MỤC
LỤC
Tựa
Chương
Một – Dẫn Nhập
Chương
Hai – Thiền Tịnh Dung Thông, Thiền Tịnh Song Tu
I.
Thiền Tịnh dung thông
II.
Những ví dụ điển hình về Thiền Tịnh song tu
III.
Sơ lược về Thiền Tịnh song tu
Chương
Ba – Tri Kiến Phải Có Khi Tu Tập Pháp Môn Niệm Phật Viên
Thông của Bồ Tát Đại Thế Chí
I.
Pháp môn này là pháp môn Tu Định, không phải là pháp môn
Trì Danh
II.
Một chút thanh minh và một vài khích lệ 28
III.
Tinh nghĩa của pháp môn Niệm Phật Viên Thông (Bàn tiếp về
tri kiến – 1)
IV.
Người học Phật nên xa lìa tâm tam độc, tâm phan duyên và
tâm giác quán (Bàn tiếp về tri kiến – 2)
Chương
Bốn – Phương Pháp và Thứ Tự Tu Tập Pháp Môn Niệm Phật
Vô Tướng
I.
Ba qui y và ba nghiệp phước tịnh
II.
Điểm cốt yếu của sự lạy Phật
III.
Nhớ Phật lạy Phật vô tướng là phương tiện quyền xảo
của pháp môn Niệm Phật Viên Thông
IV.
Thứ tự 10 bước tu học từ nhớ lạy Phật vô tướng đến
niệm Phật vô tướng
Lời
Bạt
Vài
Lời Ghi Thêm
Lại
Ghi Thêm
Chú
Thích (của tác giả)
Phụ
chú (của dịch giả)
Tài
Liệu Tham Khảo (của dịch giả)
TỰA
“Niệm
Phật”, đối với phần đông đệ tử Phật, là xưng niệm
thánh hiệu Phật và Bồ-tát. Do đem tâm chí thành xướng niệm
liên tục, hoặc mặc niệm, tin tưởng sâu xa, hướng về nương
cậy, mà được Phật và Bồ-tát cảm ứng, hoặc trong âm
thầm, hoặc hiện rõ hình tướng. Và mục đích chủ yếu
rất phổ biến của họ là cầu mong cho mai sau, khi xả bỏ
báo thân này, được nhờ Phật, Bồ-tát tiếp dẫn họ vãng
sinh về cõi tịnh độ Cực-lạc. Nhưng thực ra, tịnh độ
của chư Phật trong mười phương, kể cả tịnh độ của
đức Thế Tôn Bổn Sư Thích Ca, là nhiều vô lượng vô số,
không thể kể xiết, chứ đâu phải chỉ có một cõi nước
Cực-lạc của đức Phật A Di Đà mà thôi! Ngoài ra, “tịnh
độ” cũng có sự khác nhau giữa “duy tâm tịnh độ” và
tịnh độ do chư Phật hóa hiện.
Nếu
nói một cách rộng rãi hơn, tất cả giáo pháp Phật giáo
đại thừa, lẽ nào chỉ có một pháp môn Niệm Phật, lẽ
nào chỉ có một pháp môn Tịnh Độ? Một cách phổ quát như
mọi người đều biết: trì danh hiệu Phật, trì chú, lễ
Phật, cúng dường, chỉ quán, trì giới, tụng kinh, xem kinh,
chép kinh, giảng kinh, tham cứu[1], tư duy, nhớ nghĩ v.v..., đều
là mục đích của người học Phật nhằm tu hành, ngộ nhập
tri kiến Phật, chứng nhập cảnh giới giải thoát, có được
công đức Phật, thậm chí đi đến chỗ thành Phật, thành
tựu cả bốn loại tịnh độ[2]. Đó là ý nghĩa rộng rãi
của sự niệm Phật.
Thật
ra, Thiền và Tịnh Độ có mối liên hệ mật thiết không
thể tách rời. Muốn được thành Phật, không phải chỉ trì
niệm danh hiệu Phật là xong; mà quyết phải nhờ tới thiền
định để khơi sáng tâm tánh. Sau địa vị Kiến-đạo[3],
mau chóng tiến lên địa vị Tu-đạo[4], thì quả Phật đã
gần kề. Nhưng muốn đạt địa vị Kiến-đạo, cần phải
tham thiền, hoặc tu tập lí quán của pháp môn chỉ quán. Như
thế tức là, không có định lực thì không thành tựu được
việc gì, nhất là công phu trong động[5]. Mà người niệm
Phật, muốn trì danh niệm Phật cho đến chỗ “nhất tâm
bất loạn”, thì cũng cần có công phu. Nếu dùng cách trì
danh niệm Phật và lễ Phật làm phương tiện, để đi vào
pháp môn niệm Phật viên thông của Bồ-tát Đại Thế Chí,
hoàn toàn không phải việc khó; thế thì việc vãng sinh về
cõi tịnh độ Cực-lạc có thể nắm chắc được. Cũng có
thể tham cứu niệm Phật: Nói rằng “Không nhờ phương tiện
mà tâm tự sáng.”, không phải là không có thể. Nếu đem
cái công phu bước đầu của pháp môn niệm Phật viên thông
mà chuyển sang tham thiền, thì cánh cửa vô môn tự nhiên hiện
rõ trước mắt; muốn được thấy rõ tâm tánh, cũng có hi
vọng. Như thế có thể thấy, Thiền và Tịnh Độ khắng khít
không thể phân li.
