I.
Dẫn nhập
1.
Vai trò và vị trí của nữ giới và nam giới trong xã hội
thường được ấn định khác nhau trong các vùng văn hóa khác
nhau. Vì các lý do chính trị, xã hội hay tôn giáo, từ xưa
nam giới thường được đề cao, nữ giới thì giữ một vị
trí khiêm tốn hơn, có nơi bị xem nhẹ, như ở các xã hội
chủ trương "đa thê", "phụ thê", "nam nhất viết hữu, nữ
thập viết vô", phụ nữ ra đường phải che mặt, chỉ đảm
nhiệm công việc gia đình, hay phải chịu tổn phí cưới hỏi....
Thậm chí thiếu mất quyền làm chủ gia đình và quyền lợi
về giáo dục.
Ngày
nay, trong các xã hội dân chủ và ở nhiều nước ở Âu, Mỹ
thì chủ trương "nam nữ bình quyền" hay "nam, nữ bình đẳng";
một số nơi khác thì hiện tượng kỳ thị giới tính trở
nên bớt gay gắt. Tuy thế, ý nghĩa về "nam, nữ bình đẳng"
vẫn tiếp tục được bàn cãi, tranh luận. Thỉnh thoảng đây
đó vấn đề lại được đặt ra đối với giáo lý của
đức Phật, khi mà xã hội chứng kiến sự kiện không có
Ni chúng ở các nước Phật giáo Nguyên thủy thuộc hệ Theravada
(Thượng tọa bộ), hay Ni chúng phải nhận thêm "Bát Kỉnh
pháp" ở các nước Phật giáo Phát triển (hay Ðại thừa).
Phải chăng hiện tượng thiếu bình đẳng giữa nam giới và
nữ giới vẫn còn vương sót lại ở văn hóa Phật giáo?
Ðây
là vấn đề mà bài giảng hôm nay đề cập đến.
2.
Trở về với xã hội Ấn, xưa và nay, chúng ta không lạ gì
về hiện tượng phân chia giai cấp xã hội thành Bà La Môn,
Sát Ðế Lợi, Phệ Xá và Thủ Ðà La và đặt thấp vị trí
và vai trò của phụ nữ. Ngày nay, dù Ấn Ðộ là một nước
dân chủ, nhưng hiện tượng "phân biệt" nam, nữ giới vẫn
còn in đậm nét.
Qua
kinh tạng Pàli, đức Phật phủ nhận sự phân chia giai cấp
xã hội và kỳ thị giới tính. Ngài dạy hành động (hay việc
làm) nói lên giá trị của mỗi người là Bà La Môn, Sát Ðế
Lợi, Phệ Xá hay Thủ Ðà La, mà không phải là dòng dõi hay
chủng tộc. Ngài chủ trương không có giai cấp trong "dòng
máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn". Chủ trương này phổ
biến đối với quần chúng Phật tử và các giới nghiên cứu
Phật học đến độ chúng ta không phải trực tiếp trưng
dẫn những lời dạy của Ngài. Ðương thời, các người thuộc
bốn giai cấp của xã hội Ấn, và ngay cả những người có
gốc là kỹ nữ, ngoại đạo hay kẻ cướp đường, nếu có
quyết tâm giải thoát đều được chấp nhận vào Tăng chúng,
Ni chúng hay nam, nữ cư sĩ.
Chuyện
kể một lần tôn giả A Nan xin nước uống từ bình nước
của một cô gái thuộc giai cấp cùng đinh đã khiến cô gái
hoảng hốt chạy xa, tôn giả đã gọi cô gái lại và ôn tồn
bảo: "Hãy cho tôi nước uống. Tôi xin nước, chứ không xin
giai cấp". Cử chỉ và lời nói ôn tồn, trân trọng của tôn
giả đã khiến cô gái xúc động và thức tỉnh. Sau đó, cô
gái đến xin xuất gia với Tôn ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, như vừa
tìm thấy một đất sống tình người và trí tuệ, và đắc
Thánh quả. Chỉ một câu nói của tôn giả A Nan hầu như đã
có thể xóa tan trong chúng ta hết mọi nghi ngờ về bất cứ
một hiện tượng kỳ thị giai cấp, giới tính nào có thể
xảy ra trong Giáo hội của đức Phật.
