và trầm, giải thoát và trói buộc, sáng tỏ và
mù mịt. Cái cốt tủy này có một liên hệ mật thiết với
chánh niệm, nó không hề bị giao động theo tâm thức hoặc
hoàn cảnh chung quanh ta. Nó giống như một tấm gương sáng,
vô tư phản chiếu những gì xảy ra trước mắt. Nó ý thức
được thực tại một cách sâu sắc, những gì đang làm cho
đời ta xao động hoặc khống chế ta. Biết rằng mọi việc
rồi sẽ thay đổi, nó tĩnh lặng như một tấm gương sáng
trong giờ phút hiện tại - quan sát việc gì đang xảy ra, ôm
ấp sự có mặt của chúng, cỡi ngọn sóng của một thực
tại đang biểu lộ như những ngọn sóng của hơi thở mình.
Và vững tin rằng, không chóng thì chầy, ta cũng sẽ tìm được
phương cách đối phó, hòa giải và vượt thoát ra được
hết. Ta không có một cố gắng nào khác hơn là chỉ quan sát
chúng, để cho mọi việc như là, và sống thật trọn vẹn
trong mỗi phút mỗi giây.
Thiền
quán không phải là một cố gắng đi trốn tránh những khó
khăn hoặc vấn đề của cuộc sống, không phải là ta đi
tìm một trạng thái dững dưng hoặc chối bỏ nào hết. Trái
lại, ta lúc nào cũng biết duy trì chánh niệm và sẵn lòng
trực diện với những đau đớn, bối rối và mất mát, nếu
chúng là những gì đang chi phối thực tại. Chúng ta tìm hiểu
vấn đề bằng một đường lối rất đơn giản, là để
cho nó có mặt trong tâm, cùng với hơi thở và giữ một tư
thế ngồi thật vững chãi.
Trong
truyền thống Zen, thiền sư Shunryu Suzuki có nói: "Trạng thái
tâm có mặt khi bạn ngồithiền vững vàng tự nó là giác
ngộ... Tư thế ngồi không phải chỉ là một phương tiện
để ta đạt đến một trạng thái chân thật của tâm. Ngồi
trong tư thế ấy tự nó chính là một trạng thái chân thật
của tâm". Vì vậy, khi ngồi xuống thiền là ta đã tiếp xúc
được với chân tánh của mình rồi.
Thế
cho nên, khi ta tập ngồi thiền, điều tiên quyết là phải
ngồi sao cho thân được vững vàng, tỏa sáng, nói lên được
sự có mặt của mình, rằng ta sẵn sàng tiếp nhận bất cứ
một sự việc gì xảy ra trong giây phút hiện tại. Ðó là
một thái độ vô trước và một sự vững vàng không lay chuyển,
như một tấm gương sáng, chỉ biết phản chiếu, hoàn toàn
trống không, tiếp nhận và cởi mở. Thái độ nằm trong tư
thế của ta, ngay trong cách ngồi của ta. Tư thế ấy chính
là hiện thân của thái độ.
Vì
vậy, nhiều người thấy rằng, hình ảnh một ngọn núi giúp
họ rất nhiều trong sự phát triển định và niệm trong thiền
tập. Nó khơi dậy những đức tính như là hướng thượng,
to tát, hùng tráng, không lay chuyển và có gốc rễ, giúp ta
mang những đức tính ấy trực tiếp vào tư thế và thái độ
của mình.
Chúng
ta nên nhớ luôn luôn mời gọi những đức tính ấy vào trong
sự thiền tập của mình. Sự kiên trì thực tập sẽ giúp
ta thể hiện được nhân phẩm, sự tĩnh lặng và an lạc trong
bất cứ một hoàn cảnh nào. Nó có thể mang lại cho ta một
nền tảng vững chắc, xác thực để duy trì chánh niệm và
bình lặng, ngay cả trong những giờ phút căng thẳng và xáo
động nhất. Nhưng chỉ khi nào ta thật sự thực tập, thực
tập và thực tập.
Bạn
nên nhớ một điều này, ta không nên nghĩ rằng mình biết
thế nào là có chánh niệm, và chỉ để dành để đối phó
với những biến cố quan trọng mà thôi. Vì khi những biến
cố lớn xảy ra, với một năng lượng rất mạnh, chúng sẽ
lập tức tràn ngập và lấn áp ta, luôn cả những ý tưởng
ngây ngô, thơ mộng về tĩnh lặng, vế thế nào là có chánh
niệm. Thiền tập là một tiến trình từ tốn, chậm rãi và
nhiều tự chủ, như là trồng cây, san bằng núi, tát cạn
biển. Nó là công việc của giây phút này và cũng là của
trọn một đời người, tất cả chỉ là một mà thôi.
5.-
TA LÀM GÌ VỚI ÐÔI BÀN TAY
Trong
thân ta có những luồng năng lượng rất tinh tế. Chúng đã
được kẻ vạch, học hỏi và xử dụng trong những truyền
thống tu tập như là thiền định và Du già (Yoga) từ hàng
mấy ngàn năm nay. Bằng trực giác, chúng ta biết rằng mỗi
tư thế của mình biểu lộ một trạng thái đặc biệt, và
chúng tỏa chiếu vào bên trong cũng như ra bên ngoài ta. Ngày
nay người ta thường gọi đó là "ngôn ngữ của thân". Nhìn
bề ngoài một người, ta có thể đọc được thứ ngôn ngữ
ấy, ta có thể biết được người ấy nghĩ gì về chính
họ. Chúng ta lúc nào cũng truyền phát đi các tin tức ấy
cho bất cứ những ai biết tiếp nhận chúng.
Nhưng
ở đây, tôi muốn nói đến giá trị của việc ý thức được
ngôn ngữ của chính bản thân mình. Ý thức ấy có một khả
năng xúc tác, làm phát triển sự chuyển hóa cũng như sự
tăng trưởng của ta. Trong truyền thống Du già, bộ môn có
liên quan đến những tư thế đặc biệt của thân được
gọi là Ấn, tức là Mudra. Nói chung mọi tư thế của thân
đều có thể là Ấn, vì mỗi cái đều có mang một biểu
tượng và một năng lượng đặc biệt. Nhưng Ấn thường
được dùng để nói đến những gì tinh tế hơn là tư thế
của toàn thân. Chúng được dùng để diễn tả vị thế của
đôi bàn tay, và còn được gọi là thủ ấn.
Nếu
có dịp bước vào một tu viện Phật giáo và quan sát những
hình tượng Phật và các vị Bồ tát, bạn sẽ nhận thấy
rằng trong hàng trăm tư thế thiền định khác nhau, đứng,
nằm hoặc ngồi, đôi bàn tay của các ngài cũng còn được
đặt trong những vị thế khác nhau. Trong tư thế ngồi thiền,
đôi khi hai bàn tay được đặt trên đầu gối, lòng bàn tay
úp xuống; đôi khi một bàn tay hoặc cả hai bàn tay ngửa lên;
đôi khi có một ngón tay chạm xuống đất, trong khi bàn tay
kia đưa lên. Cũng có khi hai bàn tay để trong lòng bắp vế,
bàn tay này ngửa lên, nằm trong lòng bàn tay kia, hai đầu ngón
tay cái khẽ chạm vào nhau, làm thành một hình bầu dục như
quả trứng, đó được gọi là vũ trụ ấn. Có khi hai bàn
tay được chấp vào nhau để trước ngực như hình một đóa
sen. Tư thế này được dùng để chào nhau, ta kính nhận được
Phật tính ở nơi người đối diện.
