Thời
Đức Phật tại thế, các Phật tử thường hướng về nơi
Ngài và chúng Tăng đang cư ngụ đảnh lễ và xưng niệm danh
hiệu của Như Lai, đầy đủ thập hiệu, để tỏ lòng cung
kính, tri ân và cầu nguyện. Khi thực tập như thế, họ cảm
thấy được an ủi nhiều lắm. Tăng đoàn dưới sự lãnh
đạo của Đức Thế Tôn là một cộng đồng thanh tịnh và
hòa hợp, là biểu tượng của hòa bình, tình thương, sự
an lạc, và là nền tảng đạo đức vững chãi, cho nên nó
đã trở thành điểm tựa của niềm tin và hy vọng cho con
người sống giữa cảnh đời náo nhiệt, bon chen, đầy dẫy
những tệ nạn. Người Phật tử sau khi quy y Tam bảo, trong
cuộc sống hàng ngày họ thường niệm Phật, niệm pháp, niệm
Tăng để nhắc nhở, răn đe mình đừng làm các việc ác,
siêng làm các việc lành, đồng thời cũng là cách để duy
trì đời sống tâm linh, khiến cho tâm luôn hướng thượng,
cân bằng, không bị loạn động.
Trong
các kinh A Hàm, và nhiều kinh khác, đều cho thấy niệm Phật
là biểu thị cho sự quy kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ
Đức Thích Tôn. Do nhớ nghĩ công đức của Phật nên các
tâm lý bất thiện như tham, sân, si không có cơ hội phát sinh,
vì vậy mà có thể được sanh Thiên, hoặc cao hơn chứng và
trú Niết bàn.
Niệm
Phật là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được
Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rõ ràng, hiện còn lưu lại trong
các bản kinh cổ nhất, cả tạng Pàli và tạng Hán, gồm có
ba cách: một là nhớ nghĩ Pháp thân Phật, hai là quán
tưởng tướng hảo và công đức của Phật, ba là xưng
niệm danh hiệu Phật. Trong đó, theo lý mà niệm Phật thì
gọi là pháp thân niệm Phật (còn gọi là thật tướng niệm
Phật); trong tâm luôn nhớ nghĩ đến hình tướng và công đức
của Phật gọi là quán tưởng niệm Phật; miệng luôn xưng
danh hiệu Phật gọi là trì danh niệm Phật, xưng danh niệm
Phật.
Đoạn
kinh sau đây, được trích trong Tăng Nhất A Hàm, sẽ cho chúng
ta thấy pháp môn niệm Phật đã được Đức Thế Tôn chỉ
dạy lúc Ngài còn tại thế, là một trong các pháp Tam niệm,
Lục niệm, Thập niệm ( 1).
Bấy giờ, Đức Phật đang ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ Đà, nước Xá Vệ, nói với các thầy Tỳ kheo:
“Hãy
tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành một
pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các
điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi,
liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả
Sa môn, tự đến Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm
Phật” (Đại chính 2, tr. 532).
Rồi
Đức Phật giải thích thế nào là niệm Phật:
“Nếu
có Tỳ kheo nào chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, chuyên
tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình
của Như Lai, mắt không hề rời. Trong khi mắt không rời,
niệm tưởng công đức Như Lai” (sđd, tr.554).
Đoạn
kinh trên nêu rõ hai phương pháp niệm Phật cơ bản là: trì
danh niệm Phật và quán tưởng niệm Phật. Trong phương pháp
thứ hai, tức nhớ nghĩ đến hình tướng và công đức của
Như Lai, Đức Phật giải thích:
“Thể
của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ mười
lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng. Gương mặt
của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán mắt. Giới
đức thành tựu giống như kim cương không thể phá hoại,
trong sạch không tỳ vết cũng như lưu ly. Tam muội của Như
Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ, vĩnh viễn tịch tĩnh,
không có niệm khác. Các thứ tình kiêu mạn, ngang bướng đã
vắng im. Ý tham dục, tưởng sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết
do dự, tất đều tận trừ. Huệ thân của Như Lai, trí không
bờ đáy, không bị chướng ngại. Thân Như Lai, được thành
tựu từ giải thoát, các cõi đã hết, không còn sinh phần
để nói ‘Ta sẽ đọa nơi sinh tử’. Thân Như Lai được
vượt qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác
đáng được độ hay không đáng được độ, chết đây sinh
kia, xoay vần qua lại trong ngằn mé sinh tử, có người giải
thoát, người không giải thoát, Như Lai thảy đều biết tất
cả” (sđd, tr.554).
