10.-
TỈNH THỨC DẬY
Khi
ta bắt đầu nghiêm chỉnh thực hành thiền tập bằng cách
bỏ ra chút thì giờ mỗi ngày, việc ấy không có nghĩa là
ta sẽ không còn biết suy tính, không thể chạy đây đó, hoặc
lo giải quyết công chuyện thường ngày của mình được nữa.
Nó chỉ có nghĩa là chúng ta sẽ ý thức được việc mình
đang làm, vì ta đã biết dừng lại một chút để nhìn, để
lắng nghe và để hiểu.
Ông
Thoreau đã ý thức được điều này rất rõ tại hồ Walden.
Trong lời kết thúc, ông viết: "Bình minh chỉ có thể xuất
hiện trên những gì ta tỉnh thức dậy". Nếu chúng ta muốn
nắm bắt được thực tại này, trong khi chúng vẫn còn là
của ta, ta cần phải tỉnh thức dậy trong giây phút hiện
tại. Bằng không, ngày tháng, có khi cả cuộc đời, sẽ lần
lượt trôi qua mà ta không hề hay biết.
Một
phương pháp thiết thực để thực hiện được việc ấy
là mỗi khi nhìn một người nào, ta nên tự hỏi ta, ta thật
sự thấy người đó không, hay đó chỉ là những ý tưởng
của ta về họ? Nhiều khi ý nghĩ của ta cũng giống như là
một cặp mắt kính mộng tưởng. Khi mang vào rồi, ta chỉ
thấy những người chồng mộng tưởng, người vợ mộng tưởng,
đứa con mộng tưởng, việc làm mộng tưởng, đồng nghiệp
mộng tưởng, bạn bè mộng tưởng... Và rồi chúng ta sống
trong hiện tại mộng tưởng, cho một tương lai cũng sẽ là
mộng tưởng y như thế. Vô tình chúng ta lại tô mầu và thêu
dệt thêm lên mọi việc. Mặc dù những sự việc trong mộng
mơ đôi khi cũng biến đổi, và chúng có thể đem lại cho
ta những ảo giác sống động như thật, nhưng nó cũng vẫn
chỉ là một giấc mộng mà ta đang bị vướng mắc. Nếu ta
biết bỏ cặp kính ấy xuống thì có lẽ, tôi nói có lẽ
thôi, chúng ta sẽ có thể thấy được chính xác hơn một
chút, những gì đang thật sự có mặt.
Ông
Thoreau cảm thấy cần thiết phải tìm đến một nơi hẻo
lánh, quạnh quẻ trong một thời gian dài (ông đã sống một
mình hai năm hai tháng tại hồ Walden) để thực hiện việc
ấy. "Tôi đi vào rừng vì tôi muốn sống một cách có chủ
tâm, muốn đối diện với những gì là thật thiết yếu của
sự sống, và để xem có thể học hỏi được những gì từ
nơi chúng. Tôi không muốn rồi một ngày nào khi tôi chết,
lại khám phá ra rằng, tôi chưa từng bao giờ thật sự sống".
Niềm
tin sâu xa nhất của ông là : "Ảnh hưởng được phẩm chất
của một ngày là một nghệ thuật cao thượng nhất... Tôi
chưa từng bao giờ gặp được một người nào thật sự là
tỉnh thức. Làm sao tôi lại có thể nhìn rõ mặt họ được".
Nội
tâm của tôi ơi, hãy lắng nghe đây,
Ðại
hồn, một vị thầy đã đến rất kề,
Tỉnh
dậy, hãy tỉnh dậy đi thôi!
Chạy
đến phủ phục bên chân ngài,
Người
đang đứng bên cạnh đầu ngươi đó.
Ngươi
đã ngủ mê hằng triệu triệu năm nay,
Sao
sáng hôm nay người không tỉnh thức dậy.
Kabir
Thực
tập:Thỉnh thoảng bạn hãy tự hỏi mình: "Bây giờ tôi có
thật sự đang tỉnh thức không?"
11.-
GIỮ CHO ÐƠN GIẢN:
Nếu
bạn quyết định bắt đầu thực tập thiền quán, bạn không
cần phải đi loan báo với người chung quanh, bạn cũng không
cần phải giải thích lý do hoặc lợi ích của sự thiền
tập làm gì. Thật ra những việc đó có thể làm hao tán năng
lượng còn yếu ớt và lòng nhiệt tình của bạn rất mau
chóng, và đôi khi chúng còn ngăn trở sự cố gắng, không
cho bạn tập trung những nỗ lực của mình nữa. Phương pháp
hay nhất là bạn hãy cứ tu tập mà không cần phải quảng
cáo làm gì.
Những
khi bạn cảm thấy có một sự thúc đẩy, muốn nói cho người
khác nghe về thiền tập, rằng nó tốt đẹp như thế nào,
ảnh hưởng đến bạn ra sao, hoặc muốn thuyết phục người
khác là thiền tập cũng sẽ tốt cho họ, bạn hãy xem chúng
như là những ý nghĩ và cứ tiếp tục sự tu tập của mình.
Hãy để yên, sự thúc dục tạm thời ấy rồi sẽ qua, và
mọi người sẽ được lợi lạc - nhất là bạn.
12.-
BẠN KHÔNG THỂ NGĂN ÐƯỢC NHỮNG CƠN SÓNG, NHƯNG BẠN CÓ
THỂ TẬP CỠI CHÚNG ÐƯỢC
Có
người quan niệm rằng, thiền tập là một phương pháp giúp
ta thoát ra khỏi những áp lực của cuộc sống, cũng như của
chính bản tâm ta. Nhưng sự thật những quan điểm ấy không
được chính xác cho lắm. Thiền quán không có nghĩa là đi
ngăn chận hoặc trốn tránh bất cứ một vấn đề gì. Nó
có nghĩa là ta nhìn thấy sự vật một cách rõ ràng, và tự
chọn cho mình một mối tương quan khác đối với chúng.
Những
người tìm đến y viện của chúng tôi, họ học được một
sự thật này rất mau chóng, là sự mệt mỏi, căng thẳng
là một phần tất nhiên của cuộc sống. Mặc dù chúng ta
có thể tập lựa chọn khôn ngoan, tránh không để cho vấn
đề trở nên tệ hại hơn, nhưng trong đời có biết bao nhiêu
việc hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của ta. Sự căng
thẳng là một phần của sự sống, một phần của con người,
là thực chất của thân phận con người.
Nhưng
điều ấy không có nghĩa là chúng ta nhất thiết phải trở
thành nạn nhân của những sức mạnh lớn lao ấy trong cuộc
sống. Chúng ta có thể học cách làm việc với chúng, tìm
hiểu chúng, biết chọn lựa và biết xử dụng những năng
lượng ấy, để có thể phát triển trong sức mạnh của từ
bi và tuệ giác. Thái độ sẵn sàng chấp nhận và làm việc
với bất cứ những gì đang có mặt là trái tim của thiền
tập.