Những
thủ ấn này, mỗi cái đều mang một năng lượng khác nhau.
Bạn có thể tự thử nghiệm lấy việc ấy trong sự thiền
tập của mình. Bạn hãy thử ngồi với đôi bàn tay úp xuống
để trên đầu gối. Ghi nhận tính chất tự chế của nó.
Ðối với tôi, tư thế này biểu lộ rằng ta không tìm kiếm
thêm một việc gì nữa, mà chỉ tiêu thụ những gì mình đã
có.
Nếu
bạn thử xoay lòng bàn tay lên trời, lẽ dĩ nhiên là trong
chánh niệm, bạn có thể sẽ cảm nhận được một sự thay
đổi nơi vùng năng lượng trong thân. Ðối với tôi, tư thế
này biểu tượng cho một sự tiếp nhận, cởi mở với năng
lượng từ bên trên. Những năng lượng ấy là của trí tuệ,
thanh tịnh và từ bi.
Mọi
vị thế của đôi bàn tay ta đều là những thủ ấn, vì chúng
đều mang theo một năng lượng, dù tinh tế hay là hiển lộ.
Ví dụ năng lượng của một nắm tay chẳng hạn. Mỗi khi
ta tức giận, bàn tay ta thường có khuynh hướng nắm chặt
lại. Có một số người thực hành thủ ấn này một cách
vô ý thức, rất nhiều lần trong đời sống của họ. Nó
tưới tẩm cho những hạt giống giận dữ và bạo động trong
ta mỗi khi ta làm việc ấy. Và rồi mỗi ngày cây sân hận
của ta càng lúc sẽ trở nên xanh tươi hơn, mạnh mẽ hơn.
Lần
tới, nếu bạn thấy mình nắm chặt bàn tay lại vì một cơn
giận nào đó, bạn hãy giữ chánh niệm và chú ý đến thái
độ của ta được biểu lộ trong cái nắm tay ấy. Cảm nhận
được sự căng thẳng, căm giận, khích động và sợ hãi
đang có mặt nơi đó. Rồi trong cơn giận của mình, như là
một thử nghiệm, nếu người làm cho ta giận có mặt nơi
đó, bạn hãy mở rộng đôi bàn tay mình ra, chấp lại trước
ngực làm thành hình một đóa sen. Lẽ dĩ nhiên người ấy
sẽ ngẩn ngơ, chẳng biết bạn dang làm trò gì! Ghi nhận chuyện
gì xảy đến cho cơn giận và nổi đau của bạn, trong khi
bạn giữ tư thế này, dù chỉ trong giây phút.
Tôi
nhận thấy rằng, mỗi khi thử làm việc ấy, tôi không thể
nào duy trì cơn giận được nữa. Việc đó không có nghĩa
là cơn giận của ta không bao giờ là chánh đáng. Nhưng vì
sẽ có nhiều cảm xúc khác tham dự vào, giúp ta kiểm soát
và hòa giải được cơn giận ấy - như là lòng từ bi, thương
hại đối với người kia, và có lẽ nhờ một sự hiểu biết
minh triết hơn. Ta ý thức được rằng, mọi việc đều có
liên hệ chằng chịt với nhau, cái này dẫn đến cái kia,
có thể một nguyên nhân vô tư nào đó đưa đẩy đến một
kết quả bị hiểu lầm là có ác ý. Và rồi từ đó si mê
cộng thêm vào si mê, tham sân cộng thêm với tham sân, ta không
còn thấy đâu là ánh sáng nữa.
Khi
thánh Gandhi bị ám sát vì một phát súng kề sát bên, ngài
đã chấp hai tay lại và hướng về kẻ giết ngài, thốt lên
một câu thần chú rồi nhắm mắt. Những năm dài tu tập thiền
định và Du già, được hướng dẫn bởi bộ kinh Bhagavad Gita,
đã đem lại cho thánh Gandhi một thái độ vô trước, không
dính mắc vào bất cứ một việc gì, ngay cả chính sự sống
của mình. Nó đã cho phép ngài được tự do chọn bất cứ
một thái độ nào ngài muốn, ngay cả trong lúc mạng sống
của mình đang bị cướp đoạt đi. Thánh Gandhi không chết
trong sự giận dữ hoặc là bất ngờ. Ngài bao giờ cũng ý
thức rằng mạng sống mình luôn luôn đang bị đe dọa. Nhưng
ngài dám làm theo chí hướng và niềm tin của mình. Thành Gandhi
là một biểu tượng cho đức từ bi. Ngài sống cho lý tưởng
tự do của cả chánh trị lẫn tôn giáo. Sự an ninh cá nhân,
ngài không bao giờ lấy đó làm trọng. Bao giờ ngài cũng dám
hy sinh.
Thực
tập: Hãy tập ý thức được những phẩm tính của các cảm
xúc tinh tế khác nhau, ta có trong một ngày và trong suốt thời
gian ngồi thiền. Ðặc biệt chú ý đến đôi bàn tay của
bạn. Vị thế của chúng có tạo nên một sự khác biệt nào
không? Ghi nhận rằng, khi ta có chánh niệm về thân thì ta
cũng sẽ có chánh niệm về tâm.
Khi
bạn thực tập tiếp xúc với đôi bàn tay của mình trong lúc
ngồi thiền, ghi nhận xem nó ảnh hưởng đến sự xúc chạm
của bạn trong đời sống hằng ngày ra sao? Mọi việc, từ
mở một cánh cửa cho đến ôm hôn một người thân, đều
đòi hỏi sự xúc chạm. Trong ngày, biết bao nhiêu lần bàn
tay ta đã mở một cánh cửa mà không hề có ý thức, không
có một cảm giác nào hết. Lần tới, nếu bạn có ôm hôn
một người thân, đừng để cho nó trở thành một hành động
máy móc, phải biết có mặt trọn vẹn và thật lòng.
6.-
XẢ THIỀN
Những
giây phút chót trong giờ ngồi thiền, cũng có những khó khăn
riêng của chúng. Chánh niệm của ta có thể trở nên dễ duôi,
và mong chờ cho đến hết giờ. Thái độ của ta trong lúc
này rất là quan trọng. Chính những giai đoạn chuyển tiếp
này là một sự thử thách cho ta, làm sao giữ cho chánh niệm
được sâu sắc hơn và nới rộng được phạm vi của nó.
Vào
lúc cuối giờ ngồi thiền, nếu bạn không cẩn thận và thiếu
ý thức, có thể bạn sẽ bắt qua làm chuyện khác mà không
hề biết giờ thiền của mình đã chấm dứt ra sao, hoặc
như thế nào? Giai đoạn chuyển tiếp ấy đối với bạn sẽ
chỉ là một bóng mờ. Bạn có thể dùng ngọn đèn chánh niệm
soi sáng tiến trình này, bằng cách tiếp xúc với những ý
nghĩ và sự thúc đẩy là đã đến giờ xả thiền. Dù bạn
đã ngồi yên một giờ đồng hồ hoặc chỉ dăm ba phút, có
thể sẽ có một cảm giác thật mạnh nói với bạn rằng:
"Thôi! bấy nhiêu đó đủ rồi". Hoặc là bạn hé mắt nhìn
đồng hồ và thấy rằng đã đến giờ xả thiền.
