PHẦN
NĂM:
SỰ
THỰC HÀNH YOGA GIẤC NGỦ
1
Dakini Salgye Du Dalma
Tantra
Mẹ dạy rằng có một dakini là người che chở và bảo vệ
giấc ngủ thiêng liêng. Có một nối kết với tinh túy của
vị ấy là ích lợi, tinh túy ấy cũng là bản tánh của sự
thực hành, bởi vì ngài có thể hướng dẫn và ban phước
gia bị cho sự chuyển dịch từ giấc ngủ vô thức đến giấc
ngủ có ý thức. Tên ngài là Salgye Du Dalma (gsal-byed-gdos-bral-ma),
dịch là “Vị Soi Sáng Vượt Khỏi Ý Niệm.” Ngài là quang
minh che dấu sau bóng tối của giấc ngủ bình thường.
Ngài
là không hình tướng trong bản thân thực hành giấc ngủ,
nhưng khi chúng ta rơi vào giấc ngủ, ngài được quán tưởng
là một khối cầu sáng rỡ bằng ánh sáng, một tiglé. Ánh
sáng được quán tưởng, hơn là một hình tướng như các
chữ được dùng trong yoga giấc mộng, bởi vì chúng ta đang
làm việc trên cấp độ của năng lực, vượt khỏi hình tướng.
Chúng ta đang cố gắng làm tan biến mọi phân biệt như trong
và ngoài, ta và người. Khi quán tưởng một hình tướng, thói
quen của tâm thức là hình tướng ấy là cái gì khác với
bản thân tâm thức, và chúng ta phải vượt qua nhị nguyên.
Vị dakini là tượng trưng, là sự đại diện của tịnh quang.
Ngài là cái chúng ta đã vốn là trong trạng thái thuần khiết
của chúng ta : trong sáng và sáng rỡ. Chúng ta trở thành ngài
trong thực hành giấc ngủ.
Khi
chúng ta phát triển một liên hệ với Salgye Du Dalma, chúng
ta nối kết với bản tánh thâm sâu nhất của chúng ta. Chúng
ta có thể tăng thêm sự nối kết này bằng cách nhớ ngài
càng nhiều càng tốt. Trong suốt ban ngày ngài có thể được
quán tưởng trong hình thức báo thân : trắng thuần khiết,
sáng rỡ, và đẹp đẽ. Thân thể rực sáng của ngài hoàn
toàn làm bằng ánh sáng. Trong tay phải, ngài cầm một cái
dao cong, và tay trái một cái chén làm bằng phần đỉnh của
một cái sọ người. Ngài ở trong trung tâm tim, ngồi trên
một cái dĩa mặt trăng màu trắng, dĩa này ở trên một dĩa
mặt trời sắc vàng, dĩa mặt trời lại ở trên một hoa sen
xanh đẹp đẽ, bốn cánh. Như trong guru yoga, hãy tưởng tượng
chính bạn tan biến vào ngài, và ngài vào trong bạn, trộn
lẫn với tinh túy của bạn cho đến khi thành một.
Bạn
ở chỗ nào, ngài ở cùng bạn, trú ngụ trong tim bạn. Khi
ăn, bạn cúng cho ngài thức ăn. Khi uống, hãy cúng cho ngài
cái bạn uống. Bạn có thể nói chuyện với ngài. Nếu bạn
đang trong một không gian nơi bạn có thể nghe, hãy để ngài
nói chuyện với bạn. Điều này không có nghĩa là bạn thành
điên, nhưng bạn có thể dùng trí tưởng tượng của bạn.
Nếu bạn đã đọc những sách về giáo pháp và nghe nói về
những chủ đề này, hãy tưởng tượng ngài ban cho bạn những
giáo lý mà bạn đã biết. Hãy để cho ngài nhắc bạn nhớ
an trụ trong sự hiện diện tỉnh thức, cắt đoạn vô minh,
hành động với lòng bi, chánh niệm và chống lại phóng dật.
Thầy của bạn có thể không luôn luôn gặp gỡ được, bạn
của bạn cũng thế, nhưng dakini thì hiện diện. Hãy biến
ngài thành người bạn đồng hành thường trực và người
hướng dẫn sự thực hành của bạn. Cuối cùng bạn sẽ thấy
rằng sự tương giao bắt đầu cảm thấy là thực ; ngài sẽ
hiện thân cho cái hiểu Pháp của riêng bạn và phản chiếu
nó lại nơi bạn. Khi bạn nhớ sự hiện diện của ngài, căn
phòng bạn ở sẽ hình như sáng rỡ hơn và tâm thức bạn
trở nên minh bạch hơn ; ngài đang dạy bạn rằng quang minh
và sự minh bạch bạn đang kinh nghiệm chính là tịnh quang
mà bạn đang thực sự là. Hãy tu hành đến mức thậm chí
những cảm giác mất nối kết và sự sanh khởi của những
phiền não sẽ tự động nhắc nhớ lại ngài ; bấy giờ mê
lầm và những móng vuốt phiền não sẽ được dùng để đem
bạn trở lại tánh giác như cái chuông chùa đánh dấu sự
bắt đầu của thực hành.
Nếu
sự tương quan với dakini có vẻ quá xa lạ hay kỳ lạ, bạn
hãy mong muốn tâm lý hóa nó. Điều ấy tốt. Bạn có thể
nghĩ về ngài như một hiện thể phân cách hay như một biểu
tượng mà bạn dùng để hướng dẫn ý định và tâm thức
của bạn. Trong trường hợp nào, sùng mộ và kiên định là
tài sản có uy lực trên hành trình tâm linh. Bạn cũng có thể
làm thực hành này với yidam của bạn, nếu bạn thực hành
yidam, hay với bất kỳ hóa thần hay bậc giác ngộ nào ; chính
những nỗ lực tạo ra sự khác biệt trong thực hành, không
phải là hình thức. Nhưng cũng tốt khi nhận biết rằng Salgye
Du Dalma là đặc biệt liên kết với sự thực hành này trong
Tantra Mẹ. Có một lịch sử lâu dài những hành giả đã từng
làm việc với hình tướng và năng lực của ngài, và việc
có sự nối kết với năng lực của dòng có thể là một
hỗ trợ vĩ đại.
Trí
tưởng tượng là rất có uy lực, đủ mạnh mẽ để cột
người ta vào khổ đau của sanh tử suốt một đời người,
và đủ mạnh mẽ để làm cho cuộc đối thoại với dakini
thành thực tế. Thường thì những hành giả đối xử với
Pháp như là cái gì khô khan, cứng ngắc, nhưng không phải
thế. Pháp là linh hoạt mềm dẻo và tâm thức cần mềm dẻo
với Pháp. Trách nhiệm của bạn chính là tìm cách nào sử
dụng Pháp để hỗ trợ cho chứng ngộ của bạn. Hơn là tưởng
tượng ngày mai sẽ thế nào, hay cuộc chiến đấu giữa bạn
với ông chủ, hay buổi chiều gặp gỡ với người tình, ích
lợi hơn nhiều khi tạo ra sự hiện diện của dakini đẹp
đẽ này hiện thân cho mục đích cao nhất của sự thực hành.
Điểm quan trọng là phát triển ý định đầy năng lực cần
thiết để hoàn thành sự thực hành và một tương giao mạnh
mẽ với bản tánh chân thật của bạn, mà dakini đại diện.
Càng thường xuyên càng tốt, hãy cầu nguyện ngài cho giấc
ngủ của tịnh quang. Ý định của bạn sẽ thêm mạnh mẽ
mỗi khi bạn làm điều đó.
Rốt
ráo, bạn phải trở thành một với dakini, điều này không
có nghĩa là đảm đương hình tướng của ngài như trong thực
hành tantra. Nó có nghĩa là ở trong, an trụ trong bản tánh
của tâm thức, thực sự là rigpa trong mỗi khoảnh khắc. An
trụ trong trạng thái tự nhiên vừa là cái sơ bộ tốt nhất
vừa là sự thực hành tốt nhất.
Salgye
Du Dalma
2
Thực Hành Sơ Bộ
Căng
thẳng đem vào giường sẽ theo mình vào giấc ngủ. Bởi thế,
hãy đem tâm thức vào rigpa nếu có thể. Nếu không, thì hãy
đem tâm thức vào thân thể, vào kinh mạch trung ương, vào
trái tim. Những thực hành sơ bộ được đề nghị cho yoga
giấc mộng cũng áp dụng cho yoga giấc ngủ. Hãy quy y lama,
yidam, và dakini, hay làm chín hơi thở của sự tịnh hóa và
guru yoga. Ở mức độ tối thiểu hãy nghĩ đến những điều
tốt đẹp làm hưng vận sùng mộ và thực hành, như phát sanh
lòng bi. Điều này ai cũng có thể làm. Cũng hãy cầu nguyện
cho giấc ngủ tịnh quang. Nếu bạn có những thực hành khác
mà bạn thường làm trước khi vào giường, bạn nên tiếp
tục làm những cái ấy.
Một
cây đèn sáp hay bóng đèn nhỏ để suốt đêm sẽ giữ một
ít tỉnh táo trong tâm thức. Có khác biệt khi ngủ với một
ngọn đèn và sự khác biệt ấy có thể được dùng để
giúp duy trì tỉnh giác. Nếu là một cây đèn sáp, hãy chắc
chắn không bị hỏa hoạn.