Một
cách để hiểu được sự hoạt động của chánh niệm là
bạn hãy nghĩ đến tâm mình như một mặt hồ hay mặt đại
dương, chúng lúc nào cũng có sóng. Có lúc sóng lớn, có lúc
sóng nhỏ, có lúc rất tinh tế. Những làn sóng ấy do gió
đến và đi từ muôn hướng, với nhiều cường độ khác
nhau, khuấy động lên. Chúng cũng tương tự như những làn
gió của sự thay đổi và mệt mỏi trong cuộc đời, khơi
động lên những con sóng trong tâm ta.
Những
người không hiểu về thiền quán thường nghĩ rằng thiền
là một loại thao tác nội tâm đặc biệt nào đó, có một
năng lực thần diệu làm yên hết những làn sóng, giúp mặt
hồ tâm được lập tức trở nên bằng phẳng, an bình và
tĩnh lặng. Nhưng cũng như chúng ta không thể nào đặt một
cái dĩa kiếng lên trên mặt nước để làm yên những làn
sóng, chúng ta không thể nào giả tạo đè nén được những
làn sóng trong tâm mình. Thật ra việc làm đó cũng không thông
minh lắm, vì nó chỉ tạo thêm một sự căng thẳng, xung đột
trong nội tâm mà thôi, chứ không phải là sự tĩnh lặng.
Nhưng điều ấy không có nghĩa là ta sẽ không bao giờ có
thể đạt đến một trạng thái tĩnh lặng. Nó chỉ có nghĩa
là ta sẽ không thể thành công bằng những nỗ lực sai lầm,
như là đè nén những sinh hoạt tự nhiên của tâm mình.
Qua
sự tu tập thiền quán, chúng ta có thể tìm được cho mình
một nơi trú ẩn, tránh được những cơn phong ba làm xáo động
hồ tâm. Sau một thời gian, một phần lớn của sự náo động
này có lẽ sẽ dần dần lắng yên xuống, vì ta không còn
cấp dưỡng cho chúng nữa. Nhưng những cơn gió của cuộc
đời, của nội tâm bao giờ cũng vẫn cứ thổi, ta có làm
gì cũng vậy thôi. Và thiền tập có nghĩa là ý thức được
điều này, để rồi ta có thể đối diện với nó.
Tinh
thần của sự tu tập chánh niệm được biểu lộ vui tươi
trong một tấm bích chương có in hình đạo sư Swami Satchitanada
bảy mươi mấy tuổi, trong một chiếc áo thụng trắng dài
và bộ râu bạc bay phất phới, đứng trên một chiếc ván
lướt sóng (surfboard), cỡi trên đầu những ngọn sóng to ở
cạnh bờ biển Hạ Uy Di. Bên dưới có in một dòng chữ chú
thích: "Bạn không thể ngăn những cơn sóng, nhưng bạn có
thể tập cỡi chúng được".
13.-
AI CŨNG CÓ THỂ THIỀN ÐƯỢC?
Người
ta hỏi tôi câu ấy nhiều nhất. Tôi ngờ người ta hỏi có
lẽ vì họ nghĩ rằng, những người khác tập thiền được,
chứ họ thì không. Họ muốn được an tâm nghĩ rằng họ
không cô đơn, ngoài kia cũng có những hạng người giống
như họ, những linh hồn bất hạnh, sanh ra mà không có khả
năng thiền tập. Nhưng vấn đề không đơn giản như thế.
Cho
rằng mình không có khả năng thiền tập cũng giống như cho
rằng ta không có khả năng thở, tập trung hoặc nghỉ ngơi
vậy. Hầu hết mọi người trong chúng ta cũng có thể thở
một cách dễ dàng. Và trong tình trạng thích hợp, hầu hết
ai cũng có thể tập trung, ai cũng có thể nghỉ ngơì.
Người
ta thường hay lẫn lộn thiền tập với sự nghỉ ngơi hay
là một trạng thái đặc biệt nào đó, mà ta cần phải cảm
thấy hoặc đạt đến. Và khi ta đã thử một vài lần mà
chẳng cảm thấy gì đặc biệt, chúng ta vội vàng cho rằng
có lẽ mình là một trong những người không có khả năng
thiền tập.
Nhưng
thiền tập không có nghĩa là ta phải có một cảm giác nào
đặc biệt. Nó chỉ có nghĩa là thật sự cảm nhận được
những gì mình đang cảm nhận trong giờ phút này. Thiền tập
cũng không phải là cố gắng làm cho tâm ta trở nên rỗng
không hoặc tĩnh lặng, mặc dù trong thiền tập sự tĩnh lặng
sẽ được phát triển và trở nên sâu sắc hơn. Trên hết,
thiền tập có nghĩa là để cho tâm ta được như nó và ý
thức được tướng trạng của nó trong giây phút ấy. Mục
tiêu không phải là ta sẽ đi đến bất cứ một nơi nào khác,
mà là cho phép mình được an trú ở nơi ta đang có mặt. Không
hiểu được điều này, bạn sẽ cho rằng mình không có khả
năng thiền tập. Nhưng đó cũng chỉ là ý nghĩ mà thôi và
trong trường hợp này, một ý nghĩ hết sức là sai lầm.
Sự
thật, sự tu tập có đòi hỏi một công phu và sự hết lòng
của ta. Nhưng nếu vậy chúng ta nên nói rằng: "Tôi không muốn
cố gắng tu tập" thay vì là: "Tôi không thể tu tập" thì có
đúng hơn không? Bất cứ một người nào cũng đều có thể
ngồi xuống và theo dõi hơi thở hoặc tâm ý của mình. Thật
ra bạn không cần phải ngồi, bạn có thể thực hành trong
khi đi, đứng, nằm, ngồi, chạy bộ, đứng một chân hay trong
lúc tắm hoặc gì cũng được. Nhưng duy trì được nó, cho
dù chỉ trong năm phút thôi, đòi hỏi một sự chủ tâm. Và
nếu bạn muốn nó trở thành một phần của đời sống mình,
việc ấy đòi hỏi một số kỷ luật. Thế cho nên, khi người
ta bảo rằng họ không thể thiền, điều mà họ thật sự
muốn nói là họ không chịu bỏ thì giờ, hoặc khi họ cố
gắng thử, lại không thích những gì xảy ra. Chúng đã không
là những gì họ tìm kiếm hoặc không thoả mãn được những
ước vọng của họ. Nếu bạn là một trong những số người
ấy, có lẽ bạn nên thử cố gắng một lần nữa xem sao,
nhưng lần này bạn hãy buông bỏ hết những ước vọng đi
và chỉ việc theo dõi những gì xảy ra mà thôi.
14.-
LỢI ÍCH CỦA VÔ HÀNH
Khi
bạn ngồi xuống thiền, dù chỉ trong chốc lát, đó sẽ là
một thời gian của vô hành (non-doing). Ðiều quan trọng là
bạn đừng nên nghĩ rằng vô hành đồng nghĩa với không làm
gì hết. Thật ra hai việc ấy rất khác biệt. Vấn đề là
ta có ý thức và có một tác ý hay không. Ðó là cây chìa
khoá.