Trong
giờ thiền tọa, thử xem bạn có thể ghi nhận được ý nghĩ
đầu tiên thức đẩy mình đi nghĩ không. Và tiếp theo đó
sẽ có nhiều ý nghĩ tương tự khởi lên, càng lúc càng mạnh
mẽ hơn. Mỗi khi ghi nhận được chúng, hãy thở vài giây
và tự hỏi: "Ai là người đã đủ rồi?" Hãy cố gắng nhìn
sâu vào những gì nằm đằng sau những tư tưởng ấy. Có
phải chúng chỉ là những mệt mỏi, buồn chán, đau đớn,
bồn chồn, nóng nảy; hay thật sự là lúc ta nên đi nghỉ?
Nhưng dù gì đi nữa, thay vì máy móc đứng dậy đi làm việc
khác, bạn hãy quán chiếu câu hỏi ấy, và có chánh niệm
về những cử động xả thiền của mình, như bất cứ một
đề mục nào khác trong giờ thiền tập.
Sự
thực tập này còn có thể giúp ta phát huy chánh niệm trong
bất cứ một hoàn cảnh nào đòi hỏi một sự hoàn tất,
chấm dứt và bắt đầu khởi sự một công việc mới. Nó
có thể đơn giản và ngắn ngủi như là tiếp xúc với cử
động đóng cửa của mình, hoặc phức tạp và đau đớn như
một đoạn đời nào đó của ta vừa đi qua. Ta rất dễ đóng
cửa một cách máy móc, vì hành động ấy tầm thường quá,
không nghĩa lý gì so với những đại sự khác. Nhưng cũng
chính vì nó tầm thường mà khi ta thực tập đóng cánh cửa
trong chánh niệm, nó lại có tác dụng phát khởi và làm sâu
sắc thêm sự bén nhạy, khả năng tiếp xúc với thực tại,
cũng như hóa giải những thói quen vô ý thức của ta.
Trong
đời sống cũng thế, sự thất niệm cũng có thể len lỏi
vào những giây phút chuyển tiếp nghiêm trọng nhất trong đời
ta, như là tuổi già hoặc giờ phút hấp hối. Và trong lãnh
vực này chánh niệm cũng có một năng lượng chữa trị rất
lớn. Vì không dám trực diện với những cảm xúc đau đớn
- cho dù đó là buồn nản, tủi hổ, thất vọng, sân hận,
hoặc có thể là vui sướng, thỏa mãn - ta có thể vô tình
đi lẫn trốn trong đám mây mù của sự tê lặng. Nơi đó,
ta không cho phép mình được cảm giác một cái gì hết, hoặc
ý thức được những gì mình đang cảm xúc. Như một vầng
mây mù, thất niệm trùm phủ những giây phút quan trọng nhất,
sâu sắc nhất, trong cuộc đời chúng ta. Nó che mờ hết những
cơ hội có thể giúp ta thấy được sự vận hành của luật
vô thường, tiếp xúc được với tự tánh vô ngã, với điều
bí mật của sự nhỏ nhoi, mong manh và tạm thời của hiện
hữu, cũng như giúp ta được bình thản trước những đổi
thay không thể nào tránh được.
Trong
các thiền viện theo truyền thống Zen, những giờ thiền đường
được chấm dứt bằng một tiếng động lớn, do hai thanh
gỗ đánh mạnh vào nhau. Không có một tiếng chuông thanh nhẹ,
dịu dàng báo hiệu giờ xả thiền. Thông điệp ấy ở đây
là sự cắt ngang - đã đến lúc chúng ta tiếp sang việc khác.
Nếu bạn đang mơ mộng gì đó khi tiếng gõ vang lên, dù một
chút thôi, âm thanh ấy sẽ làm bạn giật mình và giúp bạn
thấy rằng mình đã không thật sự có mặt trong giờ phút
hiện tại. Nó nhắc nhở ta giờ phút ngồi thiền đã qua rồi,
và bây giờ là một giây phút mới, ta phải đối diện lại
từ đầu.
Trong
những truyền thống khác, một tiếng chuông êm nhẹ thường
được dùng để báo hiệu vào cuối giờ hành thiền. Âm thanh
trầm ấm của tiếng chuông cũng có khả năng mang ta trở về
với hiện tại và nhắc nhở nếu ta đang sống trong thất
niệm. Vì vậy, vào cuối giờ ngồi thiển, một âm thanh êm
nhỏ cũng tốt, mạnh cũng tốt. Cái nào cũng chỉ để nhắc
nhở ta phải có mặt trọn vẹn trong giây phút chuyển tiếp
này, sự chấm dứt nào cũng phải là một sự bắt đầu,
điều đó mới thật sự là quan trọng, như trong kinh Kim Cương
có nói: "Giữ một tâm không chấp trước vào bất cứ một
cái gì hết" (Tâm vô sở trụ). Và chỉ đến chừng ấy, chúng
ta mới có thể thấy được chân tướng của mọi vật, và
tiếpxúc với chúng bằng một cảm xúc và một tuệ giác trọn
vẹn.
Thị
dĩ thánh nhân,
Xử
vô vi chi sự.
Hành
bất ngôn chi giáo,
Vạn
vật tác yên nhi bất từ.
Lão
Tử, Ðạo Ðức Kinh
Dịch:
Vậy
nên, thánh nhân,
Dùng
vô vi mà xử sự.
Dùng
bất ngôn mà dạy dỗ,
Ðể
cho vạn vật nên mà không cản.
Thực
tập: Hãy giữ chánh niệm, chú ý đến việc bạn chấm dứt
giờ ngồi thiền của mình như thế nào. Dù trong bất cứ
một tư thế nào - đi, đứng, nằm, ngồi - "Ai là người xả
thiền", bằng cách nào, ra sao và vì sao? Ðừng bao giờ phán
xét nó hoặc chính bạn - chỉ quan sát thôi và cố gắng tiếp
xúc với sự chuyển tiếp từ việc này sang việc khác.
7.-
NÊN NGỒI THIỀN BAO LÂU?
Hỏi:
Tôi nên ngồi thiền bao lâu?
Ðáp:
Làm sao tôi biết được.
Câu
hỏi người ta hỏi tôi nhiều nhất là họ nên ngồi thiền
trong bao lâu! Lúc tôi mới khởi sự đem thiền tập áp dụng
vào áp dụng cho những bệnh nhân trong nhà thương, chúng tôi
đã cảm thấy rằng, điều quan trọng là họ cần phải được
thực tập ngồi thiền trong một thời gian tương đối dài,
ngay từ lúc mới bắt đầu. Vì tôi tin vào nguyên tắc là,
nếu bạn đòi hỏi nhiều ở người ta, hoặc là yêu cầu
họ tự đòi hỏi họ nhiều, thì bạn sẽ thu gặt được
nhiều. Còn ngược lại, nếu bạn đời hỏi một chút thôi,
bạn sẽ chẳng thu lượm được bao nhiêu. Chúng tôi yêu cầu
mọi người phải thực tập khoảng bốn mươi lăm phút mỗi
ngày ở nhà. Tôi nghĩ là bốn mươi lăm phút lâu đủ để
cho ta có thể tĩnh lặng xuống và giữ chánh niệm, và có
lẽ ít nhất cũng kinh nghiệm được mùi vị của một sự
buông thả hoàn toàn và một cảm giác lành mạnh. Và thời
gian ấy cũng lâu đủ để cho ta có cơ hội tiếp xúc lại
với những cảm thọ mà ta muốn trốn tránh. Vì trong cuộc
sống hàng ngày, chúng thường khống chế đời ta và cướp
đi khả năng tĩnh lặng và chánh niệm của ta. Chúng là những
sự buồn chán, bất an, nóng nảy, sợ hải, lo lắng, mơ mộng,
tưởng nhớ, đau đớn, mệt mỏi và đau khổ.