Thật
quá rõ ràng và tường tận về phương pháp hành trì pháp
môn niệm Phật, chúng ta không còn lời nào để giải thích
hơn thế nữa - ngoại trừ chư vị Tổ sư tu tập theo pháp
môn này đã xây dựng nên Tịnh độ tông và làm cho những
lời dạy trên của Đức Phật càng thêm phong phú và đẹp
đẽ hơn. Đó là cách nhìn nhận Đức Như Lai. Hình tướng
và công đức của Như Lai phải được nhận thức, chiêm ngưỡng
và quán tưởng như thế, để rồi mình cũng đạt được
như vậy, bằng nỗ lực tu tập của tự thân.
Tương
đương với bản kinh trên, trong tạng Pàli, kinh Tăng Chi
Bộ, phẩm Một pháp, cũng ghi lại pháp môn niệm Phật
này, như sau:
“Có
một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm sung
mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,
an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là
gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỳ
kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất
hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết bàn” (Tăng Chi Bộ I.16, HT.Minh Châu dịch).
Một
bản kinh khác, kinh Trì Trai (số 202, Trung A
Hàm, tương đương kinh Visàkhà-sutta, Tăng Chi Bộ),
cũng đề cập đến pháp môn niệm Phật, là một trong năm
pháp tu tập hỗ trợ với Thánh trai tám chi (Bát quan trai giới).
Kinh này cho thấy nhờ niệm Phật mà tâm được tĩnh và tất
cả mọi tâm lý bất thiện đều được tiêu diệt, được
nói cho cư sĩ Tỳ Xá Khư, khi Phật đang trú tại nước Xá
Vệ, trong Đông viên, Lộc Tử Mẫu giảng đường.
“Này
cư sĩ! Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Như
Lai rằng, Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy, ác tham nếu
có liền bị tiêu diệt. Những pháp tạp uế, ác bất thiện,
nếu có cũng bị diệt. Này cư sĩ, đa văn Thánh đệ tử duyên
nơi Như Lai cho nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có
liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng
bị tiêu diệt”.
Như
vậy, cả hai truyền thống, Nam truyền và Bắc truyền, trong
tạng kinh Nguyên thủy của mình đều ghi nhận pháp môn niệm
Phật rất rõ ràng. Điều này chứng tỏ pháp môn này rất
phổ biến thời Đức Phật còn tại thế, được đích thân
Đức Thế Tôn chỉ dẫn, và xem nó như là một trong những
con đường đi đến giác ngộ giải thoát, chứng nhập Niết
bàn.
Tóm
lại, pháp môn niệm Phật hình thành rất sớm, và được
lưu giữ trong Kinh tạng của cả hai truyền thống. Tuy nhiên,
đối tượng niệm Phật mà kinh Nguyên thủy nói đến chỉ
có Đức Thế Tôn. Nên hồi đó nói đến niệm Phật, là niệm
Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni. Sau này, khi Phật giáo phát triển,
nhận thức rằng trong ba đời mười phương có vô số chư
Phật. Cho nên, pháp môn niệm Phật cũng có vô số danh hiệu
Phật để niệm, nhưng phổ biến nhất thường thấy niệm
Phật A Súc, Phật Dược Sư, Phật Di Lặc, Đại Nhật Như
Lai, Phật A Di Đà… Trong đó, Phật A Di Đà được lấy làm
đại biểu cho đối tượng niệm Phật, vì vậy, mỗi khi nói
đến pháp môn niệm Phật, người ta đều nghĩ đến niệm
Phật A Di Đà.
(1)
Tam niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Lục
niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm
Thí, niệm Thiên.
Thập
niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm
Thí, niệm Thiên, niệm Hưu tức, niệm An ban, niệm Thân vô
thường, niệm Chết.
Người
gửi bài: Tâm Minh
08-12-2007
11:23:51