Bề
ngoài chúng ta thấy dường như có hai loại vô minh: một loại
là không làm những hành động có tánh cách hướng ngoại
và một loại là những hành động nào không có sự dụng
công. Nhưng cuối cùng ta sẽ nhận thấy rằng cả hai chỉ
là một. Cái kinh nghiệm nội tâm mới thật sự quan trọng.
Thiền tập gồm có một sự cố gắng tạo cho mình những
giây phút dừng lại hết mọi hành động hướng ngoại và
phát triển một sự tĩnh lặng, lúc ấy ta không có một mục
đích nào khác hơn là sống trọn vẹn trong giây phút hiện
tại. Không làm gì hết. Và có lẽ những giây phút vô hành
ấy sẽ là một món quà quý báu nhất mà ta có thể tự ban
cho mình.
Ông
Thoreau thường hay ngồi một mình trước hiên nhà hằng giờ
để nhìn và lắng nghe, khi mặt trời đi ngang qua bầu trời,
khi ánh sáng và bóng tối biến đổi, hoà nhập vào nhau một
cách thật kỳ diệu.
Có
những lúc tôi không thể nào hy sinh giờ phút hiện tại nhiệm
mầu này cho bất cứ một việc làm nào khác. Dù cho đó là
việc làm của chân tay hay của tâm trí cũng vậy. Tôi thấy
yêu quý khoảng không gian thênh thang của cuộc sống mình.
Có những buổi sáng mùa Hạ, sau khi tắm rửa xong, tôi ra ngồi
ngoài hiên nhà từ sáng cho đến trưa, miệt mài vui sống giữa
thiên nhiên, với những cây thông, cây bồ đào, cây thù du,
trong một không gian tĩnh mịch và vắng lặng, có những con
chim ca hát líu lo, thỉnh thoảng lại bay lượn vào nhà trong,
cho đến khi ánh nắng hoàng hôn vàng vọt rọi vào cửa sổ
phía Tây, hay âm thanh của những chiếc xe ngựa của vài người
lữ hành từ ngoài xa vang vọng vào, tôi mới giật mình sực
nhớ đến thời gian trôi qua. Tôi lớn lên theo những tiết
mùa đến rồi đi, như một cây bắp lớn lên trong đêm, công
trình ấy có giá trị hơn bất cứ một việc gì ta có thể
thực hiện được bằng tay chân. Thời gian qua không phải
là những giây phút mất đi trong đời tôi mà ngược lại,
nó còn quý giá hơn những giờ phút bình thường khác. Bây
giờ tôi mới hiểu được sự thâm thúy của người phương
Ðông, khi họ nói về sự lặng yên, chú ý và buông bỏ. Cuộc
sống ở đây, phần nhiều tôi không hề chú ý đến thời
gian trôi qua bằng cách nào? Một ngày đến dường như chỉ
để giúp tôi sống sự sống của mình. Khi nãy là buổi sáng
và bây giờ trời đã chiều, tôi chẳng có thành tựu được
một việc nào đáng kể hết. Nhưng thay vì ca hát như những
con chim, tôi im lặng mỉm cười với sự may mắn vô tận của
mình. Cũng như con chim sẻ đang đứng trên một nhánh cây bồ
đào ngoài cửa hát líu lo, tôi cũng có những tiếng cười
thầm nho nhỏ cố nén lại trong cái tổ ấm của mình, mà
không chừng con chim sẻ ấy đã nghe thấy rồi.
Thoreau,
Walden
Thực
tập: Hãy nhận thức sự tươi mới của giây phút hiện tại
trong giờ thiền tập hằng ngày của bạn, nếu bạn có thực
tập. Nếu buổi sáng bạn dậy sớm, hãy đi ra ngoài nhìn những
vì sao, nhìn ánh trăng, nhìn những tia nắng bình minh đầu
tiên của một ngày xuất hiện (một cái nhìn có ý thức,
có chánh niệm, vững chãi). Hãy cảm giác bầu không khí chung
quanh, lạnh, ấm (một cảm nhận có ý thức, có chánh niệm,
vững vàng). Ý thức được rằng thế giới chung quanh ta còn
đang say ngủ. Bạn nên nhớ rằng, những ngôi sao bạn đang
nhìn chỉ là bóng dáng của chúng hàng triệu năm về trước.
Quá khứ đang có mặt trong bây giờ và ở đây.
Sau
đó bạn hãy đi, ngồi, hoặc nằm xuống thiền. Hãy để cho
thời gian này hay bất cứ giờ phút thực tập nào khác là
giờ phút bạn đang buông bỏ hết mọi hành động, chuyển
sang một trạng thái thực sự sống, lúc này ta an trú trong
chánh niệm và tĩnh lặng, ý thức được sự khai mở của
giây phút hiện tại trong từng giây phút, không thêm bớt và
khẳng định với mình rằng: "Chỉ có vậy thôi".
15.-
SỰ MÂU THUẪN CỦA VÔ HÀNH
Người
Tây phương rất khó có thể lãnh hội được mùi vị cũng
như niềm vui của vô hành, vì nền văn hóa của họ quá coi
trọng hành động và sự tiến bộ. Ngay cả thời gian nhàn
rỗi của họ cũng có khuynh hướng bận rộn và thiếu ý thức.
Niềm vui của vô hành là nó không cần phải có bất cứ một
việc nào khác xảy ra, thì giây phút này mới được trọn
vẹn.
Khi
ông Thoreau nói: "Khi nãy là buổi sáng và bây giờ trời đã
chiều, tôi chẳng có thành tựu được một việc nào đáng
kể hết", việc đó cũng giống như một tấm vải đỏ phất
trước mặt một con bò mộng, của những người quen xông
xáo, ham phát triển. Nhưng làm sao ta có thể biết rằng, buổi
sáng của ông ngồi trước cửa nhà lại không đáng nhớ hoặc
có phẩm chất bằng cuộc sống xô bồ, bận rộn, mà trong
đó ta không biết gì đến niềm vui của sự tĩnh lặng, và
tươi mới của giây phút hiện tại này?
Ông
Thoreau đã hát lên một bài ca cần được nghe trong khi đó,
cũng như trong lúc này. Cho đến ngày hôm nay, ông ta vẫn tiếp
tục chỉ cho chúng ta, những ai muốn lắng nghe, sự quan trọng
sâu xa của việc trầm tư cũng như một thái độ vô trước
(non-attachment), không dính mắc vào bất cứ một kết quả
nào, trừ niềm vui thuần túy của sự sống. Và bạn biết
không, điều ấy "có giá trị hơn bất cứ một việc gì mà
ta có thể thực hiện được bằng tay chân". Quan điểm ấy
làm tôi nhớ đến lời của một thiền sư ngày trước: "Ô
hô! Bốn mươi năm trời ta ngồi bán nước bên cạnh bờ sông,
té ra công lao của ta chẳng có một ích lợi nào hết".