Và
kết quả là quyết định ấy của chúng tôi rất đúng! Hầu
hết những người tham gia chương trình của chúng tôi đều
sẵn sàng thay đổi nếp sống của họ, và chuyện ấy không
phải dễ, để ngồi thiền mỗi ngày bốn mươi lăm phút,
ít nhất là trong vòng tám tuần liên tiếp. Và đa số người
vẫn còn tiếp tục giữ được lối sống mới ấy. Sau một
thời gian, không những nó trở nên dễ dàng hơn, mà còn cần
thiết hơn, nó trở thành một sợi dây cấp cứu của họ.
Những
khuôn mẩu đó cũng có bề trái của nó. Những gì là thử
thách nhưng có thể thực hành được đối với một người
vào giai đoạn này của cuộc đời, có thể gần như là bất
khả trong một giai đoạn khác, cũng cùng với một người
ấy. Ý niệm về "dài" và "ngắn", chúng tương đối vô cùng.
Một người mẹ với những đứa con nhỏ, chắc chắn là không
thể nào có được bốn mươi lăm phút để làm bất cứ một
việc gì. Nhưng có phải là nó có nghĩa bà ta sẽ không thể
thực hành thiền được hay chăng?
Nếu
cuộc đời bạn đang ở giữa một cơn khủng hoảng bất tận,
hoặc bạn đang sống trong một xáo trộn về xã hội và kinh
tế, có lẽ bạn sẽ không có tâm thần đâu mà ngồi thiền
lâu, cho dù có thì giờ chăng nữa. Sẽ có chuyện này chuyện
nọ xảy ra làm ngăn trở, nhất là khi bạn nghĩ rằng mình
phải bỏ bốn mươi lăm phút mỗi ngày để không làm gì hết.
Và sống trong một gian nhà chật chội, đông người ở, cũng
có thể là một chướng ngại cho sự tu tập hàng ngày của
mình.
Ta
không thể hy vọng rằng các sinh viên y khoa có thể đều đặn
bỏ ra một khoảng thời gian dài nhàn rỗi mỗi ngày, cũng
như những người phải làm việc trong các hoàn cảnh hoặc
tình trạng khẩn cấp. Và đối với những người chỉ tò
mò nhưng không hề cương quyết thực tập, không muốn hy sinh
những tiện nghi, an nhàn và thời giờ của mình, thì cũng
vậy thôi.
Vì
vậy, đối với những ai muốn đạt được một sự quân
bình trong đời sống, thì sự linh động không những là hữu
ích mà còn rất cần thiết. Ta nên nhớ rằng, thiền tập
không có dính dáng gì đến thời giờ. Năm phút ngồi thiền
cho đúng đắn cũng có thể thâm sâu bằng hoặc hơn bốn mươi
lăm phút. Sự tinh chuyên của bạn quan trọng hơn vấn đề
thời gian. Vì khi ngồi thiền là chúng ta bước ra khỏi giờ
phút thông thường và thể nhập vào giây phút hiện tại,
nơi đó không có kích thước của không gian và thời gian.
Vì vậy, nếu bạn có ý muốn thực hành, dù một chút thôi,
việc đó cũng đủ là quan trọng. Ta cần phải nhen nhúm và
nuôi dưỡng chánh niệm cho thật cẩn thận. Nó cần phải
được bảo vệ khỏi những ngọn gió lớn của cuộc sống
xô bồ, của một tâm hồn bất an và đau khổ. Cũng như là
một ngọn lửa nhỏ cần phải được che chở, trú tránh những
cơn mưa to và gió lớn.
Nếu
lúc đầu bạn có thể thực tập chánh niệm được trong năm
phút hoặc một phút thôi, cũng là tốt đẹp lắm rồi. Nó
có nghĩa là bạn đã ý thức được giá trị của sự dừng
lại, của việc chuyển từ hoạt động sang sinh động.
Khi
chúng tôi hướng dẫn thiền tập cho các sinh viên y khoa, để
giúp họ đối phó với sự căng thẳng và đôi khi là những
thương tích gây ra bởi nền giáo dục y khoa hiện đại, hoặc
cho những thể thao gia muốn luyện tâm cũng như thân để đạt
được một thành quả cao, hoặc cho những bệnh nhân trong
các y viện, còn cần phải tập nhiều thứ khác ngoài thiền
tập, hoặc cho những nhân viên trong các lớp cấp tốc, chúng
tôi không bao giờ nhấn mạnh về việc phải ngồi bốn mươi
lăm phút mỗi ngày. Chúng tôi chỉ đòi hỏi việc ấy với
những bệnh nhân của mình, hoặc những ai đã sẵn sàng thay
đổi lối sống của họ vì một lý do riêng nào đó. Vì vậy,
chúng tôi chỉ khuyên họ thực tập mỗi ngày mười lăm phút,
hoặc là mỗi ngày hai ba lần nếu họ có điều kiện.
Nếu
nhìn kỹ một chút ta sẽ thấy rằng, trong chúng ta rất ít
có ai - cho dù làm nghề gì hoặc đang ở trong hoàn cảnh nào
- mà lại không thể bỏ ra mười lăm phút mỗi ngày được.
Nếu mười lăm phút không được thì mười phút, năm phút.
Bạn
nhớ không, trong toán học, một đường thẳng dài một thước
có vô số những điểm, và trong một đường dài một tấc
cũng có vô số bấy nhiêu điểm. Nếu vậy thì có bao nhiêu
là những phút chốc trong khoảng thời gian mười lăm, hoặc
năm, mười hay bốn mươi lăm phút? Chúng ta sẽ có rất nhiều
thời giờ, nếu ta chỉ cần biết thực tập chánh niệm trong
những phút chốc này thôi. Bạn hãy luôn duy trì ý muốn thực
tập và nắm lấy cơ hội - vào bất cứ thời điểm nào -
và tiếp xúc nó với thật trọn vẹn bằng một ý thức sáng
tỏ. Thời gian thực tập dài hay ngắn cũng đều tốt cả,
nhưng đôi khi ngồi "lâu" cũng chẳng đem lại lợi ích gì,
nếu ta có những khó khăn hoặc sự bực bội lớn trong sự
tu tập của mình. Tốt hơn ta nên tiến bước một cách thật
từ tốn theo khả năng của mình, còn hơn là sẽ không bao
giờ nếm được mùi vị của chánh niệm và tĩnh lặng, chỉ
vì những chướng ngại quá to tát. Hành trình ngàn dặm thật
sự bắt đầu bằng một bước của ta. Khi chúng ta quyết
định cất bước đầu tiên ấy - hay trong trường hợp này
là ngồi xuống trong chốc lát - ta sẽ có thể tiếp xúc được
với thời gian vô tận trong ngay giây phút này đây. Mọi quả
trái tu tập của ta bắt nguồn từ một hành động đó, và
chỉ từ đó mà thôi.