3.
Dù vậy, ý nghĩa bình đẳng giới tính trong giáo lý của Ðức
Phật cũng cần được thêm một lần nữa minh thị, hiển
thị qua chính những lời dạy của Ðức Phật được kiết
tập trong kinh tạng Pàli.
Trước
hết, từ "bình đẳng giới tính" hay "bình đẳng nam,
nữ" cần được xác định ý nghĩa.
--
Bàn tay có năm ngón không đều nhau ở vị trí khác nhau và
có chức năng khác nhau. Ý nghĩa bình đẳng giữa các ngón
tay là ý nghĩa giữ đúng vị trí và chức năng tự nhiên
của mỗi ngón.
--
Trái tim con người phải làm việc 24 giờ/ngày; nếu tim ngưng
nghỉ thì sự sống chấm dứt. Óc của con người nếu làm
việc 24 giờ/ngày như tim thì mọi người sẽ điên loạn mất,
sự sống cũng không còn.
Thế
nên, ý nghĩa bình đẳng ở đây không đòi hỏi tim, óc phải
giống nhau, bằng nhau, mà mỗi thứ phải giữ đúng chức
năng tự nhiên của nó trong một vận động hòa điệu.
--
Cũng thế, nữ giới và nam giới trong xã hội con người, mỗi
giới có một thiên chức thiêng liêng khác nhau của "người
mẹ hiền" và "người cha thân". Ý nghĩa bình đẳng giữa nam
giới và nữ giới ở đây là cần có đủ điều kiện để
thể hiện tròn đầy thiên chức của mình, mà không phải
là bằng nhau hay giống nhau ở vai trò hay thiên chức xã hội.
Mỗi giới có các điều kiện xúc cảm, tình cảm, tâm, sinh,
vật lý và chức năng khác nhau nên giữ các vai trò gia đình,
đoàn thể và xã hội khác nhau. Ðây là sự sống. Hệt như
cái nút chai khác với cái chai, nhưng cần thích ứng nhau để
có công dụng - nếu cả hai là nút chai, hay là chai thì thật
là ngỡ ngàng!
Từ
nhận định trên, chúng ta đi vào tìm hiểu những lời dạy
của đức Phật về nữ giới.
II.
Những điểm tương đồng giữa nữ cư sĩ và nam cư sĩ
1.
Về các bổn phận vợ đối với chồng, và chồng đối
với vợ: Kinh Thiện Sinh (Trường bộ, 31) giới thiệu các
bổn phận vợ đối với chồng và chồng đối với vợ rất
là công bằng: người chồng phải là người chồng, người
yêu và là người bạn của vợ; người vợ phải là người
vợ, người yêu và là người bạn của chồng; cả hai đều
phải thương yêu kính trọng và chung thủy với nhau. Nếu người
vợ phải quán xuyến việc nhà, xí nghiệp, đối xử tốt
đối với những người thân, bạn bè của chồng, thì người
chồng phải chăm sóc các nhu cầu của vợ, thường sắm quà
cho vợ. Ở đây hiện rõ: có một sự bình đẳng giữa nam
và nữ giới trong giáo lý Phật giáo.
2.
Các loại giới tu tập: Về Ngũ giới, Bát quan trai giới,
Thập thiện giới, nam và nữ cư sĩ cùng đồng đẳng tu tập,
không có khác biệt.
3.
Về nghe pháp: Nam và nữ cư sĩ cùng chung dự các thời
pháp mà đức Thế tôn hay đệ tử của đức Thế Tôn thuyết
giảng.
4.
Về bố thí, cúng dường và thực hành thiền định:
Nam và nữ cư sĩ đều đồng đẳng tu tập và chứng đắc
tùy theo quyết tâm của mỗi người.
5.
Về ngũ nghịch tội: Tội giết cha hay mẹ đều bị
đọa địa ngục dù là nam hay nữ vi phạm.
6.