Ánh
sáng không chỉ giúp duy trì cảnh tỉnh, nó cũng tượng trưng
cho dakini, Salgye Du Dalma. Sự sáng tỏ và quang minh của ánh
sáng thì gần gũi với tinh túy của ngài hơn bất cứ hình
tướng nào khác trong thế giới sắc tướng. Khi ánh sáng bật
lên, hãy tưởng tượng quang minh trong phòng là dakini bao quanh
bạn với tinh túy ấy. Hãy để ánh sáng bên ngoài nối kết
bạn với ánh sáng bên trong, với quang minh là cái mà bạn
thực sự là. Liên hệ kinh nghiệm về ánh sáng của thế giới
bên ngoài với sự thực hành thì có ích lợi ; nó cho cái
tâm thức quy ước một định hướng, một nâng đỡ, khi nó
chuyển hướng đến sự tan biến trong tánh giác thanh tịnh.
Ánh sáng bên ngoài có thể là một cái cầu giữa thế giới
ý niệm của hình tướng và kinh nghiệm trực tiếp không ý
niệm của cái vô tướng.
Thực
hành sơ bộ khác đôi khi được dùng để không ngủ trong
một, ba hay thậm chí năm đêm. Điều này làm kiệt sức tâm
thức quy ước. Theo truyền thống, điều này được một hành
giả làm khi vị thầy ở bên cạnh. Sau thời kỳ không ngủ,
khi hành giả cuối cùng đi ngủ, vị thầy đánh thức hành
giả từng lúc trong đêm và hỏi những câu : Con có tỉnh thức
không ? Con có mộng không ? Con có rơi vào giấc ngủ vô minh
không ?
Nếu
bạn muốn thử điều này, hãy sắp xếp với một hành giả
có kinh nghiệm mà bạn tin tưởng. Sau đêm không ngủ của
bạn – tốt hơn là trước hết không ngủ chỉ trong một
đêm – hãy sắp đặt để có một sự xoa bóp, nếu có thể,
để thư giãn thân thể và mở những kinh mạch. Bấy giờ
có hành giả đánh thức bạn dậy ba lần trong đêm và hỏi
những câu hỏi trên. Sau mỗi lần thức dậy, hãy làm sự
thực hành được giải thích ở dưới đây, và lại đi ngủ.
Đôi khi tâm thức quy ước có thể trở nên quá kiệt sức
đến độ hoàn toàn yên tĩnh. Bấy giờ dễ dàng hơn để
thấy mình ở trong tịnh quang.
3
Thực Hành Giấc Ngủ
Bốn
thời thực hành giấc ngủ được làm trong những thời kỳ
thức trong đêm, như thực hành giấc mộng. Tuy nhiên trong yoga
giấc ngủ tất cả bốn thời là cùng một cái như nhau.
Hãy
nằm theo thế sư tử, như đã giải thích trong chương về
thực hành giấc mộng : đàn ông bên phải, đàn bà bên trái.
Hãy quán tưởng bốn cánh hoa sen xanh trong trung tâm tim. Ở
trong trung tâm là dakini Salgye Du Dalma, được quán tưởng trong
tinh túy của ngài như là một khối cầu bằng ánh sáng thanh
tịnh rực rỡ và trong sáng, một tiglé trong suốt như pha lê
toàn hảo. Tiglé trong sáng và không màu sắc, phản chiếu màu
xanh của những cánh hoa và trở thành một màu xanh trắng rực
rỡ. Hãy hòa lẫn sự hiện diện của bạn trọn vẹn với
tiglé sáng rỡ cho đến mức bạn trở thành ánh sáng xanh sáng
rỡ.
Mỗi
một cánh hoa xanh là một tiglé, với tiglé trung tâm là năm
tiglé. Ở trước là một tiglé vàng, tượng trưng phương đông.
Bên trái bạn, phương bắc, là tiglé lục. Đằng sau là tiglé
đỏ của phương tây. Và bên phải là tiglé xanh của phương
nam (xem hình vẽ trang 156). Những tiglé tượng trưng cho bốn
dakini được quán tưởng trong tinh túy sáng rỡ của các vị,
ánh sáng có màu sắc. Chớ quán tưởng những hình tướng
của các vị khác hơn là những khối cầu của quang minh. Bốn
tiglé giống như một đoàn tùy tùng của Salgye Du Dalma. Hãy
phát triển cảm thức rằng bạn được sự che chở của những
dakini bao quanh ; hãy cố gắng cảm thấy thực sự sự hiện
diện từ ái này cho đến khi bạn được an toàn và thư giãn.
Hãy
cầu nguyện đến dakini, cầu mong bạn có giấc ngủ của tịnh
quang hơn là những giấc mộng hay giấc ngủ của vô minh. Làm
cho lời cầu nguyện của bạn mạnh mẽ và đầy sùng mộ,
và cầu nguyện trở đi trở lại. Lời cầu nguyện sẽ giúp
làm mạnh sùng mộ và ý định. Không quá nhấn mạnh đâu
khi cho rằng ý định mạnh mẽ là nền tảng của thực hành.
Phát triển sùng mộ sẽ giúp làm cho ý định được nhất
tâm và uy lực đủ để xuyên thủng những đám mây của vô
minh chúng che đậy quang minh của tịnh quang.
ĐI
VÀO GIẤC NGỦ
Dù
kinh nghiệm ngủ là liên tục, nó được chia thành năm giai
đoạn như một giúp đỡ để đem tỉnh giác vào tiến trình.
Trong bản dưới đây, cột bên trái liệt kê một sự mất
nối kết tiệm tiến khỏi những giác quan và những đối
tượng của giác quan cho đến khi có một “vắng bặt cái
nhìn thấy” toàn diện, nó có nghĩa là một sự vắng mặt
hoàn toàn kinh nghiệm giác quan.
Bình
thường, nhân cách dựa vào thế giới của những giác quan.
Vì thế giới này biến mất trong giấc ngủ, cái nâng đỡ
cho ý thức sụp đổ và kết quả là “rơi vào giấc ngủ”,
đó có nghĩa là chúng ta trở nên vô thức. Yoga giấc ngủ
dùng những tiglé để nâng đỡ ý thức khi sự tiếp xúc với
thế giới bên ngoài đã bị mất. Tương ứng với sự tan
biến tiệm tiến của kinh nghiệm giác quan, hành giả nối
kết theo thứ tự với năm tiglé, cho đến khi, với thế giới
hoàn toàn biến mất, chủ thể tan biến vào quang minh thanh
tịnh bất nhị của tịnh quang. Chuyển động từ một tiglé
qua một tiglé khác cần phải êm nhẹ, thông trơn càng nhiều
càng tốt để phù hợp với chuyển động liên tục và không
ngắt quãng đến giấc ngủ.
a.
Sau khi bạn nằm trong thế thích hợp, kinh nghiệm giác quan
vẫn đầy đủ : bạn thấy bằng mắt, bạn nghe, bạn cảm
thấy cái giường... Đây là lúc của cái nhìn thấy. Cái ngã
quy ước được nâng đỡ bởi kinh nghiệm giác quan. Hãy bắt
đầu chuyển hướng sự nâng đỡ này đến ý thức thanh tịnh
mà những tiglé đại diện. Bước thứ nhất là hòa tan sự
tỉnh giác của bạn với tiglé đằng trước, một ánh sáng
đẹp đẽ, ấm áp, màu vàng trong đó tâm thức ý niệm có
thể bắt đầu tan vào.
b.
Khi hai mắt nhắm lại, sự tiếp xúc với thế giới giác quan
bắt đầu giảm sút. Đây là điểm thứ hai, cái nhìn thấy
giảm bớt. Vì sự nâng đỡ bên ngoài đã mất, hãy hướng
tỉnh giác đến tiglé lục bên trái. Hãy để cho nhân cách
bắt đầu tan biến khi kinh nghiệm giác quan giảm.
c.
Vì kinh nghiệm giác quan trở nên bị chặn im hơn, hãy hướng
tỉnh giác đến tiglé đỏ. Tiến trình vào giấc ngủ thì
quen thuộc – sự êm dịu và mờ nhòa của những giác quan,
sự mất dần những cảm giác. Thông thường khi những nâng
đỡ bên ngoài mất đi, bạn mất đi chính bạn, nhưng giờ
đây bạn đang học cách hiện hữu mà không có bất kỳ cái
nâng đỡ nào.
d.
Khi kinh nghiệm giác quan hầu như tắt mất, hãy hướng tỉnh
giác vào tiglé màu xanh bên phải. Đây là thời kỳ khi mọi
kinh nghiệm giác quan ngừng dứt. Tất cả các giác quan rất
thanh tĩnh và không có bất cứ tiếp xúc nào với thế giới
bên ngoài.
e.
Cuối cùng, vì thân thể hoàn toàn đi vào giấc ngủ và mọi
tiếp xúc với những giác quan đã mất đi, tỉnh giác hoàn
toàn trộn lẫn với tiglé trung tâm màu xanh trắng. Tới điểm
này, nếu bạn thành công, tiglé sẽ không thực sự là một
đối tượng của tỉnh giác ; bạn sẽ không quán tưởng một
ánh sáng xanh cũng không xác định kinh nghiệm bằng vị trí.
Hơn nữa, bạn sẽ là chính bản thân tịnh quang ; bạn an trụ
trong đó suốt giấc ngủ.
NHỮNG
GIAI ĐOẠN DỪNG TẮT CỦA GIÁC QUAN
|
Kinh
nghiệm giác quan
|
Tiglé
|
| . |
Màu |
Hướng |
Vị
trí |
a.