Bạn
thấy không, nó sặc mùi mâu thuẫn. Chỉ có mỗi một cách
có thể giúp cho hành động của ta được giá trị là cố
gắng bằng một thái độ vô hành, và không chấp trước vào
kết quả của nó. Còn bằng không, sự vướng mắc và lòng
tham sẽ len lỏi vào, làm hư hỏng mối tương quan của ta với
công việc, hay chính công việc ấy. Từ đó, nó sẽ trở nên
lạc hướng, bị thiên kiến, ô uế và cuối cùng không đem
lại cho ta được một niềm vui trọn vẹn, cho dù kết quả
có tốt đẹp đến đâu. Bất cứ một khoa học gia nào cũng
biết rõ trạng thái này của tâm và cố gắng ngăn ngừa nó,
vì nó có thể làm trở ngại tiến trình sáng tạo và bóp
méo khả năng nhìn thấy được những mối liên hệ của họ.
16.-
SỰ BIẾN HÓA CỦA VÔ HÀNH
Vô
hành có thể phát xuất từ hành động cũng như từ sự tĩnh
lặng. Nội tâm tĩnh lặng của thiền giả có thể hòa nhập
với những hoạt động bên ngoài, tới mức như là hành động
tự nó biểu lộ lấy. Chúng là những hoạt động không cần
dụng sức. Ở đó ta không thấy có một nghị lực nào, không
có một tiểu tâm của cái Tôi nhỏ bé nào để nhận dành
kết quả. Nhưng không vì vậy mà ta bỏ sót bất cứ một
việc gì, dù nhỏ nhoi đến đâu. Vô hành là nền tảng của
sự tinh thông trong bất cứ một lãnh vực nào của hành động.
Thiên Dưỡng Sinh Chủ trong Nam Hoa Kinh có ghi lại một câu
chuyện như sau:
Bào
Ðinh mổ bò cho Văn Huệ Quân.
Lúc
ra thịt, điệu bộ của tay động, của vai đưa, của chân
đạp, của gối chạm, tiếng da xương lìa nhau, tiếng dao cạo
cắt đều trúng cung bực, hợp với điệu múa Tang Lâm, với
bài nhạc Kinh Thủ.
Văn
Huệ Quân nói: "Hay thật! Nghệ thuật đến đó là cùng!"
Bào
Ðinh buông dao, thưa rằng: "Chỗ ưa thích của thần là đạo.
Ban sơ, lúc ra thịt một con bò, chỗ mà thần chỉ có thấy
mà thôi, là con bò. Về sau ba năm, thần không còn thấy con
bò nữa. Bấy giờ thần không dùng con mắt để nhìn mà dùng
cái "thần" để xem; ngũ quan dừng lại mà "thần" thì muốn
đi, nương theo thiên lý. Tách các gân lớn, lùa các khớp xương,
nhân chỗ cố nhiên của nó mà cắt. Bắp thịt còn không xắt
qua, huống chi là khớp xương to. Người bếp bình thường
mỗi tháng thay dao một lần, vì họ chặt. Nay con dao của thần
dùng đã mười chín năm; số bò đã mổ có trên nghìn con,
vậy mà dao như mới mài xong. Các khớp xương kia có kẽ hở
mà lưỡi dao này thì mỏng. Lấy bề mỏng của con dao đưa
vào chỗ kẽ hở, thì rộng có thừa. Vì vậy lưỡi dao đã
dùng mười chín năm nay vẫn còn sắc như mới mài. Tuy vậy,
mỗi khi gặp chỗ gân xương sát nhau cảm thấy khó làm, thần
nhìn kỹ, hành động chậm lại; con dao cử động một cách
rất nhẹ nhàng, thế mà thịt lại đứt và rớt xuống như
bùn rơi xuống đất. Bây giờ thần cầm con dao đứng yên,
ngoảnh nhìn bốn phía, đắc ý vì được con dao tốt, rồi
đem
cất nó đi".
Văn
Huệ Quân nói: "Hay biết chừng nào! Ta nghe lời nói của Bào
Ðinh mà hiểu được đạo dưỡng sinh!"
17.-
THỰC HIỆN VÔ HÀNH
Vô
hành không dính líu gì đến thái độ làm biếng và thụ động.
Mà còn ngược lại như thế! Vô hành đòi hỏi ở ta một
lòng can đảm và năng lượng lớn mới có thể phát triển
nổi, trong tĩnh lặng cũng như giữa những sinh hoạt của đời
sống. Tự tạo cho mình một thời gian đặc biệt để thực
hiện vô hành, và duy trì nó trong cuộc sống bận rộn hàng
ngày, việc ấy không phải dễ.
Nhưng
chúng ta cũng đừng bao giờ để cho sự vô hành đe dọa những
ai cảm thấy rằng họ lúc nào cũng cần phải làm việc, phải
hoạt động. Những hạng người ấy đôi khi khám phá ra rằng,
thái độ vô hành còn giúp cho họ làm được nhiều việc
hơn, đạt được kết quả tốt đẹp hơn! Vì vô hành chỉ
có nghĩa là hãy để cho sự việc như là và cho phép chúng
tự khai triển theo đường lối của chúng. Bạn cũng vẫn
có thể dụng công nhiều nếu muốn, nhưng đó sẽ là một
sự dụng công khéo léo, có ý thức, một "hành động không
có người hành". Sự tu tập ấy sẽ là suốt cuộc đời của
ta.
Bạn
có thể thấy những hành động không dụng sức này trong các
buổi biểu diễn những điệu vũ ở môn thể thao, vào một
trình độ cao nhất. Ðược nhìn những hành động vô hành
ấy, có thể làm cho chúng ta nín thở! Nhưng điều ấy cũng
có thể xảy ra ở nhiều lãnh vực khác nhau trong sinh hoạt
hàng ngày của ta nữa, từ hội họa, sửa xe cho đến dạy
dỗ con cái. Với nhiều năm kinh nghiệm thực tập chúng ta
có thể phát triển được một khả năng mới, cho phép hành
động của ta khai triển vượt ra ngoài mọi kỷ thuật, mọi
nỗ lực, mọi suy tính. Và khi ấy hành động của ta sẽ trở
thành một sự diễn đạt thuần túy của nghệ thuật, của
sự sống, của sự buông bỏ hết mọi cố gắng - một sự
chuyển động hòa hợp của thân tâm. Mỗi khi nhìn một biểu
diễn siêu việt nào của một nhà thể thao hoặc một nghệ
sĩ, chúng ta thường cảm thấy rung động và xao xuyến, vì
nó cho phép ta tham dự vào sự kỳ diệu ấy, cũng như cảm
thấy nâng cao tinh thần, dù chỉ trong một giây phút. Và có
lẽ nó còn nhắc nhở rằng, mỗi người trong chúng ta, tùy
theo một cách riêng, đều có thể tiếp xúc được với những
giây phút nhiệm mầu ấy trong sự sống của chính mình.