Về trí tuệ: Nếu tu đúng pháp, nam hay nữ cư sĩ đều
có thể chứng đắc 4 Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.
Như
thế, trong giáo lý của đức Phật, không có sự khác biệt
nào dành cho nam hay nữ cư sĩ.
III.
Những điểm tương đồng giữa tu sĩ và cư sĩ:
1.
Tu sĩ hay cư sĩ đều được nương tựa Tam bảo, cùng học
và hành chung một nguồn Chánh pháp, và tất cả đều có điều
kiện để đắc Thánh quả, Tâm và Tuệ giải thoát.
2.
Tu sĩ và cư sĩ đều có thể chung dự các thời pháp do đức
Thế Tôn hay đại đệ tử của Thế Tôn thuyết giảng.
3.
Tu sĩ hay cư sĩ đều có thể vào chín cảnh giới thiền định.
4.
Tất cả đều phải "nương tựa mình và nương tựa pháp",
nghĩa là đều phải giữ giới và thực hành Tứ niệm xứ.
Pháp
do đức thế Tôn thuyết giảng không hạn chế vì giai cấp,
chủng tộc, giới tính, tại gia hay xuất gia. Tùy theo căn cơ
và quyết tâm giải thoát của mỗi người mà lãnh nhận và
thực hành.
IV.
Những điểm tương đồng giữa Tăng và Ni:
1.
Cả hai đều là hàng xuất gia, là thành viên của Giáo hội
Tăng già Phật giáo, không phân biệt tuổi tác, giai cấp, chủng
tộc.
2.
Cả hai đều được học hỏi và thực hành chung kinh tạng.
3.
Cả hai đều thực hành 37 phẩm trợ đạo, và đều có khả
năng thành tựu đạo như nhau.
4.
Cả hai đều có điều kiện để đắc Tam minh hay Lục thông,
không có sự khác biệt nào.
5.
Cả hai, nếu có đủ điều kiện, đều có thể thu nhận đệ
tử xuất gia cùng giới tính.
6.
Cả hai đều phải bố tát, an cư, tự tứ.
7.
Cả hai đều có thể hành độc cư thiền định, hay thuyết
pháp độ sinh nếu có khả năng.
Về
các điểm học và hành cơ bản về Giới, Ðịnh, Tuệ này
thì không có sự phân biệt nào giữa Tăng và Ni. Tuy nhiên,
về mặt xã hội và tổ chức thì có một số điểm khác
biệt nhỏ giữa Tăng và Ni, do điều kiện căn cơ khác biệt
về thiên hướng xã hội và giới tính.
V.
Những điểm khác biệt giữa Tăng và Ni, giữa nam giới
và nữ giới:
1.
Tăng Chi Bộ Kinh, chương Một Pháp chép rằng:
Sự
kiện này không xảy ra: một phụ nữ có thể là một A
La Hán Chánh đẵng giác (Phật).
Sự
kiện này không xảy ra: một phụ nữ có thể là một Chuyển
Luân Thánh Vương, một Ðế Thích (Sakka), một Phạm Thiên Vương
hay một Ma Vương.
Sự
kiện này có xảy ra: một đàn ông (nam thân) có thể là
một A La Hán Chánh đẳng giác, một Chuyển Luân Thánh Vương,
một Ðế Thích, một Phạm Thiên Vương hay một Ma Vương (đại
độc ác).
Các
pháp là như thế ("Pháp nhỉ như thị") không thể hỏi tại
sao, ví như không thể hỏi tại sao mặt trời mọc ở phương
Ðông.
2.
Sự khác biệt về giới bổn Ba La Ðề Mộc Xoa: (Patimokkha):
Giới
bổn của Tăng, Ni đều cùng có 7 tụ với số lượng giới
điều có sai biệt, nên giới bổn của Tăng có 250 giới, trong
khi đó giới bổn của Ni có 350 giới.
Giới
vốn được thiết lập nhằm đem lại lợi ích giải thoát
cho người giữ giới, cho Tăng già và cho quần chúng để Chánh
pháp trú thế lâu dài. Vì thế, giới điều càng đi vào chi
tiết, càng nhiều thì thuận lợi thêm cho việc giải thoát
cho Ni giới, mà không hề có ý nghĩa ràng buộc thêm cho Ni
giới.