Người
đệ tử Phật, nếu có thể đem cái tinh yếu của Thiền Định
mà tu tập pháp môn Tịnh Độ, và đem pháp môn tịnh độ
trợ giúp thêm để thành tựu cái công phu trong động, thì
bất luận là tu Thiền hay tu Tịnh, đều dồi dào công lực,
mau chóng đạt được thành tích. Kẻ hậu học này đã không
lượng sức học nông cạn của mình, dám nói lên cái nhìn
của mình như trên, chỉ vì muốn đem cái kinh nghiệm hạn
hẹp, cái văn bút thô lậu của mình mà bày tỏ lòng chí thành
của kẻ quê mùa. Chỉ cầu mong lợi ích cho chúng sinh mà không
kể gì cá nhân mình bị chê cười, cầm bút viết văn, để
dành dần từng bài, cuối cùng thì thành sách. Ngoài những
ý kiến thiển cận vừa nêu ở trước, sau đây xin sơ lược
trình bày về duyên khởi của sách này, gọi là làm tỏ rõ
gốc ngọn.
Vào
đầu năm 1987, kẻ hậu học này, nhân vì công việc quá bận
rộn, đã không có thì giờ ngồi thiền, mỗi buổi tối tụng
kinh Kim Cang thì vừa tụng vừa ngáp; xong thời khóa tụng thì
lạy Phật và Bồ-tát.
Năm
ấy, vào một đêm hè, sau thời khóa tụng và lạy Phật xong,
bỗng nhiên tôi nghĩ rằng, nên thử bỏ đi danh hiệu Phật
và hình tướng Phật, chỉ chuyên nhất nhớ niệm Phật Bồ-tát
mà lạy Phật. Phải thực hành điều này ngay. Thế là, từ
ngày hôm sau trở đi tôi đều sử dụng phương pháp “nhớ
nghĩ vô tướng” mà lạy Phật. Lâu ngày chầy tháng, phương
pháp nhỏ bé ấy tạm thành. Thế nhưng, ai thực tập phương
pháp “niệm Phật vô tướng” này, đều tràn đầy niềm
vui đạo pháp, hoàn toàn không còn biết tới những bận rộn
phiền lụy của sinh hoạt thế tục. Về sau, việc lạy Phật
như thế đã đạt được trọn niềm hoan hỉ, tôi liền dứt
khoát bỏ thời khóa tụng buổi tối, mà chuyên nhất lạy
Phật với tâm niệm vô tướng. Trong sinh hoạt hằng ngày cũng
chuyên tâm niệm Phật vô tướng.
Cuối
năm 1988, ngẫu nhiên tôi nghĩ đến chuyện nên chia sẻ với
đại chúng niềm pháp hỉ này, bèn một mặt thì suy xét, nhớ
lại, đem quá trình tu tập vừa qua ghi chép xuống; mặt khác
thì đọc trong kinh luận để tìm chỗ y cứ. Tôi liền đem
bản thảo vừa viết xong để trước mặt, rồi dở kinh Lăng
Nghiêm ra, đọc chương “Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật
Viên Thông”; khi đọc đến bốn chữ “ức Phật niệm Phật”,
tôi vô cùng hoan hỉ. Sau đó lại đọc đến chỗ “đô nhiếp
lục căn, tịnh niệm tương kế, nhập tam ma địa”, tôi bỗng
thấy được rằng, cái pháp môn mà tôi thực hành lâu nay
tức là pháp môn Niệm Phật Viên Thông của Bồ-tát Đại
Thế Chí!
Tiếp
đó, vào tháng 4 năm 1989, tôi sửa chữa hoàn chỉnh các điều
đã ghi chép, viết thành một đoản văn với tựa đề “Đàm
Vô Tướng Bái Phật dữ Vô Tướng Niệm Phật” (Đàm luận
về pháp môn lạy Phật vô tướng và niệm Phật vô tướng).
Sau khi hoàn tất bản thảo, lại nhân đọc tập sách ghi các
lời khai thị của đại lão hòa thượng Hư Vân, tôi mới
thực sự hiểu rõ cái lí lẽ của việc “khán thoại đầu”[6].