Ông
Thoreau nói: "Ảnh hưởng được phẩm chất của một ngày,
đó
mới là nghệ thuật cao thượng nhất". Martha Graham, nói về
nghệ thuật vũ, diễn tả như sau: "Cái quan trọng nhất là
giây phút này đây trong toàn cử động. Hãy làm cho giây phút
ấy có sinh khí và đáng sống. Ðừng bao giờ để nó trôi
qua không hay biết và không xử dụng đến".
Không
thiền sư nào còn có thể diễn đạt chân thật hơn. Ðây
là một nghề chúng ta cần phải kiên trì học hỏi, và bao
giờ cũng biết rằng nó là công trình của cả một đời.
Vì thái độ hành động, làm một việc gì đã ăn sâu vào
gốc rễ của chúng ta, nên dĩ nhiên muốn thực tập vô hành
sẽ đòi hỏi một nỗ lực rất lớn.
Thiền
quán đồng nghĩa với thực tập vô hành. Chúng ta tu tập không
phải vì muốn cho sự việc được trở nên hoàn hảo hơn,
hoặc muốn hành động của ta được tốt đẹp hơn. Chúng
ta thực tập là để nắm bắt và ý thức được sự thật
là mỗi việc tự chính nó như vậy đã là hoàn mỹ rồi.
Vì vậy, ta hãy giữ sự trọn vẹn của giây phút hiện tại
này, mà không áp đặt lên đó bất cứ một sự dư thừa
nào khác, và nhận thức được sự tươi mới của tiềm năng
làm phát khởi giây phút kế tiếp của nó. Một khi ta biết
những gì mình biết, thấy những gì mình thấy, và ý thức
được những gì mình không biết, chúng ta sẽ có thể hành
động, xử sự, tiến tới, dừng lại, hoặc biết nắm lấy
cơ hội một cách tự tại. Ðôi khi người ta ví đó như là
một dòng nước chảy, giây phút này nhẹ nhàng thong thả lướt
trôi sang giây phút kế, không chút nỗ lực và được nâng
niu, ôm ấp bởi lòng sông chánh niệm.
Thực
tập:Trong một ngày thử xem bạn có thể ý thức được sự
tươi mới của giây phút hiện tại này không, trong mỗi khoảnh
khắc - trong giây phút bình thường, trong giây phút khó khăn,
và luôn cả những giây phút "chính giữa". Tập cho phép những
sự việc trong cuộc sống được khai mở tự nhiên, không
ép buộc và cũng đừng ghét bỏ những gì không xảy ra đúng
như sự mong cầu của ta. Thử xem bạn có thể cảm nhận được
những "chỗ hở", nơi bạn có thể di động mà không cần
dụng công, như người mổ bò của Trang Tử không? Hãy biết
rằng, nếu bạn có thể dành ra một chút thời giờ vào buổi
sáng sớm để thật sự sống, không cần chương trình, điều
ấy sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của trọn một ngày.
Khi ta biết khẳng định trước cái gì là chủ yếu của sự
sống, ta sẽ có khả năng cảm nhận, thưởng thức và đáp
ứng với sự mới mẻ của mỗi giây mỗi phút hơn.
18.-
KIÊN NHẪN
Có
những thái độ và đức tánh đặc biệt có khả năng hỗ
trợ cho sự tu tập của ta, và tạo nên một mảnh đất phì
nhiêu cho hạt giống chánh niệm đơm bông kết trái. Khi ta
khai phát những phẩm tính này, là ta đang thực sự canh tác
mảnh đất tâm để nó có thể trở thành một nguồn mạch
của từ bi, trí tuệ và những hành động chân chính trong
cuộc sống.
Những
đức tính nội tâm có khả năng bảo trợ sự thiền tập
của ta, không thể nào bị áp đặt, ép buộc hoặc tuân theo
như một đạo luật. Chúng chỉ có thể được nuôi dưỡng
và phát triển mà thôi. Và việc ấy chỉ xảy ra khi nào ta
đạt đến một giai đoạn mà ta thôi không còn muốn đóng
góp vào khổ đau, cũng như sự bối rối của chính mình, và
có lẽ là của kẻ khác nữa. Chung quy nó có nghĩa là hành
động sao cho có luân lý, đạo đức - và đối với nhiều
người, đây có thể là một ý niệm rất nguy hại.
Có
một lần tôi nghe trên máy phát thanh, một người nào đó
định nghĩa luân lý như là "sự phục tùng theo những điều
không ai bắt buộc được". Cũng hay đó chứ! Bạn làm vì
một lý do nội tại, chứ không phải vì ai đó kiểm soát
bạn, hoặc vì bạn sẽ bị trừng phạt nếu không tuân theo,
hay bị bắt gặp. Bạn hành động theo lương tri của chính
mình. Nó là một tiếng nói sâu xa phát xuất từ trong ta, cũng
tương tự như một mảnh đất tâm đang được vun xới cho
sự trồng trọt chánh niệm. Bạn sẽ không thể nào có được
sự hòa hợp nếu bạn không tuân theo những hành động đạo
đức. Chúng cũng như là những hàng rào ngăn chận không cho
các con dê vào ăn hết những mầm non trong vườn của bạn.
Tôi
thấy một trong những đức tính đạo đức căn bản này là
sự kiên nhẫn. Nếu bạn nuôi dưỡng đức kiên nhẫn, thì
nhất định bạn sẽ nuôi dưỡng chánh niệm, và sự thiền
tập của bạn cũng sẽ từ đó dần dà trở nên thâm sâu
hơn và già dặn hơn. Dù sao đi nữa, trong giây phút hiện tại
này, nếu bạn thật sự không cố gắng đi về đâu hết,
kiên nhẫn sẽ tự lo liệu lấy chính nó. Ðức kiên nhẫn
nhắc nhở với ta rằng sự việc sẽ khai triển theo đúng
thời điểm của nó. Ta không bao giờ có thể hối thúc bốn
mùa được. Xuân đến thì cỏ xanh lại mọc. Sự vội vã
thường không ích lợi gì cho ai, mà nhiều khi lại còn gây
nên nhiều khổ đau - cho chính ta, đôi khi là cho những người
sống quanh ta.
Kiên
nhẫn lúc nào cũng là một liều thuốc chữa cho căn bệnh
bất an, bồn chồn và nóng nảy. Nếu bạn nhìn xuyên qua mặt
ngoài của sự bất an, bạn sẽ thấy được nằm bên dưới,
dù có tinh tế hay không, là một sự nóng giận. Ðó là một
loại năng lượng mạnh phát xuất từ việc không muốn thực
tại như nó là, và ta đổ lỗi ấy cho một người nào đó
(thường là tự trách mình), hoặc một vật nào đó. Nhưng
kiên nhẫn cũng không có nghĩa là ta sẽ không còn có thể
vội vã được nữa, những lúc cần thiết. Thật ra ta vẫn
có thể vội vã một cách kiên trì, trong chánh niệm và hành
động mau mắn, vì ta chọn như thế.