Khi
người thật sự muốn tìm tôi, người sẽ thấy tôi ngay tức
thì - tôi hiện hữu trong căn nhà nhỏ bé nhất của thời
gian.
Kabir.
Thực
tập: Bạn hãy thử ngồi trong những thời gian dài, ngắn khác
nhau. Xem chúng có ảnh hưởng gì đền sự thực tập của
mình. Sự tập trung của ta có bị suy giảm theo thời gian không?
Bạn có bị mắt kẹt trong việc "phải" còn cố gắng bao lâu
nữa không? Sự bất an có bao giờ khởi lên không? Tâm ta có
phản ứng hoặc quan tâm quá đáng không? Ta có cảm thấy mệt
mỏi? Lo âu? Buồn chán? Thúc hối? Buồn ngủ? Nếu bạn mới
tập ngồi, bạn có thấy những thắc mắc như là "Cái này
thiệt là vô ích" hoặc "Mình làm như vầy không biết có đúng
không đây?" hoặc là "Không biết mình có những cảm giác
như vậy là đúng không?"
Những
cảm thọ ấy, chúng khởi lên ngay tức thì hay là sau khi bạn
ngồi một thời gian? Bạn có thể xem chúng như là những trạng
thái khác nhau của tâm thức không? Bạn có thể quan sát chúng
mà không phán xét, không phản ứng, cho dù chỉ trong một thời
gian ngắn không? Nếu bạn có thể trải chiếu ra đón mời
chúng, quan sát chúng, để cho chúng được như là, bạn sẽ
có thể học được những gì là chân thật và không thay đổi
trong bạn. Và những gì vững vàng sẽ càng thêm vững vàng,
khi chúng được nuôi dưỡng bằng sự bền vững và tĩnh lặng
trong ta.
8.-
KHÔNG CÓ MỘT LỐI DUY NHẤT
Ði
cấm trại với gia đình ở một vùng rừng núi Teton, trong
khi leo trèo lúc nào tôi cũng thấy khâm phục khả năng giữ
thăng bằng của chúng ta. Mỗi bước chân ta đặt xuống đều
cần phải có một nơi nào đó để nương tựa. Khi trèo lên
hoặc leo xuống những tảng đá to, những triền dốc cao, những
con đường mòn khúc khuỷu, bàn chân ta lúc nào cũng phải
lập tức quyết định cho ta về những chi tiết như là phải
bước xuống nơi đâu, bằng cách nào, ở góc cạnh nào, mạnh
hay nhẹ, bằng đầu hay gót chân, nghiêng hay thẳng. Mấy đứa
con tôi không bao giờ đứng lại hỏi: "Ba ơi! con phải đặt
chân nơi đâu? Con nên bước lên tảng đá này hay tảng đá
kia?" Chúng nó chỉ cứ việc làm mà thôi. Và tôi nhận thấy
chúng khám phá ra lối riêng của chúng - chúng biết phải đặt
chân xuống nơi nào và không nhất thiết là phải giống hệt
như tôi.
Ðiều
ấy nói với tôi rằng, bàn chân của ta biết chọn lựa được
đường lối cho nó. Quan sát mỗi bước chân của mình, tôi
khám phá ra rằng bàn chân ta có thể đặt xuống theo không
biết bao nhiêu là vị thế khác nhau và trong giây phút ngắn
ngủi ấy, nó quyết định chọn một vị thế duy nhất rồi
chịu hết sức nặng lên trên đó. Sau đó nó lập tức bỏ
ngay, để cho bàn chân sau chọn lựa bước kế tiếp và ta
tiến tới. Những sự việc ấy xảy ra không cần đến sự
suy nghĩ của ta, ngoại trừ một vài địa điểm hiểm hóc,
đòi hỏi chút kinh nghiệm và sự phán xét. Cũng có lúc tôi
phải đưa tay ra nâng đở đứa con gái út. Nhưng đó chỉ
là những trường hợp ngoại lệ, chứ không phải là luật
chung. Thông thường, ta không bao giờ cần phải nhìn xuống
và suy nghĩ về mỗi bước chân của mình. Chúng ta chỉ cần
coi chừng, nhìn tới trước và đầu óc ta sẽ ghi nhận hết
tất cả, nó quyết định nhanh chóng, chỉ cho ta biết phải
đặt chân xuống như thế nào để thích ứng với địa thế
bên dưới trong ngay lúc đó.
Nhưng
điều đó không có nghĩa là sẽ không có những bước sai
trật. Lúc nào ta cũng phải thật cẩn thận và cảm nhận
sự thăng bằng của mình. Mắt và óc ta rất tinh nhuệ, chúng
có thể nhận định được tình hình trong nháy mắt và ra
chỉ thị chi tiết cho toàn thân, tứ chi và bàn chân ta, khiến
cho quá trình đặt một bước chân trên mặt đất lởm chởm
là một cử động cân bằng vô cùng kỳ diệu, mặc dù với
chiếc ba lô nặng nề trên lưng cũng như đôi giày bốt dưới
chân. Trong ta lúc nào cũng sẵn có một năng lực của chánh
niệm. Ðịa thế khó khăn đã khơi nó dậy trong ta. Và nếu
bạn có leo trên cùng một con đường vài chục lần đi chăng
nữa, mỗi lần những bước chân của bạn sẽ hoàn toàn khác
biệt nhau. Mỗi bước chân của bạn sẽ khai mở được cái
tính chất duy nhất đặc biệt của giây phút hiện tại.
Thiền
tập cũng tương tự như thế. Thật ra không có một "phương
pháp đúng" nào duy nhất hết, mặc dù trên con đường này
cũng có những địa thế nguy hiểm mà ta cần phải cẩn trọng.
Ðiều hay nhất là ta nên đối diện với mỗi giây phút bằng
một sự tươi mới, vì sự phong phú của nó tùy thuộc vào
vào trình độ tỉnh thức của ta. Ta hãy nhìn cho thật sâu
sắc và rồi buông bỏ, bước sang giây phút kế tiếp, không
hề bám víu những gì đã qua. Nhờ đó mỗi giây phút đều
có thể tinh khôi, mỗi hơi thở là một sự bắt đầu mới,
một sự buông bỏ mới, một thực tại mới. Cũng như khi
ta bước qua một địa thế gập ghềnh, nơi đây không hề
có vấn đề ta "cần phải làm gì". Sự thật trên con đường
tu tập này có biết bao nhiêu chuyện cho ta quan sát và học
hỏi, nhưng điều đó không thể ép buộc được. Ta không
thể bắt người khác phải tán thưởng cảnh mặt trời hoàng
hôn trên đồng lúa vàng, hay ánh trăng trên núi. Tốt nhất
là trong những giây phút đó ta không nên nói gì hết. Hãy
thật sự có mặt trọn vẹn với sự to tát ấy, và hy vọng
rằng người khác cũng có thể nhìn thấy được trong sự
tĩnh lặng của giây phút hiện tại. Mặt trời hoàng hôn và
ánh trăng non có thể tự chúng diễn tả được, bằng một
ngôn ngữ riêng, trên một tấm phong riêng. Sự thinh lặng đôi
khi tạo nên một khoảng không gian cho những gì sinh động
được lên tiếng.