Lúc đó tôi mới biết, điều mà trước kia tôi từng cho là
“tham thoại đầu”[7], kì thật đều là đọc lời nói,
xem đuôi lời nói, rõ ràng chỉ là sự đối đáp với các
bạn đồng tu một cách đại ngôn, không biết thẹn, mà vẫn
nói là mình “tham thoại đầu”!
Vì
sao lúc trước không thể tham thoại đầu mà về sau lại làm
được? Nguyên nhân tại vì lúc mới tu học không có cái “công
phu trong động”, về sau, từ khi tu tập thành thục công phu
niệm Phật vô tướng, mới có năng lực tham thoại đầu.
Buổi
chiều ngày 6 tháng 8 năm 1989, khi cùng tu với các bạn đồng
tham[8], tôi đã hai lần tiến vào cảnh giới “Thấy núi không
phải là núi”; đó là buổi đầu tôi nếm được mùi vị
của cái “thùng sơn đen”[9]. Sau đó lại thường nổi lên
trăm mối ngờ vực. Đầu tháng 11 năm 1989, sau chuyến đi hành
hương Ấn-độ và Nepal trở về, tôi quyết định nghỉ việc,
chuyên ở nhà để tham thiền. Cho đến khoảng 4 giờ chiều
ngày 2 tháng 11 năm 1990, cái thùng sơn đen vừa bị bể nát,
cái quá trình tham thiền mới kết thúc.
Kiểm
điểm lại giai đoạn vừa qua, tôi phát giác ra rằng, sở
dĩ người ta tu tập Phật pháp mà không đạt được hiệu
quả, cái nguyên do căn bản là tại vì thiếu cái công phu
trong động. Do đó, tôi viết sách này, hi vọng giúp người
niệm Phật mau chóng thành tựu công phu niệm Phật nhất tâm
bất loạn; đồng thời cũng giúp cho người tu thiền sớm
có được cái năng lực tham thoại đầu, tham công án[10].
Đáp
ứng lời yêu cầu của các bạn đồng tham, bắt đầu từ
ngày 3 tháng 9 năm 1991, tại đạo tràng tu thiền nọ của Kim
Dung Cơ Cấu Phật Học Xã ở Đài-bắc và thiền đường Cộng-tu
của hai ông bà Trần cư sĩ ở Thạch-bài, kẻ hậu học này
đã trình bày về phương pháp tu trì “niệm Phật vô tướng”
(tức phương tiện để nhập môn pháp môn Niệm Phật Viên
Thông của Bồ-tát Đại Thế Chí), liên tục ba buổi trong
ba tuần thì xong.
Các
vị đồng tu trong hai đạo tràng ấy ước chừng có 30 người,
đa số là theo phương pháp “trì danh niệm Phật”. Họ một
mặt chú ý nghe, một mặt thực tập, và sáu tuần sau thì
có hai vị đạt được hiệu quả. Hiện vẫn có người lần
lượt gia nhập, và tiến bộ nhanh chóng, tỉ lệ cao, tốc
độ nhanh, khiến cho mọi người rất phấn khởi. Số người
không thấy tiến bộ, ngoại trừ kẻ vì nhân duyên không thể
lạy Phật, số còn lại chủ yếu là vì không hoan hỉ với
việc nhớ Phật lạy Phật vô tướng; và những người đã
quen trì danh niệm Phật, thì đối với pháp môn phương tiện
ở buổi đầu đã không chịu luyện tập cho đến nơi đến
chốn. Cho đến khi thấy có nhiều người lần lượt tu tập
thành công, có thể tham thiền, khán thoại đầu, số người
này mới lại gấp rút đuổi theo, nhưng cũng đã trễ hết
ba bốn tháng.
Kết
quả thực tế trên đã làm cho kẻ hậu học này vô cùng phấn
khởi, chứng tỏ rằng, đối với pháp môn này, người ta
chỉ cần có sự giúp đỡ khéo léo, và luyện tập tinh cần,
chắc chắn sẽ tu tập có hiệu quả. Bởi vậy, lại khởi
bi nguyện, không nỡ thấy thánh giáo suy vi, không muốn chúng
sinh bị khổ, cho nên ngay trong kì nghỉ mùa đông, mạnh dạn
cầm bút, gấp rút soạn sách, văn bút chắc chắn không được
tao nhã, chỉ cầu đạt được lòng tin. Đã trình bày bình
dị, lại còn giải thuyết. Cố gắng sử dụng lối văn bạch
thoại, cốt cho dễ hiểu. Kì nguyện tất cả những người
đệ tử Phật có duyên, đều có thể tu tập thành tựu pháp
môn “niệm Phật vô tướng”, khắp được thấm nhuần niềm
vui đạo pháp, lần lữa lưu truyền, làm lợi ích vô lượng
chúng sinh, tất cả đồng thể nhập vào biển pháp tánh.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn
Nam
Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam
Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Kính
cẩn,
Cư
sĩ TIÊU BÌNH THẬT
Ngày
28 tháng 2 năm 1992