Dưới
cái nhìn của kiên nhẫn, thì cái này xảy ra vì cái kia xảy
ra. Không có bất cứ một sự việc nào có thể tồn tại
riêng rẽ hay biệt lập. Không có một nguyên nhân gốc rễ
nào là tuyệt đối, cuối cùng, hoặc chịu trách nhiệm hoàn
toàn hết. Giả sử có một người nào đó dùng cây đánh
bạn một cái, bạn sẽ không nổi giận với cây gậy hoặc
cánh tay ấy, mà là bạn tức giận với người có cánh tay
đó. Nhưng nếu bạn nhìn sâu hơn một chút, bạn sẽ không
thể nào tìm thấy một nguyên nhân thỏa đáng cho cơn giận
của mình, cho dù ở nơi người kia, vì sự thật anh ta không
hề có ý thức về hành động của mình, cho nên chỉ mù quáng
trong lúc đó mà thôi. Vậy thì chúng ta nên đổ lỗi và trừng
phạt ai đây? Có lẽ ta nên trút cơn giận của mình lên cha
mẹ của người ấy chăng, vì có thể anh ta đã phải chịu
sự hành hạ của họ lúc còn bé thơ? Hay là ta nên trách cứ
thế giới này vì đã không có tình thương? Nhưng thế giới
này là gì đây? Có phải chăng trong đó có cả bạn và tôi?
Bạn có bao giờ nhận thấy rằng mình cũng có những cơn giận
như thế không, và trong một vài trường hợp nó có những
khuynh hướng rất bạo động, đôi khi có thể là giết người
được?
Ðức
Ðạt Lai Lạt Ma không hề biểu lộ sự tức giận đối với
người Trung Hoa, mặc dù trong nhiều năm qua chính sách của
chánh quyền Trung Hoa là muốn diệt chủng dân tộc Tây Tạng
của ông. Họ cố gắng đồng hóa những tín ngưỡng, văn
hóa, tục lệ, tất cả những gì mà người Tây Tạng yêu
quý nhất, và muốn thâu gồm luôn mảnh đất thân yêu mà
họ đang sinh sống. Khi lên lãnh giải thưởng thế giới Nobel
về hòa bình, trả lời cho một ký giả hỏi rằng vì sao ngài
không thù ghét người Trung Hoa, đức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:
"Họ đã cướp hết tất cả những gì chúng tôi có, không
lẽ tôi lại để cho họ lấy luôn sự an lạc của mình hay
sao?"
Thái
độ ấy tự nó là một biểu lộ rất đặc thù của hòa
bình - niềm an lạc trong nội tâm, ý thức được những gì
thật sự là chính yếu - và sự an lạc bên ngoài, hiện thân
của tuệ giác ấy trong sự sống và hành động. An lạc và
thái độ sẵn lòng kiên nhẫn trước một sự khiêu khích
và khổ đau to tát như thế, chỉ có thể phát xuất ở một
tâm từ bao la, một tình thương không chỉ giới hạn cho những
người thân, mà cho luôn cả những ai, vì si mê, đã gây cho
ta và những người ta yêu nhiều khổ đau.
Mức
độ vô ngã của tâm từ dựa trên những gì mà đức Phật
gọi là chánh niệm và chánh kiến. Nhưng việc ấy không phải
tự nhiên mà có. Nó cần phải được tu tập và khai triển.
Bạn nên nhớ rằng, không phải tánh giận sẽ không bao giờ
khởi lên nữa, nhưng ta có thể xử dụng nó, kiểm soát nó,
và dùng năng lượng ấy để nuôi dưỡng cho tính kiên nhẫn,
từ bi, hòa hài và tuệ giác trong ta, và còn có lẽ trong kẻ
khác nữa.
Trong
thiền tập, chúng ta phát triển tánh kiên nhẫn mỗi khi ta
dừng lại và ngồi xuống theo dõi hơi thở của mình. Và hành
động ấy sẽ mời gọi ta biết cởi mở hơn, biết tiếp
xúc hơn, kiên nhẫn hơn với giây phút hiện tại, và giây
phút này tự nhiên sẽ kéo dài sang những thời gian khác trong
cuộc sống. Chúng ta ý thức được rằng, mọi việc sẽ khai
mở theo đúng tự tánh của nó. Vì vậy ta cũng phải biết
cho phép sự sống của mình khai mở theo cùng một lối ấy.
Ta không cần phải để cho những lo âu và tham muốn về một
tương lai nào đó thống trị phẩm chất của giây phút hiện
tại này, cho dù thực tại có là khổ đau chăng nữa. Khi nào
ta cần phải xô đẩy, hãy cứ xô đẩy. Khi nào ta cần phải
lôi kéo, hãy cứ lôi kéo. Nhưng chúng ta cũng biết khi nào
mình không cần phải xô đẩy, và khi nào không cần phải
lôi kéo.
Chung
quy là chúng ta cố gắng đem lại sự quân bình cho giây phút
hiện tại, biết rằng tuệ giác nằm trong sự kiên nhẫn,
biết rằng những gì sắp đến sẽ được định doạt bởi
con người của ta trong giờ phút hiện tại này. Nhớ được
những điều ấy sẽ giúp ích cho ta rất nhiều, nhất là những
khi ta cảm thấy bất an trong sự tu tập của mình, hoặc khi
ta trở nên nản lòng, buồn chán và tức giận trong cuộc sống.
Thục
năng trọc dĩ chỉ,
Tĩnh
chi từ thanh.
Thục
dĩ an dĩ cửu,
Ðộng
chi từ sanh.
Ai
hay nhờ tịnh mà đục hóa trong,
Ai
hay nhờ động mà đứng lại đi.
Lão
Tử, Ðạo Ðức Kinh.
Tôi
hiện hữu như vậy đủ rồi,
Dù
không một ai khác biết.
Tôi
vẫn ngồi đây mãn nguyện,
Và
dù mọi người ai cũng biết.
Tôi
vẫn ngồi đây mãn nguyện,
Có
một thế giới đang biết, và đối với tôi.
Nó
vĩ đại vô cùng, vì đó là Tôi,
Và
dù tôi có trở về với chính mình.
Ngày
hôm nay,
Hay
trong ngàn, triệu năm đi qua,
Tôi
sẽ hân hoan nhận lãnh nó bây giờ.
Và
với cùng một niềm vui,
Vì
tôi có thể đợi chờ.
Walt
Whitman, Leaves of Grass.
Thực
tập: Hãy quan sát sự bất an và giận dữ mỗi khi chúng khởi
lên. Bạn hãy thử tập một cái nhìn mới, thấy được rằng
sự việc sẽ khai mở theo đúng thời điểm của nó. Việc
này rất hữu ích, nhất là những khi bạn cảm thấy căng
thẳng, kẹt lối hoặc bối rối trong công việc bạn cần
làm hay muốn làm. Biết rằng khó, nhưng bạn cố gắng đừng
thúc dục dòng sông trong lúc ấy, mà nên lắng nghe nó cho thật
cẩn trọng. Nó muốn nói gì với bạn? Nó khuyên bạn phải
làm gì? Nếu không cảm thấy gì hết, bạn hãy tiếp tục
thở trong chánh niệm, để cho sự việc như chúng là, buông
hết cho sự kiên nhẫn và tiếp tục lắng nghe. Nếu dòng sông
khuyên bạn làm gì, bạn hãy thi hành, nhưng phải nhớ là làm
trong chánh niệm. Rồi sau đó, dừng lại, kiên nhẫn chờ đợi
và lại lắng nghe.