3.
Sự kiện Ni giới nhận lãnh thêm
"Bát Kỉnh pháp":
"Bát
Kỉnh pháp" là tám điều mà Ni giới phải tôn trọng giữ
gìn như là giữ gìn vòng hoa trang điểm cho lịch nhã hơn cho
người phụ nữ Ấn ngày xưa. Ðó là:
a.
Dù cho thọ đại giới 100 năm, một Tỷ kheo Ni đối với vị
Tỷ kheo thọ giới trong một ngày cũng phải đảnh lễ, đứng
dậy, chắp tay, xử sự đúng pháp.
b.
Tỷ kheo Ni không thể an cư tại chỗ không có Tỷ kheo.
c.
Nửa tháng một lần, Tỷ kheo Ni cần phải thỉnh chúng Tỷ
kheo đến thuyết giới.
d.
Sau khi an cư mùa mưa xong, Tỷ kheo Ni cần phải làm lễ Tự
tứ trước hai Tăng chúng.
e.
Tỷ kheo Ni phạm trọng tội phải làm pháp ý hỷ đến nửa
tháng.
f.
Sau thời gian hành các pháp Sa di ni 2 năm, phải xin thọ Cụ
túc giới trước 2 Tăng chúng.
g.
Không vì bất cứ lý do gì, Tỷ kheo Ni có thể chỉ trích Tỷ
kheo.
h.
Chỉ có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ kheo về các
Tỷ kheo Ni, mà không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ
kheo Ni về các Tỷ kheo.
Các
điều ở trên chỉ nhằm xác định sự bày
tỏ kính trọng chư Tăng của chư Ni (giới xuất gia), để
tạo một khoảng cách thân mật về tình cảm dễ đưa đến
các ngộ nhận, nghi ngờ bất lợi cho giá trị phạm hạnh
của Tăng già, tổn hại đến sứ mệnh của Tăng bảo (điều
a, g và h), và nhằm chỉ có một giáo
hội Tăng già thống nhất, mà không phải có một Giáo hội
Ni độc lập với Giáo hội Tăng. "Bát
Kỉnh pháp" như thế được thành lập để mở ra hướng xuất
thế cho nữ giới và nhằm bảo vệ giá trị phạm hạnh của
đoàn thể Tăng già vì sự an trụ lâu dài của Chánh pháp,
mà không thể có một ý nghĩa phân biệt, kỳ thị nào ở
đây.
Ðức
Thế Tôn đã dạy cho tôn giả A Nan rõ lý do tại sao Thế Tôn
ràng buộc "Bát Kỉnh pháp" cho Ni giới rằng:
"Này
A Nan, ví như một người vì nghĩ đến tương lai, xây dựng
bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy
qua; cũng vậy này A Nan, vì nghĩ đến tương lai, Ta ban hành
'Bát Kỉnh pháp' này cho các Tỷ kheo Ni cho đến trọn đời
không được vượt qua" (Tăng Chi VIII.51, Kinh Mahàpajàpati Gotamì).
Hồ
nước ấy là hồ nước phạm hạnh của Tăng già.
Ðức
Thế Tôn dạy tiếp:
"Nếu
Tăng già không có mặt Ni chúng thì phạm hạnh sẽ tồn tại
lâu dài, diệu pháp sẽ tồn tại đến 1.000 năm. Vì có mặt
Ni chúng, nên diệu pháp đã bị rút ngắn 500 năm)" (Tăng Chi
VIII.51, Kinh Mahàpajàpati Gotamì).
Về
ý nghĩa diệu pháp bị rút ngắn đã được Thế Tôn chỉ
dạy rằng:
"Ví
như một gia đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông thì dễ
bị đạo tặc đánh trộm, cũng thế về trường hợp Tăng
già có mặt Ni chúng".