Cái nhìn thấy
b.
Cái nhìn thấy giảm
c.
Cái nhìn thấy giảm nhiều
d.
Cái nhìn thấy dừng tắt
e.
Cái nhìn thấy vắng mặt |
Vàng
Lục
Đỏ
Xanh
Xanh
trắng |
Đông
Bắc
Tây
Nam
Trung
tâm |
Trước
Trái
Sau
Phải
Trung
tâm |
Hãy
ghi nhận rằng năm giai đoạn này không ám chỉ đến những
hình tướng xuất hiện của tâm thức bên trong, mà là đến
sự dừng tắt theo thứ lớp của kinh nghiệm giác quan. Bình
thường người ngủ đi qua tiến trình này một cách vô thức
; với sự thực hành này tiến trình này xảy ra trong tỉnh
giác. Những bước trong tiến trình không cần phải phân định
ranh giới một cách rõ ràng. Khi các thức rút khỏi các giác
quan, hãy để cho tỉnh giác di chuyển êm băng qua những tiglé
cho đến khi chỉ còn là tánh tỉnh giác bất nhị – tịnh
quang của tiglé trung tâm. Chính khi thân thể xoáy chìm vào
giấc ngủ thì bạn xoáy chìm vào tịnh quang. Hơn là dựa vào
những quyết định ý niệm để di chuyển từ một tiglé này
sang một tiglé khác, và hơn là cố gắng làm cho tiến trình
xảy ra, hãy cho phép ý định khai mở tiến trình trong trải
nghiệm.
Nếu
bạn hoàn toàn thức dậy ở giữa sự thực hành, hãy bắt
đầu trở lại. Bạn không cần phải quá cứng ngắc với
hình thức của sự thực hành. Tiến trình xảy ra nhanh hay
chậm không thành vấn đề. Đối với một số người rơi
vào giấc ngủ thì nhẹ nhàng ; những người khác rơi vào
giấc ngủ vài giây sau khi đầu họ chạm xuống gối. Cả
hai đều đi qua một chuyển di như nhau. Một cái kim may hầu
như tức khắc xuyên qua một xấp năm thứ vải mỏng nhưng
cũng còn năm khoảnh khắc để nó xuyên qua từng thứ. Chớ
có phân tích quá đáng về những giai đoạn nào là cái gì
hay phân chia rạch ròi tiến trình thành năm. Sự quán tưởng
chỉ là một nâng đỡ cho tỉnh giác lúc ban đầu. Tinh túy
của sự thực hành phải được hiểu và áp dụng hơn là
chìm mất trong những chi tiết.
Theo
kinh nghiệm riêng của tôi, tôi thấy sự thực hành cũng hiệu
quả khi những tiglé được đi vào theo chiều ngược lại.
Lúc đó bạn quán tưởng tiglé vàng trước mặt, tượng trưng
cho đất ; tiglé xanh bên phải, tượng trưng cho nước ; tiglé
đỏ đằng sau, tượng trưng lửa ; tiglé lục bên trái, tượng
trưng không khí ; và cuối cùng tiglé xanh trắng ở trung tâm,
tượng trưng không gian. Trình tự này tương đương với trình
tự mà những nguyên tố tan biến khi chết. Bạn có thể thí
nghiệm để xác định trình tự nào tốt nhất cho bạn.
Như
trong thực hành giấc mộng, tốt nhất là thức dậy ba lần
trong đêm, cách khoảng độ hai giờ một lần. Khi kinh nghiệm
được phát triển, bạn có thể dùng những lúc tỉnh dậy
tự nhiên trong đêm hơn là ba thời kỳ tỉnh dậy theo chương
trình. Hãy lập lại cùng một thực hành trong mỗi thời thức
dậy. Mỗi lúc bạn thức dậy, hãy khảo sát kinh nghiệm về
giấc ngủ từ đó bạn thức dậy : Bạn có mất tỉnh giác
và như thế giấc ngủ của vô minh ? Bạn có mộng, đánh mất
mình trong giấc ngủ sanh tử ? Hay bạn ở trong tịnh quang,
an trụ trong tánh giác thanh tịnh bất nhị ?
4
Tiglé
Tiglé
có nhiều định nghĩa khác nhau, mỗi cái thích hợp trong những
bối cảnh khác nhau. Trong bối cảnh của thực hành này, nó
là một khối cầu nhỏ bằng ánh sáng tượng trưng những
phẩm tính đặc biệt của Thức, hay trong trường hợp tiglé
trung tâm, tượng trưng cho rigpa thanh tịnh. Dù rốt ráo tỉnh
giác phải được ổn cố mà không dựa vào một đối tượng
nào, cho đến khi nào khả năng này được khai triển thì ánh
sáng vẫn còn là một nâng đỡ, một chỗ dựa hữu ích. Ánh
sáng thì sáng rỡ và trong sáng, và dầu cho nó còn trong thế
giới hình tướng, nó thì kém chất thể hơn bất kỳ hình
tướng có thể tri giác được nào khác. Sự quán tưởng những
tiglé là một cái cầu, một cái nạng ích lợi cho đến khi
ánh sáng có thể tri giác được có thể được từ bỏ và
hành giả có thể an trụ trong tỉnh giác trống không, không
có hình ảnh, trong quang minh là tinh túy của ánh sáng.
Khi
tiglé được quán tưởng trên bốn cánh hoa màu xanh trong luân
xa tim, không cần thiết cố gắng xác định nơi chốn chính
xác theo khoa giải phẩu. Điều quan trọng là cảm giác trung
tâm thân thể trong vùng trái tim. Hãy dùng tỉnh giác và tưởng
tượng để tìm ra chỗ đúng, chỗ trong đó có kinh nghiệm
thật sự.
Những
màu của những tiglé không được chọn tùy ý. Màu sắc ảnh
hưởng phẩm tính của ý thức, và những ánh sáng có màu
là để gợi ra những phẩm tính đặc biệt được đưa vào
sự thực hành, cũng như những luân xa, màu sắc và chữ đặc
biệt tạo thành một tiến bộ trong yoga giấc mộng. Những
phẩm tính khác nhau có thể được kinh nghiệm khi chúng ta
di chuyển từ một tiglé đến một cái khác – vàng, lục,
đỏ, xanh – đến mức chúng ta cho phép mình nhạy cảm với
những khác biệt.
Đây
không phải là một thực hành chuyển hóa, trong đó chúng ta
chuyển hóa cá tính bản sắc của chúng ta ; trong yoga giấc
ngủ, cá tính bị buông bỏ hoàn toàn. Nó không phải là ở
yên với sự quán chiếu, như trong một thực hành tantra. Nhưng
tâm thức phải có cái gì để nắm ; nếu không có ánh sáng,
nó sẽ túm lấy cái gì khác.
Trước
khi chúng ta có kinh nghiệm về rigpa, khó mà hình dung làm sao
chúng ta có thể duy trì cái biết mà không có chủ thể cũng
không có đối tượng nào của tỉnh giác. Thông thường ý
thức đòi hỏi một đối tượng, điều này có nghĩa là ý
thức được “nâng đỡ” bởi một hình tướng hay một
thuộc tính. Những thực hành trong đó đối tượng được
quán tưởng hay cá tánh chủ thể được làm tan biến huấn
luyện cho hành giả duy trì tỉnh biết khi những nâng đỡ,
những chỗ dựa nhị nguyên cho ý thức đã biến mất. Chúng
chuẩn bị cho chúng ta thực hành yoga giấc ngủ nhưng chúng
không giống như bản thân yoga giấc ngủ. Ngay cả “thực
hành” là một sự nâng đỡ, một chỗ dựa, và trong yoga
giấc ngủ thực sự không có chỗ dựa cũng không có thực
hành : không có việc yoga có được hoàn thành hay không, vì
tâm thức dựa vào một chỗ dựa tan biến vào trong nền tảng.
5
Tiến Bộ
Thường
thường khi người ta lái xe trên một con đường quen thuộc,
tỉnh giác về hiện tại bị quên mất. Ngay trong chuyến đi
hàng ngày kéo dài bốn mươi lăm phút hay một giờ, không có
cái gì được thực sự thấy bằng tỉnh giác mạnh mẽ. Người
lái xe thì tự động, chìm mất trong những tư tưởng về
công việc hay những tưởng tượng về một kỳ nghĩ hay bận
tâm về những hóa đơn hay những kế hoạch cho gia đình.
Rồi
người ta quyết định trở thành một hành giả và quyết
định càng ở trong hiện diện tỉnh thức càng tốt suốt
đường về nhà, dùng thời gian như một cơ hội làm mạnh
tâm thức cho sự thực hành. Điều này rất khó làm, vì sự
điều kiện hóa. Tâm thức trôi nổi đi xa luôn luôn. Hành
giả đem nó trở lại – để cảm nhận tay lái, màu cỏ dọc
xa lộ – nhưng điều này chỉ kéo dài một phút trước khi
hoạt động của tâm thức mang sự chú ý đi xa trở lại.
Thực
hành thiền định cũng như vậy. Tâm thức được dặt vào
một hình ảnh của một bôn tôn, hay một chữ A, hay vào hơi
thở ; một phút sau nó lang thang trở lại. Có thể một thời
gian lâu, có khi hàng năm, trước khi sự hiện diện có thể
được duy trì liên tục trong nửa giờ đồng hồ.