Cũng
vậy, trong thiền tập, tốt nhất là ta cứ giữ gìn và tôn
trọng những kinh nghiệm trực tiếp của mình, và đừng lo
nghĩ hoặc thắc mắc không biết những gì ta cảm nhận, nhìn
thấy hoặc suy nghĩ có đúng không! Sao bạn không tự tin vào
kinh nghiệm của mình trong giây phút này, như là bạn đã đặt
niềm tin nơi bàn chân có thể giữ cho mình được thăng bằng
khi leo trên những tảng đá cheo leo? Nếu bạn biết giữ một
niềm tin khi đối diện với những hoàn cảnh bấp bênh, cũng
như cái thói quen muốn được một thẩm quyền nào khác chứng
nhận cho kinh nghiệm của mình, bạn sẽ thấy được một
cái gì rất sâu sắc xảy ra trên con đường tu tập. Bàn chân
và hơi thở sẽ dạy cho bạn biết đặt những bước chân
cẩn trọng tiến tới trong chánh niệm, biết an trú trong mỗi
giây phút, và dù đến một nơi nào ta cũng sẽ cảm thấy
hạnh phúc. Còn một ơn phước nào cao quý hơn nữa phải không
bạn?
Thực
tập: Khi ngồi thiền bạn hãy chú ý đến những ý nghĩ khởi
lên như là "Mình thực hành có đúng không?", "Không biết những
cảm thọ này là đúng hay sai?" "Không biết có phải mình sẽ
có những kinh nghiệm như vầy không?" Và thay vì tìm cách trả
lời những câu hỏi ấy, bạn hãy nhìn sâu hơn vào giây phút
hiện tại. Hãy nới rộng ý thức của bạn ra trong giây phút
hiện tại này. Giữ câu hỏi của bạn dưới ánh sáng chánh
niệm và theo dõi hơi thở của mình. Tin tưởng ở giây phút
này. "Chỉ có vậy thôi" cho dù cái "như vậy" đó là bất
cứ một sự kiện gì hoặc ở một nơi nào. Trong giây phút
hiện tại này, bạn hãy nhìn cái "như vậy" đó cho thật sâu,
và giữ được chánh niệm liên tục. Hãy để cho giây phút
này khơi mở sang giây phút khác mà không phân tích, không phán
xét, ghét bỏ hoặc nghi ngờ. Bạn chỉ cần theo dõi và ôm
ấp nó, cởi mở ra, biết chấp nhận và để cho nó như là.
Ngay bây giờ đây. Chỉ có một bước này thôi. Chỉ có giây
phút này thôi.
9.-
BÀI THIỀN TẬP: CON ÐƯỜNG NÀO LÀ CỦA TÔI
Chúng
ta thường bảo những đứa con của mình, không phải là lúc
nào nếu muốn gì là chúng sẽ được nấy, và đôi khi ta
còn ngụ ý rằng việc chúng đòi hỏi là sai quấy. Và khi
chúng hỏi "Sao vậy má" hoặc "Sao vậy ba?, sau một hồi giải
thích loanh quanh, có lẽ chúng ta sẽ đáp: "Con không cần hiểu.
Mai mốt chừng nào lớn lên con sẽ biết!"
Nhưng
bạn có thấy việc đó là hơi bất công không? Vì người
lớn chúng ta nhiều khi cũng có một thái độ y hệt như những
đứa con nít vậy! Ta có khác gì với chúng đâu mà lắm khi
lại còn ít thành thật và cởi mở hơn chúng nữa. Giả sử
ta có thể làm theo sở ý của mình thì sự việc sẽ ra sao?
Bạn có nhớ những chuyện cổ tích, trong đó nhân vật chánh
được ba lời ước, bạn có nhớ cuối cùng họ đã đau khổ
vì chúng đến đâu không?
Những
người dân ở tiểu bang Maine, Hoa Kỳ, nổi tiếng với câu
trả lời: "Bạn không thể nào đi đến chốn ấy từ nơi
này được", mỗi khi có ai hỏi đường. Nói về phương hướng
của cuộc sống thì ta có thể đổi câu ấy thành "Bạn chỉ
có thể đi đến nơi ấy, nếu bạn đang thực sự có mặt
ở nơi này", thì có lẽ chính xác hơn. Có bao nhiêu người
trong chúng ta ý thức được sự thật ấy? Chúng ta có biết
con đường của mình là gì không? Và giả sử ta có được
bất cứ những gì mình muốn, chúng ta sẽ giải quyết được
một vấn đề nào không? Hay chỉ là những ước muốn phát
xuất từ thất niệm chỉ đem lại cho ta thêm những rối rắm
và đau khổ mà thôi.
Sự
thật ở đây có một câu hỏi rất thú vị là: "Con đường
của ta đó là gì?", vì chúng ta ít khi chịu ngồi lại chiêm
nghiệm đời mình cho sâu xa. Có bao giờ bạn tự hởi mình:
"Tôi là ai?", "Tôi đang đi về đâu?". "Tôi đang đi trên con
đường nào?", "Hướng tôi đi đây, có đúng cho tôi không?",
"Nếu bây giờ tôi có thể chọn một con đường thì tôi sẽ
đi về hướng nào?", "Sự khao khát, hoài mong của tôi là gì?".
"Tôi thật sự yêu thích những gì?"
Câu
hỏi "Con đường của tôi là gì?" là một đề mục thiền
tập rất tuyệt hảo. Chúng ta không cần phải tìm câu trả
lời, hoặc nghĩ rằng phải có một câu trả lời duy nhất.
Tốt nhất là đừng nên suy nghĩ gì hết. Thay vậy, cứ bền
bỉ nêu lên thắc mắc ấy, và để cho câu trả lời tự chúng
đến rồi đi. Cũng giống như mọi việc khác trong thiền tập,
chúng ta chỉ cần theo dõi, lắng nghe, ghi nhận, để yên,buông
bỏ và tiếp tục tự hỏi "Con đường của tôi là gì?". "Tôi
là ai?"
Mục
đích ở đây là cởi mở ra với những gì mình không biết,
cho phép mình được tự nhận rằng "Tôi không biết". Và thử
hoà nhập vào cái không biết đó một chút, từ tốn, thay
vì đi tự trách móc mình. Dù sao đi nữa thì ngay trong giây
phút này, có thể đó là thực tại của ta, là mình không
biết gì hết.
Những
câu hỏi thuộc loại này, tự chúng sẽ dẫn dắt ta đến
những cánh cửa mới, đến những sự hiểu biết, viễn ảnh
và hành động mới. Những thắc mắc ấy, sau một thời gian
tự chúng sẽ có một sức sống riêng. Nó thấm nhập vào
da thịt ta và thở ra một luồng sinh khí mới, nhiệt tình
mới vào sự vô vị, nhàm chán và lề lối thường ngày của
ta. Và câu hỏi ấy sẽ "hành xử" ta, thay vì ngược lại.