Tài
sản của Tăng già bị đánh trộm là tài sản phạm hạnh,
là tài sản xây dựng tín tâm cho quần chúng đối với Chánh
pháp. Ðây là ý nghĩa mà mỗi chúng ta có thể tự hình dung
ra, rất dễ nhận diện. Những nhà nghiên cứu Phật học và
quần chúng Phật tử không có lý do gì để nghi ngờ về "Bát
Kỉnh pháp" rằng đấy là sự áp đặt lên Ni giới.
Hãy
nghĩ rằng đức Thế Tôn là đấng Ðại giác đã tận trừ
hết thảy các lậu hoặc, thì không thể có sự kiện thiên
vị Tăng giới hay kỳ thị Ni giới xảy ra. Tôn giả A Nan và
Tôn giả Ưu Ba Li (Upàli) là các đại đệ tử của Thế Tôn
đã tận trừ sạch lậu hoặc trước thời kiết tập, không
có sự kiện thêm, bớt hay tuyên thuyết sai Phật ý có thể
xảy ra.
Nếu
nêu lên nghi vấn khác rằng có một sự thêm thắt về sau
từ thời kiết tập kinh điển lần thứ ba dưới triều đại
đế A-Dục (Asoka), thì điều này cũng không thể xảy ra, bởi
vì kỳ kiết tập này cũng được chủ trì bởi các vị đại
A La Hán, những vị hiểu rõ tận tường Pháp và Luật do đức
Phật thuyết. Vấn đề còn lại là do nghi ngờ của chúng
ta khởi lên từ vọng niệm, từ các tư duy sai lầm bị chế
ngự bởi các ngã ái, ngã mạn, ngã chấp.
Chúng
ta hãy bình tĩnh hồi tưởng lại các sự kiện rắc rối đã
xảy đến với giáo hội Tăng già khi có mặt Ni chúng thì
sẽ rõ hơn:
--
Như trường hợp các vị Ni trẻ bị các thanh niên cản đường
hành đạo, đòi xâm phạm tiết hạnh hay đòi thành gia thất.
Sự kiện này không phải chỉ xảy ra một lần.
--
Như trường hợp các phụ nữ xin xuất gia sau khi vừa lập
gia đình do động cơ cần cầu giải thoát; sau ngày xuất gia
thì thai nhi lớn dần.... Ðây không phải là trường hợp vi
phạm giới luật. Sự kiện này không phải chỉ xảy ra có
một lần. Cứ mỗi lần như vậy thì Tôn giả Ưu Ba Li và
Tôn Ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề cùng tín nữ Lộc mẫu (Visakhà) phải
vất vả biết bao để giải quyết. Dù là tâm trong sáng, nhưng
liệu Ni chúng và Tăng già có tránh khỏi tai tiếng không? Phải
chăng đây là ý nghĩa tài sản phạm hạnh đã bị các đạo
tặc đánh cắp?
Tiếp
tục tư duy thêm một bước nữa. Trong đời sống xã hội
thì nữ giới gặp nhiều khổ đau ngang trái hơn là nam giới,
như các trường hợp thiếu nhan sắc, góa bụa giữa tuổi
xuân xanh, không có điều kiện sinh con trai.... Thường thì
đối với những phụ nữ này, cảnh chùa Ni là đất sống
dựng lại niềm tin cho cuộc sống, là nguồn an ủi duy nhất,
là cửa từ bi rộng mở, mở đường đi vào tỉnh thức. Nhưng
liệu hình ảnh này có tạo thêm sức mạnh để dựng xây
niềm tin giải thoát tích cực cho cuộc đời không? Có dễ
thuyết cuộc đời đây là nơi nương tựa giải thoát cho đời
không? Còn có nhiều, nhiều lắm các lý do tương tự đối
với Ni giới để chúng ta đi đến một sự ổn định về
nhận thức rằng: để chấp nhận sự hiện diện của Ni giới
trong hàng xuất gia, phạm hạnh, thì điều kiện tối thiểu
cần có là duy trì, tôn kính "Bát Kỉnh pháp". Thế Tôn không
thiết lập "Bát Kỉnh pháp" cho đoàn thể nữ cư sĩ đối
với nam cư sĩ.