Khi
thực hành giấc mộng bắt đầu, một tiến bộ tương tự
theo sau đó. Hầu hết những giấc mộng là những thời kỳ
của phóng dật hoàn toàn ; giấc mộng hầu hết bị quên mất
cũng nhanh chóng như nó đã xảy ra. Với thực hành, những
giây phút của trạng thái sáng sủa minh bạch khởi lên, dần
dần kéo dài nhiều phút hiện diện minh bạch trong giấc mơ.
Bấy giờ, thậm chí sự minh bạch có thể mất đi, hay giấc
mơ tới có thể lại mất sự minh bạch. Tiến bộ có thêm,
nó là chắc chắn và có thể nhận biết, nhưng nó cần sự
cần cù và quyết tâm mạnh mẽ.
Thực
hành giấc ngủ thường phát triển chậm hơn. Nhưng nếu sau
một thời gian dài thực hành mà không có tiến bộ – sự
hiện diện không tăng, không có những thay đổi tích cực
có thể nhận ra trong đời sống – sẽ không tốt khi chấp
nhận tình trạng sự việc như vậy. Hơn nữa, hãy làm những
thực hành tịnh hóa, xem xét và chữa lành những cam kết (samaya)
đã bị phá vỡ, hay làm việc với khí và năng lực của thân
thể. Những thực hành khác có thể cần để xóa sạch những
chướng ngại và được dùng như một căn bản cho thành tựu
của yoga giấc mộng và yoga giấc ngủ.
Hành
giả giống như một cây nho chỉ có thể lớn lên nơi nào
có sự nâng đỡ. Những hoàn cảnh bên ngoài có một ảnh
hưởng mạnh mẽ vào phẩm chất của đời sống, thế nên
hãy dùng thời gian trong những môi trường và với những người
nâng đỡ cho sự thực hành hơn là làm giảm sút nó. Hữu
ích khi đọc những cuốn sách Pháp, thực hành thiền định
cùng với những người khác, chú tâm vào những giáo lý, và
sống với những hành giả khác. Những hành giả có trách
nhiệm đánh giá một cách thành thật sự thực hành và những
kết quả. Nếu không làm điều này, dễ dàng bỏ phí nhiều
năm để tin rằng có tiến bộ trong khi chẳng có gì thực
sự xảy ra.
6
Những Chướng Ngại
Yoga
giấc ngủ không chỉ là một thực hành cho giấc ngủ. Nó
là sự thực hành ở lại trong tánh tỉnh giác bất nhị một
cách thường trực, qua suốt bốn trạng thái thức, ngủ, thiền
định và chết. Như thế, những chướng ngại được kê ra
dưới đây thực ra chỉ là một chướng ngại độc nhất
là bị đưa khỏi tịnh quang và vào trong kinh nghiệm nhị nguyên
sanh tử. Những chướng ngại là :
1.
Mất sự hiện diện của tịnh quang tự nhiên của ban ngày
khi phóng dật bởi những hiện tượng thuộc cảm giác hay
tâm trí
2.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của giấc ngủ khi bị
phóng dật bởi những giấc mộng
3.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của Samadhi (định trong
khi thiền định) khi bị phóng dật bởi tư tưởng
4.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của cái chết khi bị
phóng dật bởi những cái nhìn thấy của trung ấm
1.
Mất sự hiện diện của tịnh quang tự nhiên của ban ngày.
Chướng ngại trong đời sống lúc thức là hình tướng ở
bên ngoài. Chúng ta bị chìm mất trong trong những kinh nghiệm,
những cái nhìn thấy của những đối tượng giác quan. Một
âm thanh đến và đem chúng ta đi xa, một mùi hương đến và
chúng ta mất vào trong một giấc mộng ban ngày của ổ bánh
mì nóng hổi, gió mơn nhẹ tóc trên cổ và chúng ta mất sự
tỉnh giác không trung tâm của rigpa và lại trở thành một
chủ thể kinh nghiệm cảm giác. Nếu chúng ta ở lại trong
sự sáng tỏ của rigpa, kinh nghiệm thì khác. Một âm thanh
khởi lên nhưng chúng ta nối kết với sự im lặng trong âm
thanh đó và không mất hiện diện. Một cái nhìn thấy đi
qua trước chúng ta nhưng chúng ta cắm rễ trong tĩnh lặng và
ở lại trong tâm bất động. Cách để thắng được chướng
ngại của hình tướng bên ngoài là khai triển sự vững chắc
trong tịnh quang tự nhiên.
Tịnh
quang tự nhiên là tịnh quang của ban ngày, cùng một tịnh
quang của ban đêm. Biết tịnh quang của ban ngày chúng ta cũng
có thể tìm thấy tịnh quang trong giấc ngủ. Sự thực hành
là nối kết tịnh quang tự nhiên của đời sống lúc thức
với tịnh quang của giấc ngủ và tịnh quang của samadhi, cho
đến khi chúng ta liên tục ở trong rigpa thuần khiết.
2.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của giấc ngủ. Chướng
ngại để chứng ngộ tịnh quang của giấc ngủ là giấc mộng.
Khi một giấc mộng khởi lên, chúng ta phản ứng với nó một
cách nhị nguyên và dấn thân vào sự tưởng tượng là một
chủ thể trong một thế giới của những đối tượng. Cái
này tương tự với chướng ngại thứ nhất, nhưng bây giờ
là bên trong hơn là bên ngoài. Chúng ta nói những hình ảnh
làm mờ tối tịnh quang, tuy nhiên không phải giấc mơ thực
sự làm mờ tối sự sáng tỏ, mà là chúng ta bị phóng dật
khỏi sự sáng tỏ. Điều này là tại sao khi bắt đầu của
thực hành, chúng ta cầu nguyện không có giấc ngủ của vô
minh cũng không giấc ngủ của mộng. Khi sự vững chắc đã
phát triển đủ, giấc mộng không làm chúng ta phóng dật nữa
và kết quả là giấc mộng của tịnh quang.
3.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của samadhi. Tịnh quang
của samadhi là tịnh quang khi thiền định. Đây là rigpa trong
khi thực hành thiền định. Những tư tưởng là sự che ám
của tịnh quang của thiền định trong những giai đoạn đầu
của thực hành. Khi sự vững chắc trong ripa được phát triển
qua thực hành, bây giờ chúng ta có thể học hội nhập tư
tưởng với rigpa. Cho đến khi ấy, khi một tư tưởng khởi
lên chúng ta bám nắm nó hay xua đuổi nó và bị phóng dật
khỏi rigpa.
Điều
này
không nên được xem như là một chỉ dẫn rằng tịnh quang
thiền định chỉ được tìm thấy sau nhiều năm thực hành.
Có nhiều khoảnh khắc của đời sống trong đó tịnh quang
tự nhiên có thể được tìm thấy ; thật ra nó có thể được
tìm thấy vào bất cứ khoảnh khắc nào. Điều then chốt là
bạn có được giới thiệu vào nó và có thể nhận biết
nó hay không.
4.
Mất sự hiện diện của tịnh quang của cái chết. Tịnh quang
của cái chết bị che ám bởi những cái nhìn thấy trong trung
ấm. Sự sáng tỏ của rigpa bị mất khi chúng ta phóng dật
với những cái nhìn thấy khởi lên sau khi chết và đi vào
một tương quan nhị nguyên với chúng. Như với ba chướng
ngại kia, cái mất này không xảy ra nếu có đủ vững chắc
để trụ trong tịnh quang.
Trung
ấm không nhất thiết che ám tịnh quang của cái chết. Những
tư tưởng không nhất thiết che ám tịnh quang của samadhi.
Giấc mộng không nhất thiết che ám tịnh quang của giấc ngủ.
Những đối tượng bên ngoài không nhất thiết che ám tịnh
quang tự nhiên.
Nếu
chúng ta bị mê lầm bởi bốn chướng ngại này, chúng ta sẽ
không ra khỏi sanh tử ; chỉ có việc rơi trở lại vào những
cái bẫy sanh tử. Hoàn thành những thực hành giấc ngủ và
giấc mộng, chúng ta sẽ biết làm thế nào để chuyển hóa
những che ám này vào con đường.
Thực
hành giấc ngủ không chỉ để cho giấc ngủ, mà là sự thực
hành hội nhập tất cả mọi giây phút – thức và ngủ, mộng
và trung ấm – vào tịnh quang. Khi điều này được làm, giải
thoát là kết quả. Những kinh nghiệm và nội quán huyền diệu,
cũng như mọi tư tưởng, cảm nhận và tri giác, có thể khởi
lên trong sự hiện diện của rigpa. Khi chúng khởi lên như
vậy, hãy cho phép chúng tự giải thoát một cách tự nhiên,
tan biến vào tánh không, không để lại dấu vết nghiệp nào.
Bây giờ tất cả mọi kinh nghiệm đều trực tiếp, tức thời
không trung gian, sống động và viên mãn.
7
Những Thực Hành Hỗ Trợ
Dưới
đây là những diễn tả ngắn về những thực hành, hầu hết
chúng được giới thiệu từ Tantra Mẹ, hỗ trợ cho thực
hành chính về giấc ngủ.