19.-
BUÔNG BỎ
"Buông
bỏ" là một thành ngữ vô cùng sáo rỗng, đã được xử
dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
Nó bị lợi dụng và lạm dụng mỗi ngày. Nhưng tuy vậy, danh
từ ấy diễn tả một thái độ nội tâm rất dũng mãnh, đáng
cho ta tìm hiểu dù có là sáo rỗng hay không!
Buông
bỏ có nghĩa y như vậy, là bảo ta thôi bám víu vào bất cứ
một sự việc gì - cho dù đó là một ý tưởng, một vật,
một sự kiện, một thời điểm, một quan niệm, hoặc một
tham muốn nào đó. Buông bỏ là một quyết định có ý thức,
với sự chấp nhận hoàn toàn hòa nhập vào dòng sông hiện
tại trong khi hiện hữu đang khai mở. Buông bỏ có nghĩa là
thôi ép buộc, thôi chống cự hoặc tranh đấu, để đổi
lấy một cái gì cường mạnh hơn và trọn vẹn hơn. Nó phát
sinh từ một sự cho phép mọi việc có mặt như chúng là,
mà không bị mắc kẹt vào bản chất dính như keo của lòng
tham muốn, của thương và ghét. Hành động ấy cũng tương
tự như là ta mở rộng bàn tay ra, buông bỏ một vật gì mà
mình hằng mãi mê nắm giữ.
Nhưng
thật ra không phải sự dính mắc của lòng tham vào ngoại
vật đã giam giữ ta. Cũng không phải chúng ta chỉ nắm giữ
bằng đôi tay, chúng ta còn nắm bắt bằng tâm ý của mình
nữa. Chúng ta tự bắt giữ mình, tự giam hãm mình bằng những
quan điểm nhỏ hẹp, bằng những hy vọng và mơ ước nhỏ
nhen. Thật ra buông bỏ có nghĩa là ta được trở nên trong
sáng, không để bị ảnh hưởng bởi sự lôi cuốn của lòng
ưa thích và ghét bỏ. Muốn đạt được sự trong sáng đó,
ta cần phải biết cho phép sự sợ hãi và bất an của tự
chúng biểu lộ ra dưới ánh sáng quán chiếu của chánh niệm.
Chúng
ta chỉ có thể thực sự buông bỏ khi nào ta biết đem chánh
niệm và sự chấp nhận, nhìn thẳng vào thực chất vô cùng
dính mắc của mình. Và nếu ta biết ý thức được những
lúc ta vô tình mang lên một cặp mắt kính màu, đi phân chia
chủ thể và đối tượng, làm cong quẹo và uốn éo cái thấy
của ta. Trong những lúc ấy, ta vẫn có một khả năng cởi
mở, nhất là nếu ta có chánh niệm thấy được mình đang
mãi mê theo đuổi, bám víu, buộc tội hoặc chối bỏ sự
việc vì một lợi lộc riêng tư nào đó.
Sự
tĩnh lặng, minh triết, tuệ giác chỉ có thể phát sinh khi
ta thật sự an trú trong giờ phút hiện tại, mà không bám
víu hoặc xua đuổi bất cứ một việc gì. Ðiều tôi nói
đó bạn có thể thí nghiệm được. Hãy cứ thử đi cho biết!
Bạn hãy thử chứng nghiệm đi, xem mỗi khi ta buông bỏ một
cái gì mà mình rất ưa thích, nó có đem lại cho ta một sự
mãn nguyện sâu xa hơn là sự bám víu vào nó hay không!
20.-
KHÔNG PHÊ PHÁN
Bạn
không cần phải hành thiền lâu dài mới nhận ra rằng, một
phần của tâm ta lúc nào cũng đánh giá những kinh nghiệm
của mình, so sánh chúng với kinh nghiệm của kẻ khác, hoặc
so đọ với những kỳ vọng và tiêu chuẩn mà ta đã tự đặt
ra. Nguyên nhân thường là vì những nỗi sợ của mình. Sợ
rằng mình không xứng đáng, rằng sẽ có việc không may xảy
ra, rằng những gì tốt đẹp không tồn tại lâu, rằng người
khác sẽ làm mình khổ đau, rằng ta không đạt được những
gì mình muốn, rằng chỉ có ta mới là người biết, rằng
chỉ có mình ta là không biết gì hết. Chúng ta có khuynh hướng
nhìn sự vật qua một cặp kính màu: sự việc tốt hoặc xấu,
hoặc chúng có phù hợp với niềm tin và triết lý của mình
không. Nếu tốt thì ta ưa thích, nếu xấu thì ta ghét bỏ.
Và nếu không tốt cũng không xấu, thì ta không có một cảm
xúc nào đặc biệt hết, và có lẽ cũng chẳng thèm để ý
đến.
Khi
ta an trú trong tĩnh lặng, những tư tưởng phê phán trong ta
sẽ phát hiện ra rõ rệt như là những tiếng còi báo hiệu
sương mù ở ven biển. Tôi không ưa cái đau ở chân... Cái
này chán quá... Tôi thích cảm giác tĩnh lặng này... Hôm qua
tôi ngồi thiền thật tốt, nhưng hôm nay thì tệ quá... Cái
này không hợp với tôi... Tôi không giỏi ngồi thiền cho lắm...
Thật ra tôi không giỏi chút nào hết... Những loại tư tưởng
này đã từng chế ngự và trì kéo tâm ta xuống. Nó cũng tương
tự như ta đang đội một thúng đá trên đầu vậy. Bạn nghĩ
xem, nếu ta có thể bỏ nó xuống thì sung sướng biết chừng
nào! Và bạn hãy tưởng tượng, nếu chúng ta biết dừng sự
phê phán của mình lại, và để cho mỗi giây phút được
như nó là, không cần phán đoán nó là "tốt" hoặc "xấu",
ta sẽ cảm thấy như thế nào! Ðó mới thật sự là tĩnh
lặng, là chân giải thoát.
Thiền
tập có nghĩa là nuôi dưỡng và phát triển một thái độ
không phê phán những gì đang khởi lên trong tâm, bất cứ
là một sự việc gì. Thiếu thái độ ấy không có nghĩa là
sự phê phán không còn nữa. Lẽ dĩ nhiên nó sẽ vẫn còn
đó, vì bản tánh của tâm ý là hay so sánh, phê phán và đánh
giá. Nhưng khi nó có mặt, ta sẽ không cố gắng ngăn chận
hoặc làm lơ nó, hơn bất cứ một tư tưởng nào khác có
mặt trong tâm mình.