Có
lẽ vì ý thức về các lý do phiền phức vừa bàn mà Giáo
hội Tăng già các nước Phật giáo thuộc Thượng tọa bộ
hệ như Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Lào và Campuchia cho
đến nay vẫn ngần gại trong việc thành lập Ni chúng như
ở các nước Phật giáo Phát triển (Bắc tông). Sự ngần
ngại ấy có mặt cũng chỉ vì muốn cho phạm hạnh hay diệu
pháp được tồn tại lâu dài ở đời. Các nước Phật giáo
Bắc truyền như Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản....
vì phải tiếp nối truyền thống phát triển khoáng đạt của
Phật giáo phát triển mà thành lập Ni chúng, tiếp nối truyền
thống Tăng già dưới thời đức Phật với sự duy trì "Bát
Kỉnh pháp". Thế có nghĩa là "Bát Kỉnh pháp" là giới hạn
sau cùng của sự phát triển Ni chúng, không thể vượt qua.
Ðến
đây, nếu còn chút nghi ngờ nào đó về "Bát Kỉnh pháp" như
là một sự áp đặt, thì chúng ta hãy tiếp tục nghĩ rằng:
--
Là một Tăng sĩ Phật giáo có học pháp, hiểu pháp và hành
pháp, thì ý thức rằng công phu của tự thân là chế ngự
ngã si, ngã mạn, ngã ái nên tuyệt nhiên không hưởng một
quyền lợi giải thoát nào qua "Bát Kỉnh pháp", và sẽ không
bao giờ có một tự hãnh nào về sự kính trọng mà Ni giới
dành cho vị Tăng sĩ ấy cả.
--
Là một Ni sư có học pháp, hiểu pháp và hành pháp - và cả
Tăng hay Phật tử cũng thế - thì ý thức rằng mình phải
biết ơn cả cuộc đời này, pháp giới này, thiên nhiên cây
cỏ này, phải tỏ sự kính trọng đối với tất cả, huống
nữa là đối Tăng già, đối các Tăng sĩ trẻ. Ðây là điều
tốt đẹp cần làm như là một phụ nữ cần trang điểm cho
vẻ đẹp tự thân vậy: một vẻ đẹp của văn hóa phạm
hạnh và của cả văn hóa Phương Ðông.
Nghi
ngờ "Bát Kỉnh pháp" chỉ là sự rối loạn của tư duy sẽ
dẫn đến sự rối loạn của thái độ sống. Ðiều này hẳn
sẽ không đem lại an lạc, hạnh phúc cho số đông.
Hôm
nay, kỷ niệm ngày Ðản sanh đức Phật thứ 2621 (Phật lịch
được tính từ năm đức Phật nhập diệt: 2541 + với 80 năm
sinh thời của đức Phật [kể từ ngày sinh] = 2621), chúng
ta ôn lại lời dạy của đức Phật về "Bát Kỉnh pháp" để
xác định lại lòng tin của chúng ta đối với "Bát Kỉnh
pháp", đối với giá trị giải thoát đời sống phạm hạnh
của hàng xuất gia của đức Phật như là phẩm vật dâng
lên đức Thế Tôn, với mong cầu Chánh pháp được tồn tại
lâu dài ở thế gian này.
Nam
mô Khải Giáo A Nan Ðà Tôn giả.
TT.
Thích Chơn Thiện
Sài
Gòn, 1998
Xem
Thêm:
Bát
Kỉnh Pháp, T.T. Thích Minh Thông
Địa
Vị Người Phụ Nữ Trong Giáo Lý Đức Phật, Thích Nữ Huệ
Hướng
Bát
Kỉnh Pháp Chướng Ngại hay Căn Bệnh Thời Đại, Thích Lệ
Thọ
Ni
Giới Tại Campuchia, Thích Nguyên Tạng
Người
Phụ Nữ Trong Văn Học Phật Giáo, Dịch Giả: Phạm Kim Khánh
Ni
Giới và Những Lời Phật dạy, Thích Chơn Thiện
Ni
Giới Đài Loan Vận Động Huỷ Bỏ "Bát Kỉnh Pháp", Thích
Giải Hiền
WP:
Mỹ Hồ