ĐẠO
SƯ
Để
hỗ trợ thực hành giấc ngủ, hãy phát sanh sùng mộ mạnh
mẽ với bản tánh chân thật của mình. Hãy tưởng tượng
đạo sư ở trên đỉnh đầu và phát triển sự nối kết
và sùng mộ. Sự nối kết với đạo sư là rất thanh tịnh,
đặt nền trên sự sùng mộ thanh tịnh. Khi bạn tưởng tượng
đạo sư, phải vượt hơn khỏi việc chỉ quán tưởng một
hình ảnh : hãy phát sanh sùng mộ mạnh mẽ và thực sự cảm
thấy sự hiện diện của đạo sư. Hãy cầu nguyện với sức
mạnh và thành thật. Rồi làm tan biến đạo sư vào ánh sáng,
ánh sáng này đi vào đỉnh đầu bạn và xuống vào tim bạn.
Hãy tưởng tượng đạo sư ở đó, trong trung tâm tim, rồi
đi ngủ.
Sự
gần gũi thân thiết mà bạn cảm thấy đối với đạo sư
thực sự là sự gần gũi thân thiết bạn cảm thấy đối
với bản tánh của chính bạn. Đây là sự hỗ trợ, nâng
đỡ của lama.
DAKINI
Trên
một hoa sen sáng chói trong tim, dakini Salgye Du Dalma ngồi tren
một dĩa mặt trời ở trên hoa sen. Ngài trong sáng, trong suốt
và sáng rỡ. Hãy cảm thấy sự hiện diện của ngài một
cách mạnh mẽ, cảm thấy lòng bi và sự chăm sóc của ngài.
Ngài che chở bạn, giúp đỡ bạn, dẫn dắt bạn. Ngài là
người liên minh mà bạn có thể toàn tâm nương dựa. Ngài
là tinh túy của tịnh quang, mục đích của bạn, sự giác
ngộ. Hãy phát sanh tình thương đối với ngài, và niềm tin
và kính trọng. Ngài là sự chiếu sáng đi đến cùng với
sự chứng ngộ. Tập chú vào ngài và cầu nguyện ngài, hãy
ngủ.
HÀNH
XỬ
Hãy
đến một chỗ yên tĩnh không có ai. Hãy phủ thân thể bạn
với tro. Hãy ăn thức ăn thô nặng để giúp cho việc chế
ngự những vô trật tự của khí. Rồi nhảy nhót một cách
hoang dã vòng quanh, diễn bày trọn hết cái gì ở bên trong,
để văng ra ngoài những kết ngăn hay những cái làm bạn phóng
dật. Không có ai ở chung quanh, thế nên hãy nổ bùng nếu
cần thiết. Hãy để cho lễ thanh tẩy này làm sạch bạn và
làm thư giãn bạn. Hãy vượt khỏi mọi căng thẳng của bạn.
Với nhiệt thành lớn lao hãy cầu nguyện đến đạo sư, yidam,
dakini và chỗ quy y ; hãy cầu nguyện mạnh mẽ, cầu khẩn
kinh nghiệm về tịnh quang. Rồi ngủ trong kinh nghiệm thức
tỉnh này.
CẦU
NGUYỆN
Nếu
bạn không có những kinh nghiệm về tịnh quang của ban ngày,
của thiền định và của giấc ngủ, hãy cầu nguyện trở
đi trở lại cho được những kết quả này. Thật dễ bỏ
quên năng lực đơn giản của ước mong và cầu nguyện. Chúng
ta nghĩ rằng cầu nguyện phải là cái gì phi thường, hướng
đến một quyền năng không thể tin được ở ngoài chúng
ta, nhưng không phải thế. Điểm quan trọng là cảm thấy mạnh
mẽ ý định và mong muốn trong sự cầu nguyện, đặt tấm
lòng chúng ta vào đó.
Có
lẽ lúc ban đầu, khi người ta mong muốn một đêm hay một
buổi sáng khác tốt đẹp, hay ngủ ngon, có một năng lực
nào trong lời nói, một cảm giác nào đó. Bây giờ những
lời ấy chỉ là những câu theo thói quen mà chúng ta thì thầm
một cách máy móc, với ít cảm giác hay ý nghĩa. Những lời
như vậy đã được dùng, được nói bằêng cùng một âm
sắc, nhưng chúng không có năng lực. Hãy cẩn trọng chớ làm
như vậy với sự cầu nguyện. Hãy biết rằng cầu nguyện
là có năng lực nhưng nó không nằm trong lời nói, nó nằm
trong cảm xúc bạn đặt vào lời cầu nguyện. Hãy phát triển
quyết tâm, làm cho nó mạnh mẽ, và đặt nó vào sự cầu
nguyện.
LÀM
TAN BIẾN
Làm
thực tập này có thể cho một cảm thức về sự tập chú
trong thực hành cần phải như thế nào. Sự thực hành bắt
đầøu với ánh sáng và người tri giác ánh sáng, nhưng ý
định là hợp nhất cả hai.
Hãy
thư giãn trọn vẹn. Nhắm mắt lại và bắt đầu với một
quán tưởng chính xác tiglé xanh trắng, khoảng cỡ một ngón
tay cái, trong trung tâm tim. Dần dần để cho nó nở lớn và
khuếch tán hơn. Thấy ánh sáng của tiglé là tốt, nhưng quan
trọng hơn là cảm thấy nó. Hãy để cho ánh sáng chiếu sáng
từ trái tim bạn. Khi ánh sáng xanh đẹp đẽ chiếu soi ra,
nó làm tan biến mọi thứ nó chạm đến. Hãy làm tan biến
căn phòng bạn đang ở, cái nhà, thành phố, quốc gia, vùng
đất. Hãy làm tan biến một phần của thế giới, hệ thống
thái dương hệ, toàn thể vũ trụ. Mỗi điểm tâm thức chạm
đến – hoặc là nơi chốn, con người, sự vật, tư tưởng,
hình ảnh cảm xúc – đều tan biến. Ba cõi dục, sắc và
vô sắc đều tan biến. Khi mọi sự bên ngoài đều tan biến
trong ánh sáng, bấy giờ hãy để ánh sáng đến nơi bạn.
Hãy để cho nó làm tan biến thân thể bạn, thân thể bạn
biến thành ánh sáng xanh và hòa lẫn với ánh sáng xanh ở
chung quanh. Bấy giờ hãy làm tan biến tâm thức bạn – mỗi
tư tưởng, mỗi biến cố tâm thức. Hãy làm tan biến tất
cả những vấn đề trong cuộc sống của bạn. Hãy hòa tan
với ánh sáng. Hãy trở thành ánh sáng. Bây giờ không có trong
hay ngoài, không có bạn hay không phải bạn. Không có cảm
thức về một thế giới có chất thể hay có tự ngã. Chỉ
có quang minh sáng rỡ trong không gian của trái tim, giờ đây
tràn khắp không gian. Kinh nghiệm còn khởi lên, nhưng hãy để
cho bất cứ cái gì khởi lên đều tan biến một cách tự
nhiên trong ánh sáng xanh. Hãy để cho đều này xảy ra không
có cố gắng. Chỉ có ánh sáng. Bấy giờ hãy làm tan biến
dần dần ngay cả ánh sáng vào không gian.
Chính
ở đây mà bạn cần ở lại trong suốt giấc ngủ.
TRIỂN
NỞ VÀ THU RÚT
Đây
là một thực hành tương tự nhưng chính quy hơn để hỗ trợ
yoga giấc ngủ. Hãy quán tưởng hàng ngàn chữ HUNG màu xanh
đi ra từ hai lỗ mũi theo hơi thở ra. Chúng khởi từ tim và
đi lên theo những kinh mạch để rời hai lỗ mũi với hơi
thở. Khi chúng lan tỏa ra tràn khắp không gian và mọi hướng,
chúng làm tan biến mọi thứ chúng gặp. Quang minh của chúng
sáng soi toàn thể không gian. Với hơi thở vào, ánh sáng của
những chữ HUNG trở về lại, chiếu sáng và làm tan biến
thân và tâm, cho đến khi không còn gì là trong hay ngoài. Hãy
làm quán tưởng này cho đến khi chỉ có ánh sáng triển nở
và thu lại của những chữ HUNG. Hãy tan biến vào trong ánh
sáng này, và ở trong trạng thái bất nhị. Hãy làm như vậy
hai mươi mốt hơi thở, hay nhiều hơn nếu bạn có thể. Hãy
thực hành điều này vào ban ngày thường xuyên càng tốt.
Chữ
HUNG Tây Tạng
Tâm
thức luôn luôn lừa dối. Lừa dối chính của nó là tự đồng
hóa như là chủ thể và rồi xem mọi thứ khác là tách lìa
với chủ thể ấy. Trong thực hành này, mọi sự được tri
giác như ở ngoài chúng ta thì được tan biến trong hơi thở
ra. Người tri giác thì tan biến với hơi thở vào. Bất kỳ
lúc nào tâm thức tìm thấy một cánh cổng để trốn thoát
vào phóng dật, hãy để cho tỉnh giác theo sau nó với chữ
HUNG màu xanh. Khi tâm thức đến nơi một đối tượng hãy
làm tan biến đối tượng trong ánh sáng. Khi tâm thức trở
lại và bám trụ vào chính nó như một chủ thể, bấy giờ
hãy làm tan biến chủ thể đó. Cuối cùng, ngay cả cảm thức
về sự cứng chắc cũng tan biến, những cảm thức đây và
kia, những đối tượng và những chủ thể, những sự vật
và những thực thể cũng tan biến.