Con
đường của thiền tập là chỉ đơn giản chứng kiến bất
cứ một sự việc gì khởi lên trong tâm và thân, nhận diện
nó bằng một tâm bình thản, không theo đuổi cũng không ghét
bỏ. Ta cũng ý thức được rằng, sự phán đoán của ta không
thể nào tránh được, và ý tưởng về kinh nghiệm thì rất
giới hạn. Ðiều ta muốn có được trong thiền tập là tiếp
xúc trực tiếp với kinh nghiệm của mình. Cho dù đó là một
hơi thở vào, hơi thở ra, một cảm giác hoặc cảm thọ, một
âm thanh, một sự thôi thúc, một tư tưởng, một ý niệm,
hoặc một ý nghĩ phê phán. Và ta luôn luôn tỉnh thức, biết
rằng mình rất có thể bị kẹt vào việc đi phê phán chính
sự phê phán ấy, hoặc dán cho chúng nhản hiệu là tốt hay
xấu.
Trong
khi ý nghĩ của ta hay tô màu lên mọi kinh nghiệm, những ý
nghĩ ấy lại thường không được mấy chính xác. Lắm khi
chúng chỉ là ý kiến cá nhân, là những phản ứng và thiên
kiến dựa trên một kiến thức giới hạn và chịu nhiều
ảnh hưởng bởi những điều kiện trong quá khứ. Bao giờ
cũng vậy, khi không nhận thức được chúng, những tư tưởng
ấy có thể ngăn trở không cho ta thấy rõ được thực tại
chung quanh. Chúng ta bị mắc kẹt trong sự suy nghĩ, tưởng
rằng ta thật sự biết những gì mình đang nhìn, đang cảm
nhận, và đem tâm phán đoán khéo léo áp đặt lên mọi việc
ta tiếp xúc. Chỉ cần ta ý thức được tập quán cố hữu
này và theo dõi nó mỗi khi nó có mặt, có thể giúp ta phát
triển một thái độ chấp thuận và tiếp nhận mà không phê
phán, vô cùng rộng lớn.
Nhưng
bạn nên nhớ rằng, một thái độ không phê phán không có
nghĩa là ta sẽ không còn biết xử sự hoặc hành động có
trách nhiệm trong xã hội nữa, hoặc là để mặc ai làm gì
cũng được. Nó chỉ đơn giản có nghĩa là chúng ta biết
hành xử sáng suốt hơn trong cuộc sống, ta trở nên quân bình
hơn, hữu hiệu hơn và có đạo đức hơn trong mọi sinh hoạt.
Vì ta ý thức được rằng, mình đang đắm chìm trong dòng
sông thất niệm, của sự ưa thích và ghét bỏ, chúng ngăn
che ta với thế giới và bản chất thanh tịnh của mình. Tâm
thức ưa ghét ấy có thể cư trú thường trực trong ta, và
nó cung cấp nguyện liệu cho những hành động si mê của ta
một cách vô ý thức, trong mọi lãnh vực của sự sống. Khi
ta có thể nhận diện và gọi tên những hạt giống tham lam
trong tâm, dù chúng tinh tế đến đâu - lúc nào cũng muốn
theo đuổi sự vật và kết quả mình mong mỏi - và những
hạt giống của sân hận, ghét bỏ, trốn tránh những gì mình
không ưa thích - nó sẽ giúp ta dừng lại trong một khoảnh
khắc và tự nhắc nhở rằng, những năng lực nguy hại ấy
đang thực sự có mặt nơi ta. Ta có thể nói rằng chúng là
những vi khuẩn, độc tố rất nguy hiểm, ngăn trở không cho
ta nhìn thấy rõ được thực tại cũng như xử dụng hết
chân tiềm lực của mình.
21.-
NIỀM TIN
Niềm
tin là một cảm giác tự tin hoặc tin thực rằng, sự việc
có thể khai triển trong một khuôn khổ đáng tin cậy, cũng
như nó là hiện thân của trật tự và sự trung thực. Có
lẽ không phải lúc nào chúng ta cũng sẽ có thể hiểu được
những gì xảy đến với mình, với người khác, hoặc sự
kiện trong một trường hợp đặc biết nào đó. Nhưng nếu
ta biết đặt niềm tin nơi mình, hoặc người khác, hoặc vào
một tiến trình, một lý tưởng, chúng ta có thể tìm được
một yếu tố rất vững vàng, nó tàng chứa sự an ổn, quân
bình và cởi mở trong một niềm tin dựa vào trực giác mà
có thể dẫn dắt và bảo vệ ta khỏi mọi sự nguy hiểm cũng
như tự tổn thương.
Niềm
tin rất quan trọng trong sự tu tập chánh niệm. Vì nếu ta
không tin vào khả năng quan sát, cởi mở và chú ý của mình,
cũng như khả năng suy ngẫm về những kinh nghiệm đã qua,
hoặc học hỏi từ sự quán chiếu sâu xa, chúng ta sẽ không
bao giờ chịu cố gắng phát triển những khả năng ấy, và
chúng sẽ ngủ vùi hoặc héo khô đi.
Một
phần của sự tu tập chánh niệm là phát huy mọi con tim biết
tin tưởng. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách quay lại nhìn
chính mình cho thật sâu. Bạn có tìm được một điều gì
ở mình để cho ta đặt niềm tin không? Nếu bạn còn chút
phân vân thì có lẽ bạn nên quan sát sâu thêm một chút, nên
tiếp xúc với chính mình trong hiện thực và tĩnh lặng lâu
hơn một chút. Nếu chúng ta đã quen sống trong sự thất niệm
và không bao giờ cảm thấy bằng lòng với những gì xảy
đến trong cuộc đời mình, thì có lẽ đây là lúc ta nên
tập ý thức hơn, biết tiếp xúc hơn, và chú ý đến những
sự chọn lựa của mình, cũng như hậu quả của chúng về
sau.
Có
lẽ ta nên thử nghiệm bằng cách đặt niềm tin vào giây phút
hiện tại này, hãy chấp nhận hết những gì mình đang cảm
nhận, suy nghĩ hoặc nhìn thấy trong giây phút này, vì đó
là hiện thực. Nếu ta có thể đứng vững vàng nơi đây và
hội nhập được trọn vẹn vào giây phút này, ta sẽ nhận
ra rằng thời gian hiện tại rất đáng được cho ta tín cẩn.
Với những thí nghiệm đó, được kinh nghiệm nhiều lần,
ta sẽ khám phá ra rằng sâu kín trong ta là một cốt lõi rất
lành mạnh và đáng tin. Và trực giác của ta là một sự vang
động thâm sâu của hiện thực, nó rất đáng được tín
nhiệm.
Hãy
mạnh dạn,
Và
an trú trong thân mình.
Nơi
dưới chân ta bao giờ cũng vững chắc,
Hãy
suy nghĩ cho tường tận!
Ðừng
bỏ đi đâu nữa mà làm gì!
Kabir
nói như vầy: "Hãy quẳng đi hết mọi ý nghĩ và những sự
vật tưởng tượng.
Và
đứng cho thật vững vàng trong con người của ta.
Kabir