Tôi nghĩ, đây là một phương cách rất hay để khám phá ra
con đường nào thật sự nằm gần trái tim ta nhất. Dù sao
đi nữa thì cuộc sống này bao giờ cũng là một hành trình
của những bậc anh hùng, nhưng nó sẽ còn được cao thượng
thêm bội phần nếu ta biết sống trong chánh niệm và dám
hỏi, dám liều. Là một con người, bạn chính là nhân vật
chánh, là vị anh hùng chánh cho hành trình huyền thoại của
một câu chuyện thần tiên. Nam hay nữ gì cũng vậy thôi, hành
trình này là đường bay giữa sanh và tử, là một kiếp người.
Không ai có thể thoát ra khỏi cuộc mạo hiểm này được
bao giờ? Có chăng là chúng ta chỉ hành xử khác nhau mà thôi.
Chúng
ta có thể tiếp xúc được với tiến trình khai mở của cuộc
sống mình không? Ta có dám đối diện với những thử thách
trên con đường đi tìm chúng để tự thử nghiệm mình, để
trưởng thành, để hành động có trách nhiệm, để tự phán,
để khám phá ra con đường nào là của mình, và trên hết,
quan trọng hơn cả, là để thật sự sống.
10.-
THIỀN NÚI
Là
núi vững vàng.
Nhất
Hạnh.
Trong
thiền tập, núi có thể dạy ta rất nhiều. Hình ảnh về
ngọn núi có một ảnh hưởng rất sâu đậm trong mọi truyền
thống văn hóa. Những ngọn núi là những nơi chốn thiêng
liêng. Từ ngàn xưa người ta thường đi vào những ngọn núi
để tầm đạo, để tự nuôi dưỡng mình. Ngọn núi là một
biểu tượng cho trục quay chính của quả đất (núi Meru),
cho nơi cư ngụ của các vị thần (núi Olympus), cho nơi con
người đã tiếp nhận những điều răn cũng như khế ước
từ thượng đế (núi Sinai). Những ngọn núi thường được
coi là thiêng liêng, chúng là hiện thân của một sự khiếp
sợ và hòa hợp, khắc nghiệt và uy nghi. Nhô lên cao đồ sộ
trên hành tinh này, những ngọn núi mời gọi và áp đảo ta,
chỉ bằng mỗi sự hiện diện của chúng. Tự thể của núi
vô cùng vững mạnh, cơ bản là đá. Ðá tảng, đá rắn chắc.
Núi là một nơì ta có thể nhìn thấy bao quát hết tất cả.
Ta có thể tiếp xúc được với sự rộng lớn của thế giới
thiên nhiên, và giao điểm với cái gốc rễ, tuy mong manh nhưng
rất kiên trường, của sự sống. Những ngọn núi đã đóng
một vai trò rất quan trọng trong lịch sử, cũng như thời
tiền sử của con người. Ðối với những người dân lành,
núi bao giờ cũng là mẹ cha, là thần bảo vệ, thần che chở
và là đồng minh của họ.
Trong
thiền tập, đôi khi ta cũng có thể vay mượn những hình ảnh
có tính chất kỳ diệu này của núi và xử dụng chúng để
tăng cường sự chú tâm của ta, cũng như duy trì giây phút
hiện tại trong một sự thanh thản và đơn sơ cơ bản. Hình
ảnh một ngọn núi giữ trong tâm và thân có thể làm tươi
mới lại con người của ta, nó nhắc nhở ta vì sao mình phải
ngồi thiền, việc làm ấy có ý nghĩa gì, mỗi khi ta ngồi
xuống và an trú trong thế giới của sự vô hành (non-doing).
Núi là một biểu tượng tinh hoa cho một sự hiện hữu và
tĩnh lặng vĩnh cửu.
Bạn
có thể thực tập thiền quán về núi như sau, hoặc sửa đổi
một chút cho thích hợp với ý niệm cá nhân của bạn về
núi và ý nghĩa của nó. Bài thiền tập này bạn có thể thực
hành trong bất cứ một tư thế nào, nhưng tôi thấy hiệu
quả nhất là khi tôi ngồi xếp bằng trên sàn nhà, lúc ấy
thân tôi nhìn và cảm thấy giống như một ngọn núi vững
vàng, bên trong lẫn bên ngoài. Sống trên một ngọn núi hoặc
gần ngọn núi cũng hữu ích, nhưng không là cần thiết. Vì
chính cái hình ảnh trong nội tâm mới thật sự là nguồn
năng lượng.
Hãy
tưởng đến một ngón núi nào đẹp nhất mà bạn biết hoặc
nghe nói, hoặc có thể tưởng tượng ra được, một ngọn
núi rất thân thiết với bạn. Trong khi bạn tập trung vào
hình ảnh hoặc cảm nhận về ngọn núi này trong tâm, hãy
ghi nhận vóc dáng của nó, đỉnh núi kiêu hảnh, chân núi
ăn sâu vào gốc rễ đất đá của mặt địa cầu, những
triền núi thoai thoải hoặc có dốc cao. Bạn hãy ghi nhận
tính chất đồ sộ của nó, sự bất động của nó, vẻ đẹp
của nó khi đứng gần hoặc nhìn từ xa - một vẻ đẹp tỏa
phát từ một dấu hiệu và hình tướng cá biệt, và cùng
một lúc biểu hiện được tính chất "núi" của nó, quá vượt
lên trên mọi hình tướng khác.
Có
thể ngọn núi của bạn có tuyết phủ trên đỉnh và cây
xanh mọc trên những triền núi thấp. Có thể nó có một đỉnh
nhô cao nổi bật, cũng có thể là một dãy nhiều chóp núi,
hoặc một vùng cao nguyên chót vót. Dù có hình dạng nào cũng
được, bạn hãy ngồi và thở với hình ảnh của ngọn núi
ấy, quan sát nó và ghi nhận những đặc tính của nó. Khi
nào cảm thấy sẵn sàng, bạn hãy thử mang thân bạn và hình
ảnh ngọn núi trong tâm trở thành một. Ðầu của bạn là
đỉnh núi cao, vai và hai tay là triền núi và hai chân là chân
núi, trụ vững vàng trên tọa cụ. Bạn hãy kinh nghiệm trong
thân một cảm giác nâng cao, cột trụ, sừng sững, những
đặc tính của núi, sâu xa trong đường xương sống của bạn.
Hãy tự trở thành một ngọn núi biết thở, không lay chuyển
trong sự tĩnh lặng của mình, có mặt hoàn toàn - vượt ra
ngoài ngôn ngữ và tư tưởng, một sự hiện diện vững vàng,
có gốc rễ và an trụ.
Và
bạn cũng ý thức rằng trong ngày khi mặt trời đi ngang qua
bầu trời, ngọn núi vẫn ngồi yên đấy. Ánh sáng, bóng tối
và màu sắc thay đổi theo từng giây phút, trong sự tĩnh lặng
bất động của núi. Một người bình thường cũng có thể
nhận thấy được sự thay đổi ấy qua mỗi giờ. Sự kiện
này đã tạo nên những kiết tác của nhà danh họa Claude Monet.