Thông
thường chúng ta nghĩ rằng thực hành loại này là một giúp
đỡ trong việc làm phát sanh kinh nghiệm tịnh quang, nhưng nó
cũng hữu ích trong việc kéo dài kinh nghiệm một khi kinh nghiệm
đã được biết và trong việc hỗ trợ sự liên tục kéo
dài của kinh nghiệm.
8
Hội Nhập
Một
khi rigpa đã được biết, toàn bộ cuộc sống là để hội
nhập với nó. Đây là chức năng của sự thực hành. Đời
sống cần mang lấy hình thức nào đó ; nếu chúng ta không
tạo hình cho nó, nó sẽ mang lấy một hình thức bị nghiệp
thống trị, điều chúng ta không muốn tí nào. Khi sự thực
hành được hội nhập càng ngày càng nhiều với đời sống,
nhiều thay đổi tích cực sẽ xảy ra.
HỘI
NHẬP CỦA TỊNH QUANG VỚI BA ĐỘC
Tịnh
quang phải được đem vào hội nhập với ba độc gốc rễ
: Vô minh, tham muốn và giận ghét (Tham, sân, si).
Yoga
giấc ngủ được dùng để hội nhập cái đầu tiên, vô minh
với tịnh quang.
Việc
hội nhập tham muốn vào tịnh quang thì tương tự với việc
khám phá tịnh quang trong giấc ngủ. Khi chúng ta mất trong bóng
tối của giấc ngủ, tịnh quang bị che dấu với chúng ta.
Khi chúng ta bị mất trong tham muốn, bản tánh chân thật của
chúng ta cũng bị che ám, nhưng trong khi giấc ngủ của vô minh
che ám hoàn toàn mọi sự, thậm chí cảm thức về tự ngã,
thì tham muốn che ám rigpa trong những hoàn cảnh riêng biệt.
Nó tạo ra một sự phân cách mạnh mẽ giữa chủ thể và
đối tượng của tham muốn. “Cái muốn” tự nó là một
co lại hạn cuộc của ý thức khởi lên từ cảm thức thiếu
thốn, cảm giác này còn mãi chừng nào chúng ta không an trụ
trong bản tánh chân thật của chúng ta. Dù cho tham muốn trong
sạch nhất là mong mỏi cái toàn thể và trọn vẹn chứng
ngộ rigpa, nhưng bởi vì chúng ta không trực tiếp biết bản
tánh của tâm thức, tham muốn trở thành bám dính với những
vật khác.
Nếu
chúng ta trực tiếp quan sát tham muốn hơn là trở nên trụ
bám vào đối tượng của tham muốn, tham muốn tan biến. Và
nếu chúng ta có thể an trụ trong hiện diện thuần túy, thì
tham muốn, chủ thể tham muốn, và đối tượng của tham muốn
tất cả sẽ tan biến vào tinh túy trống không của nó, để
lộ ra tịnh quang.
Chúng
ta cũng có thể dùng sự thỏa mãn tham muốn như là một phương
tiện của thực hành. Có niềm vui trong sự hợp nhất của
tánh không và sự sáng tỏ. Trong ngành tranh tượng Tây Tạng,
điều này được tượng trưng trong những hình ảnh những
hóa thần nam và nữ kết hợp. Những hình thể ấy tượng
trưng sự thống nhất bất nhị của trí huệ và phương tiện,
tánh không và sự sáng tỏ, kunzi và rigpa. Niềm vui của hợp
nhất thì hiện diện trong bất kỳ sự kết hợp làm một
nào của những nhị nguyên hình tướng, kể cả chủ thể
tham muốn và đối tượng được tham muốn. Vào lúc tham muốn
được thỏa mãn, tham muốn dừng dứt và nhị nguyên bề ngoài
giữa chủ thể tham muốn và đối tượng của tham muốn sụp
đổ. Khi cái nhị nguyên này sụp đổ, cái nền tảng, cái
kunzi, thì ở đó, bày lộ, dù cho sức mạnh của thói quen
nghiệp lực của chúng ta luôn luôn mang chúng ta vào một chuyển
động mới của nhị nguyên, để lại một khoảng trống trong
kinh nghiệm của chúng ta, hầu như một vô thức, hơn là một
kinh nghiệm về rigpa.
Thí
dụ, có sự thực hành hợp nhất tính dục giữa đàn ông
và đàn bà. Bình thường kinh nghiệm của chúng ta về đỉnh
cao khoái lạc là một cái gì lờ mờ thích thú, hầu như vô
thức, một cạn kiệt tham muốn và không yên nghỉ xảy đến
qua sự đáp ứng với tham muốn. Nhưng chúng ta có thể hội
nhập cái lạc này với tỉnh giác hơn là bị đánh mất mình,
nếu chúng ta duy trì tỉnh giác đầy đủ mà không phân chia
kinh nghiệm thành một chủ thể quan sát và kinh nghiệm được
quan sát, chúng ta có thể dùng hoàn cảnh để tìm thấy cái
thiêng liêng. Tâm thức động vắng bặt trong một khoảnh khắc
và để lộ ra nền tảng trống không ; hội nhập khoảnh khắc
đó với tỉnh giác, chúng ta có sự hội nhập của tánh không
và lạc, điều được đặc biệt nói đến trong những giáo
lý tantra.
Có
nhiều hoàn cảnh như vậy mà bình thường chúng ta đánh mất
mình và thay vì thế chúng có thể là những khoảnh khắc trong
đó chúng ta tìm thấy bản tánh chân thật của mình. Chúng
ta không chỉ đánh mất mình trong đỉnh cao khoái lạc hay lạc
thú cao độ. Ngay trong những lạc thú nhỏ chúng ta cũng thường
mất sự hiện diện và trở nên bị trói buộc vào những
cảm giác hay những đối tượng của lạc thú. Thay vì thế,
chúng ta có thể tự tu hành để cho chính lạc thú là một
kẻ nhắc nhở đạt đến tỉnh giác trọn vẹn, đem tỉnh
giác vào phút giây hiện tiền, vào thân thể, những giác quan
và buông bỏ phóng dật. Đây là một cách để hội nhập
tham muốn với tịnh quang. Và nó không giới hạn bất kỳ
phạm trù đặc biệt nào của kinh nghiệm ; nó có thể được
làm trong bất kỳ hoàn cảnh nào có chủ thể và đối tượng.
Khi lạc thú được dùng như một cánh cổng đi vào thực hành,
lạc thú không mất đi vô ích ; chúng ta không nhất định
phải là người chống lại lạc thú. Khi chủ thể và đối
tượng tan biến trong tịnh quang, bấy giờ sự hợp nhất của
tánh không và sự sáng tỏ được kinh nghiệm và như thế
là niềm vui.
Sự
tiếp cận với với giận ghét hay ác cảm thì tương tự.
Nếu chúng ta quan sát sân giận hơn là tham dự vào nó hay đồng
hóa với nó hay bị nó dẫn đi, bấy giờ mối ám ảnh nhị
nguyên với đối tượng của sân giận dừng diệt và sân
giận tan biến vào tánh không. Nếu hiện diện được duy trì
trong tánh không này, bấy giờ chủ thể cũng tan biến. Sự
hiện diện trong không gian trống rỗng này chính là tịnh quang.
“Quan
sát trong sự hiện diện thuần túy” không có nghĩa là chúng
ta tồn tại như cái ngã giận dữ quan sát cơn giận, mà chúng
ta là rigpa, không gian trong đó sân giận xảy ra. Khi được
quan sát theo cách này, sân giận tan biến vào tinh túy trống
không. Nơi sân giận tan biến là không gian. Đó là sự trong
sáng, tịnh. Nhưng ở đó còn có tỉnh giác, sự hiện diện.
Đó là ánh sáng, quang. Tánh không và sự hiện diện này được
hội nhập với sân giận bởi vì sân giận không che ám tịnh
quang nữa. Nếu chúng ta quan sát những tư tưởng theo cách
này, và nếu người quan sát và cái được quan sát cả hai
đều biến mất, bây giờ có một kinh nghiệm nào đó về
rigpa.
Đại
Toàn Thiện Dzogchen không phức tạp. Những bản văn Đại Toàn
Thiện thường có những dòng như, “Ta quá đơn giản đến
độ ngươi không thể hiểu ta. Ta quá gần gũi thân thiết
đến độ ngươi không thể thấy ta.” Khi chúng ta nhìn đi
xa, chúng ta mất tỉnh giác về cái vốn gần gũi thân thiết
với chúng ta. Khi chúng ta nhìn đến tương lai, chúng ta mất
hiện tại. Điều này xảy ra trong mọi khía cạnh của kinh
nghiệm.
Người
Tây Tạng có câu nói : “Trí huệ càng hiện diện bao nhiêu,
những tư tưởng càng ít có bấy nhiêu.” Nó gợi ý một
tiến trình hai chiều. Khi thực hành trở nên trong sáng và
vững chắc, những tư tưởng càng ít khống chế kinh nghiệm.
Một số người sợ hãi điều này, sợ rằng nếu họ bỏ
sân giận chẳng hạn, họ sẽ không nói lên được điều
gì là sai lầm trong thế giới, như thể họ cần sân giận
để khởi độâng họ. Nhưng sự cần thiết ấy không thật.
Là những hành giả, quan trọng là có trách nhiệm với cuộc
đời quy ước của chúng ta. Khi những việc xấu xảy đến,
chúng phải được để ý chăm sóc ; khi điều gì là sai lầm,
nó phải được nói lên. Nhưng nếu chúng ta không thấy điều
gì sai, chúng ta không cần tìm kiếm chờ đợi nó. Thay vào
đó, hãy ở trong trạng thái tự nhiên. Nếu chúng ta có sân
giận, chúng ta phải làm việc với nó. Nhưng nếu chúng ta
không có sân giận, chúng ta không bỏ lỡ bất cứ cái gì
quan trọng.
Tôi
đã gặp nhiều người nói mình là những hành giả của Đại
Toàn Thiện, và được hội nhập. Có một câu nói khác của
Tây Tạng : “Khi tôi lên những chỗ cao cả khó khăn nơi vùng
biên giới giữa Tây Tạng và Népal, tôi cầu nguyện Tam Bảo.
Khi tôi xuống thung lũng đẹp đầy hoa, tôi hát những bài
ca.” Dễ dàng nói chúng ta được hội nhập khi sự việc
xảy ra êm xuôi. Nhưng khi một khủng hoảng xúc tình mạnh
mẽ xảy đến, một khảo hạch thật sự ; chúng ta có là
hành giả Đại Toàn Thiện hay không ? Có một sự chính xác
trong thực hành Đại Toàn Thiện. Chúng ta có thể khám phá
cho chính chúng ta mình được hội nhập bao nhiêu với thực
hành chỉ bằng cách chú ý chúng ta phản ứng thế nào với
những hoàn cảnh xảy ra trong đời sống. Khi một người tình
bỏ đi, người mà chúng ta yêu dấu, bấy giờ những lời
nói đẹp đẽ về sự hội nhập đi đâu mất ? Chúng ta kinh
nghiệm khổ đau ; và ngay cả khổ đau này cũng phải được
hội nhập.
HỘI
NHẬP VỚI NHỮNG CHU KỲ THỜI GIAN
Theo
truyền thống, một thực hành được bàn luận theo cái thấy,
thiền định và hành động. Phần này là về hành động ứng
xử. Hành động được diễn tả liên hệ đến những sự
thống nhất bên ngoài, bên trong và bí mật với những thời
kỳ của thời gian.
Thông
thường chúng ta mất năng lực và hiện diện khi chúng ta trải
qua ban ngày. Thay vì thế, phát triển sự thực hành, chúng
ta học cách dùng sự trôi qua của thời gian đưa chúng ta đến
một kinh nghiệm vững chắc hơn về tịnh quang.
Thống
Nhất Bên Ngoài : Hội nhập Tịnh Quang vào chu kỳ của
Ngày và Đêm
Đối
với những mục tiêu của sự thực hành, chu kỳ hai mươi
bốn giờ của ngày và đêm được phân thành những thời
kỳ có thể được dùng như những nâng đỡ hỗ trợ trong
sự liên tục phát triển ở trong tịnh quang của hiện diện
thuần túy. Người thời trước theo những thời khóa biểu
đặt ra theo chu kỳ tự nhiên của ngày và đêm, nhưng điều
này không còn đúng nữa. Nếu thời khóa biểu của bạn khác
đi – chẳng hạn bạn có thể làm việc ban đêm – bấy giờ
hãy làm cho những lời dạy thích ứng với hoàn cảnh bạn.
Dù cho thời gian của ngày ảnh hưởng chúng ta mạnh mẽ, chúng
ta không phải tin rằng vị trí của mặt trời ấn định những
kinh nghiệm mà giáo lý mô tả. Thay vì thế, hãy nghĩ những
thời kỳ ấy của ngày như những ẩn dụ cho những tiến
trình bên trong. Tantra Mẹ đặt tên cho bốn thời kỳ như sau
:
1.
Sự tan biến của những hình tướng vào trong nền tảng
2.
Ý thức đạt đến Niết Bàn
3.
Khởi lên tỉnh giác bổn nhiên nơi ý thức
4.
Quân bình hai chân lý suốt trạng thái thức
1.
Sự tan biến của những hình tướng vào trong nền tảng. Thời
kỳ thứ nhất được xem là thời gian giữa hoàng hôn và lúc
vào giường buổi tối. Trong thời kỳ này, mọi sự hình như
tối dần. Những đối tượng giác quan trở nên không rõ ràng
và kinh nghiệm giác quan thu giảm. Những bộ phận giác quan
bên trong giảm sức mạnh. Tantra Mẹ dùng ẩn dụ nhiều dòng
sông nhỏ chuyển về biển cả : những hiện tượng bên ngoài,
những giác quan, cái ngã quy ước, những tư tưởng, tình cảm
và ý thức chuyển đến sự hòa tan trong giấc ngủ, trong cái
nền tảng.
Bạn
có thể dùng tưởng tượng để kinh nghiệm tiến trình này
trong buổi chiều tối. Hơn là đi về bóng tối, hãy di chuyển
đến ánh sáng lớn lao hơn của bản tánh chân thật của bạn.
Hơn là bị phân tán từng mảnh, trải rộng trong những dòng
sông và phụ lưu của kinh nghiệm, hãy chảy đến cái toàn
thể tính của rigpa. Bình thường chúng ta nối kết với những
dòng sông, chúng là trống rỗng, nhưng sự thực hành là lưu
lại trong sự nối kết với đại dương, cái nền tảng, nó
là tràn đầy. Mọ sự di chuyển về đại dương bao la, yên
bình, rạng rỡ của tịnh quang. Khi đêm đến, hãy chảy về
sự tròn đầy trong tánh giác bất nhị hơn là về phía vô
thức.
Đây
là cái thứ nhất trong bốn thời kỳ.
2.
Ý thức đạt đến niết bàn. Thời kỳ thứ hai bắt đầu
khi bạn rơi vào giấc ngủ và chấm dứt khi bạn tỉnh dậy
vào buổi sáng, theo truyền thống là lúc bình minh. Hãy tưởng
tượng ra thời kỳ này, sự tĩnh lặng của nó. Bản văn nói
rằng khi mọi sự trở nên tối, một ánh sáng khởi lên. Điều
này tương tự với một cuộc nhập thất trong bóng tối, nó
rất tối khi bạn vào nhưng rồi nó sớm tràn đầy ánh sáng.
Hãy
cố gắng ở trong hiện diện suốt giấc ngủ, hoàn toàn hội
nhập với tịnh quang. Sau khi những hình tướng bên ngoài,
tư tưởng, cảm giác tan vào nền tảng, nếu bạn vẫn hiện
diện thì đó rất giống với việc đi vào niết bàn, trong
đó tất cả kinh nghiệm sanh tử dứt bặt. Nó hoàn toàn trống
không, nhưng có an lạc. Khi điều này được thực hiện, nó
là sự hợp nhất của Lạc và Không. Cái ấy là thấy ánh
sáng trong bóng tối.
Không
phải là bạn phải chờ cho đến giấc ngủ để có kinh nghiệm
trong tịnh quang. Hãy cố gắng an lạc trong tịnh quang ngay cả
trước khi vào giấc ngủ, hãy an trụ trong rigpa, nếu có thể.
Đây
là thời kỳ thứ hai, trong đó những giác quan và ý thức
giống như một mạn đà la của bầu trời trong sáng. Hãy tham
thiền trong trạng thái này càng nhiều càng tốt cho đến sáng.
3.
Khởi lên tỉnh giác bổn nhiên nơi ý thức. Thời kỳ thứ
ba bắt đầu khi bạn thức dậy từ giấc ngủ và tiếp tục
cho đến lúc tâm thức hoàn toàn hoạt động. Bản văn nói
rằng thời kỳ này kéo dài từ bình minh đến lúc hết mặt
trời. Hãy tưởng tượng tính chất của thời gian này : những
tia sáng xuất hiện trong bầu trời tối và trải rộng trong
vẻ đẹp đẽ của ngày. Sự thanh tĩnh tràn đầy với những
âm thanh của sự hoạt động, của chim chóc hay xe cộ hay con
người. Bên trong, nó là chuyển động từ sự yên tĩnh của
giấc ngủ đến sự dấn thân trọn vẹn vào đời sống ban
ngày. Những giáo lý đề nghị dậy rất sớm vào buổi sáng.
Nếu có thể, hãy thức dậy trong bản tánh của tâm thức
hơn là trong tâm thức của quy ước. Hãy quan sát mà không
đồng hóa với người quan sát. Điều này có thể dễ dàng
hơn trong những giây phút đầu tiên của tỉnh giác bởi vì
tâm thức ý niệm còn chưa hoàn toàn tỉnh dậy. Hãy phát triển
quyết tâm thức dậy trong hiện diện thuần túy.
4.
Quân bình hai chân lý suốt trạng thái thức. Thời kỳ thứ
tư bắt đầu khi bạn hoàn toàn dấn thân vào ngày và chấm
dứt với hoàng hôn. Đó là ban ngày, thời gian của hoạt động,
bận rộn và liên hệ với người khác. Nói là sự chìm ngập
trọn vẹn trong thế giới, trong hình sắc, ngôn ngữ, cảm
giác... Những giác quan hoàn toàn năng động và bị chiếm
chỗ bởi những đối tượng của chúng. Vẫn thế, bạn cần
cố gắng tiếp tục trong sự hiện diện thuần khiết của
rigpa.
Mất
mình trong kinh nghiệm, bạn bị rối bời bởi thế giới. Nhưng
an trụ trong bản tánh của tâm thức, bạn sẽ thấy không
có vấn đề gì để hỏi hay trả lời. Ở trong hiện diện
bất nhị sâu thẳm sẽ thỏa mãn mọi vấn đề, mọi câu
hỏi. Biết một cái này sẽ cắt tất cả mọi nghi ngờ.