Ông đã có sáng kiến dựng nhiều khung vải để vẽ và diễn
tả sự sống của một tĩnh vật, theo mỗi giờ, từ khung
vải này sang khung vải khác, khi ánh sáng, bóng tối và màu
sắc chuyển hóa thành những ngôi thánh đường, dòng sông
hoặc ngọn núi, đánh thức được cái nhìn của người xem.
Ánh sáng thay đổi, ngày chuyển sang đêm, đêm chuyển sang
ngày, và ngọn núi vẫn cứ ngồi yên đấy, đơn sơ hiện
hữu. Nó giữ sự thinh lặng, bất động, trong khi bốn mùa
chuyển tiếp nhau, thời thiết thay đổi trong từng phút giây,
từng ngày tháng. Sự yên tĩnh bất chấp hết mọi đổi thay.
Vào
mùa hè, núi không có tuyết, có chăng là trên đỉnh cao hoặc
bên những tảng đá lởm chởm che khuất ánh mặt trời. Vào
mùa thu, núi phủ một chiếc áo sặc sở đủ màu lá chín;
vào mùa đông là một tấm mền của tuyết và băng đá. Ở
mùa nào cũng vậy, có nhiều lúc ngọn núi bị khuất trong
mây và sương mù, hoặc có những cơn mưa đá đổ trút xuống.
Những khách du lịch ghé qua, đôi khi thất vọng vì không nhìn
thấy rõ được ngọn núi, nhưng đối với núi thì không có
gì khác biệt - dù thấy hay không thấy, nắng hay mưa, nóng
cháy hay lạnh căm, nó vẫn ngồi yên đó hiện hữu. Những
ngày có trận bảo dữ kéo ngang qua, không gian bị vùi dập
trong tuyết, mưa và gió ở một cuồng độ kinh khiếp, dù
vậy núi vẫn ngồi yên lặng trải qua tất cả. Rồi mùa xuân
về, chim lại hót vang trên cây, những cành khô trổ màu xanh
non, hoa nở rộ trên những đồng cỏ cao và bên triền núi,
những dòng suối ngập tràn nước mát từ những khối tuyết
đang tan. Trải qua hết mọi biến cố, núi vẫn tiếp tục
ngồi yên, không hề lay chuyển bởi thời tiết, bởi những
gì xảy ra trên bề mặt, bởi thế giới bên ngoài.
Và
khi ta ngồi yên với hình ảnh ấy trong tâm, chúng ta cũng sẽ
là hiện thân của cùng một sự tĩnh lặng và vững chãi bất
lay động, giữa những biến đổi của cuộc đời. Trong cuộc
sống cũng như trong thiền tập, chúng ta sẽ luôn luôn kinh
nghiệm được bản chất thay đổi của thân tâm và của thế
giới chung quanh ta. Ta kinh nghiệm những giai đoạn sáng tỏ
và tối tăm, cũng như những màu sắc rực rỡ cùng sự tẻ
nhạt vô vị. Chúng ta sẽ kinh nghiệm những cơn bảo dữ với
nhiều cường độ khác nhau, của thế giới bên ngoài cũng
như trong đời sống và tâm hồn ta. Trong sự vùi dập của
cơn gió lớn, sự lạnh căm của những trận mưa ào ạt, chúng
ta sẽ chịu đựng những thời gian đen tối và đau đớn,
cũng như sẽ nếm hưởng những giây phút an lạc và nâng cao.
Và biểu hiện bề ngoài của ta cũng thay đổi luôn, cũng như
một ngọn núi theo thời tiết của chính nó.
Khi
ta thực tập như một ngọn núi trong khi ngồi thiền, ta có
thể nối liền được với sức mạnh và sự vững vàng của
núi, cũng như tiếp nhận đó làm của mình. Ta có thể xử
dụng những năng lượng đó để trợ giúp cho công phu tu tập,
giúp ta tiếp xúc được mỗi giây phút bằng chánh niệm, tĩnh
lặng và sáng tỏ. Chúng ta nên nhớ rằng, những ý nghĩ, cảm
thọ, những trận bảo cảm xúc và sự khủng hoảng của mình,
ngay cả bất cứ một biến cố nào xảy đến cho ta, chúng
cũng chỉ giống như là thời tiết trên núi. Chúng ta thường
hay có khuynh hướng quan trọng quá, nhận khổ đau là của
mình, nhưng thật ra tự tính của chúng hoàn toàn không của
riêng một ai. Nhưng điều đó không có nghĩa là ta nên xem
thường hoặc chối bỏ những thời tiết đổi thay trong cuộc
sống. Chúng phải được đối diện tôn trọng, cảm nhận,
và được soi sáng dưới ngọn đèn chánh niệm, vì nếu không
cẩn trọng chúng có thể tiêu diệt ta. Ðược như vậy, ta
sẽ có thể tiếp xúc được với một sự thinh lặng, an tĩnh
và trí tuệ rất sâu sắc, ngay giữa những cơn giông tố của
cuộc đời. Núi có thể dạy cho ta rất nhiều, nếu ta biết
lắng nghe.
Nhưng
dù sao đi nữa, bạn cũng nên nhớ rằng, thiền tập về núi
chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ hướng cho ta đi. Chúng
ta cần phải nhìn, rồi đi tới. Mặc dù hình ảnh một ngọn
núi có thể giúp ta được trở nên vững vàng hơn, nhưng con
người bao giờ cũng phức tạp và thú vị hơn núi nhiều.
Chúng ta là những ngọn núi biết thở, biết di động, biết
hát ca. Chúng ta có thể cùng một lúc vừa cứng như đá, rắn
chắc bất động, lại vừa mềm mại, dịu dàng và trôi chảy.
Trong ta có sẵn một tiềm năng rất rộng lớn. Chúng ta có
thể nhìn và cảm nhận. Ta có thể ý thức và hiểu. Ta có
thể học hỏi, trưởng thành, và có thể chữa lành những
vết thương, nhất là khi ta biết học cách lắng nghe sự hòa
điệu của mọi vật và duy trì được tính chất vững vàng
của núi qua mọi thăng trầm của cuộc sống.
Chúng
điểu cao phi tận,
Cô
vân độc xứ nhàn.
Tương
khan lưỡng bất yếm,
Chỉ
hữu Kính Ðình Sơn.
Lý
Bạch.
Bầy
chim cao bay mất,
Thơ
thẩn một áng mây
Ngồi
một mình với núi
Chỉ
còn Kính Ðình Sơn.
Thực
tập: Trong khi bạn ngồi thiền, hãy giữ hình ảnh ngọn núi
này trong tâm. Thử khám phá công năng của nó, trong việc làm
tăng gia khả năng giúp ta an trú trong tĩnh lặng, cũng như giúp
ta ngồi thiền lâu hơn, hoặc có thể ngồi đối diện với
những khó khăn, khổ đau, bảo tố hay sự tẻ nhạt trong tâm.
Bạn hãy tự hỏi, ta đã học được gì từ những kinh nghiệm
thiền tập này. Bạn có thể nhận thấy được một chút
gì chuyển hóa nơi thái độ của bạn, đối với những sự
thay đổi trong cuộc sống không? Bạn có thể giữ được
hình ảnh ngọn núi với mình trong đời sống hằng ngày không?
Bạn có nhận thấy được những ngọn núi nơi người khác
không và cho phép chúng có được một hình tướng riêng, vì
mỗi ngọn núi đều cá biệt.