Đây
là thời kỳ thứ tư, trong đó chân lý quy ước và chân lý
tối hậu được quân bình trong sự hợp nhất của sáng tỏ
và tánh không.
Thống
Nhất Bên Trong : Hội nhập Tịnh quang vào chu kỳ giấc
ngủ
Sự
tiến bộ trong phần này tương tự với phần trước. Tuy nhiên
hơn là nhắm đến chu kỳ hai mươi bốn giờ, nó tập chú
vào phát triển sự liên tục của hiện diện suốt chu kỳ
một thời thức và một thời ngủ, dù đó là một giấc chợp
mắt hay toàn thể một đêm. Trước khi đi ngủ, chúng ta phải
nhớ rằng chúng ta có dịp may để thực hành. Đây là cái
gì tích cực, cái gì chúng ta có thể làm cho cả thực hành
và sức khỏe. Nếu sự thực hành được cảm thấy là một
gánh nặng, tốt hơn là không làm nó cho đến khi cảm hứng
và nỗ lực vui vẻ được phát triển.
Lại
vẫn có bốn thời kỳ :
1.
Trước khi ngủ
2.
Sau khi ngủ
3.
Sau khi thức dậy và trước khi hoàn toàn dấn thân vào những
hành động của thế giới
4.
Thời kỳ hoạt động cho đến thời kỳ ngủ kế tiếp
1.
Trước
khi ngủ. Đây là thời gian từ lúc nằm xuống đến khi
giấc ngủ đến. Mọi kinh nghiệm tan biến vào nền tảng ;
những dòng sông chảy vào biển cả.
2.
Sau
khi ngủ. Tantra Mẹ so sánh điều này với pháp thân, tịnh
quang. Thế giới bên ngoài của những giác quan là trống rỗng
tuy nhiên tánh tỉnh giác tồn tại.
3.
Sau
khi thức dậy. Sự sáng tỏ ở đó, tâm thức bám chấp
còn chưa thức dậy. Điều này giống như báo thân toàn hảo,
không chỉ trống không mà còn với toàn thể sự sáng tỏ.
4.
Thời
kỳ hoạt động. Khi tâm thức bám chấp trở lại năng
động, ngay khoảnh khắc ấy tương tự sự biểu lộ của
hóa thân. Những hoạt động, những tư tưởng và thế giới
quy ước “bắt đầu”, tuy nhiên tịnh quang vẫn còn lại.
Thế giới của kinh nghiệm biểu lộ trong rigpa không nhị nguyên.
Thống
Nhất Bí Mật : Hội Nhập Tịnh Quang với Trung Ấm
Sự
thực hành này là hội nhập tịnh quang với trạng thái trung
ấm sau khi chết, bardo. Tiến trình cái chết tương đương
với tiến trình rơi vào giấc ngủ. Ở đây nó được chia
thành bốn giai đoạn tương tự với những giai đoạn của
những phần trước.
1.
Tan biến
2.
Khởi lên
3.
Kinh ngiệm
4.
Hội nhập
1.
Tan
biến. Trong giai đoạn đầu tiên của cái chết, và những
nguyên tố của thân thể bắt đầu tan rã, kinh nghiệm giác
quan tan biến, những năng lực của những nguyên tố bên trong
được giải phóng, những xúc tình ngừng dứt, sinh lực tan
và ý thức tan biến.
2.
Khởi
lên. Đây là trung ấm đầu tiên sau cái chết, trung ấm
thanh tịnh bổn nhiên (kadag). Điều này giống như khoảnh khắc
rơi vào giấc ngủ, bình thường là một thời kỳ vô thức.
Thiền giả thành tựu có thể giải phóng mọi cá tính nhị
nguyên và giải thoát trực tiếp vào tịnh quang ở giai đoạn
này.
3.
Kinh
nghiệm. Trung ấm của kinh nghiệm nhãn quan khởi lên, đó
là trung ấm tịnh quang (od-sal). Điều này tương tự với sự
khởi lên từ cái không có gì của giấc ngủ vào một giấc
mộng, khi ý thức được biểu lộ trong nhiều hình sắc. Hầu
hết người ta sẽ đồng hóa với một phần của kinh nghiệm,
thiết lập ra một bản ngã nhị nguyên, và phản ứng một
cách nhị nguyên với những đối tượng bề ngoài của ý
thức, như trong một giấc mộng sanh tử. Trong trung ấm này,
cũng thế, thiền giả đã chuẩn bị và thành tựu có thể
đạt giải thoát.
4.
Hội
nhập. Tiếp theo là trung ấm của đời sống (si-pé-bar-do).
Hành giả đã chuẩn bị hợp nhất thực tại quy ước với
rigpa bất nhị. Đây là sự làm quân bình hai chân lý, quy ước
và tuyệt đối. Nếu khả năng này chưa được triển khai,
cá nhân sẽ đồng hóa với cái ngã quy ước mê lầm và liên
hệ một cách nhị nguyên với những phóng chiếu của tâm
thức, điều này tạo ra kinh nghiệm nhãn quan. Tái sanh trong
một cõi của sáu cõi luân hồi là kết quả.
Bốn
thời kỳ này là những giai đoạn trong tiến trình chết. Chúng
ta phải tỉnh thức trong đó để nối kết với tịnh quang.
Khi cái chết đến, nếu có thể, chúng ta an trụ trong rigpa
trước khi kinh nghiệm thuộc cảm giác bắt đầu tan biến.
Chớ có đợi cho đến khi vào trung ấm. Chẳng hạn khi sự
nghe đã đi rồi nhưng sự nhìn thấy vẫn còn, đó là một
tín hiệu của sự hiện diện trọn vẹn thay vì bị phóng
dật bởi những giác quan khác. Trọn vẹn buông thả vào rigpa
; đó là sự chuẩn bị tốt nhất cho điều đang xảy ra.
Mọi
thực hành giấc mộng và giấc ngủ, trên một mức độ, là
những chuẩn bị cho cái chết. Cái chết là một ngã tư đường
: mọi người đều phải đến đó và người thì đi đường
này, người thì đi đường khác. Điều xảy ra tùy thuộc
vào sự vững chắc của thực hành, vào việc người ta có
khả năng an trụ trọn vẹn trong rigpa hay không. Thậm chí trong
một cái chết bất ngờ như tai nạn xe cộ, luôn luôn có một
khoảnh khắc để nhận biết cái chết đang đến, dù cho rất
khó làm điều này. Ngay khi vừa có sự nhận biết này, người
ta phải cố gắng hòa nhập với bản tánh của tâm thức.
Nhiều
người có những kinh nghiệm cận tử. Họ nói rằng sau đó
sự sợ chết đi mất. Điều này bởi vì họ đã sống cái
khoảnh khắc ấy, họ biết nó. Khi chúng ta nghĩ về khoảnh
khắc của cái chết, chúng ta không sống thực tại mà chỉ
sống trong một tưởng tượng về nó, cái này chứa nhiều
sợ hãi hơn là khoảnh khắc hiện thực. Khi nỗi sợ không
còn, việc hội nhập với thực hành trở nên dễ hơn.
Ba
Sự Thống Nhất : Kết Luận
Cả
ba hoàn cảnh này – chu kỳ hai mươi bốn giờ trong ngày, chu
kỳ ngủ và thức, và tiến trình cái chết – theo một trình
tự giống nhau. Trước hết là sự tan biến ; rồi pháp thân,
tánh không ; rồi báo thân, sự sáng tỏ ; rồi hóa thân, sự
biểu lộ. Nguyên lý là luôn luôn ở lại trong sự hiện diện
bất nhị. Sự phân chia những tiến trình – như trong yoga
giấc mộng và yoga giấc ngủ – chỉ để cho dễ dàng hơn
việc đem tỉnh giác của chúng ta vào những khoảnh khắc đang
trôi qua, cho chúng ta cái gì để nhìn về phía trước, để
tập cho chúng ta sử dụng những kinh nghiệm không thể tránh
được như là một hỗ trợ cho thực hành về hiện diện
thuần túy.
Hành
động xử sự liên hệ đến tiến trình bên ngoài của thời
gian. Không hề có sự ngắt quãng với trạng thái tự nhiên
của tâm thức trừ phi chúng ta ngắt quãng cách hở với nó.
Để nối kết mọi kinh nghiệm với thực hành, hãy tỉnh thức.
Dĩ nhiên, hoàn cảnh phụ có thể ích lợi cho thực hành ;
đó là tại sao thời gian được đưa vào như những hoàn cảnh
thứ yếu. Buổi sáng sớm là có ích, hay cái ngày sau khi không
ngủ, hay khi chúng ta kiệt sức, hay khi chúng ta hoàn toàn ở
yên. Có nhiều phút giây dẫn đến sự hội nhập, như là
phút giây thoát bỏ khi chúng ta thực sự cảm thấy cần vào
nhà vệ sinh và đi ra, hay kinh nghiệm đỉnh cao tình dục, hay
khi chúng ta hoàn toàn kiệt sức do mang vác vật nặng và để
nó xuống nghỉ. Ngay cả mỗi hơi thở ra là cả một chỗ
nương dựa cho kinh nghiệm về rigpa, nếu làm với tỉnh giác.
Có nhiều giây phút chúng ta kiệt sức vài phần và thức tỉnh
vài phần. Chúng ta phải đem mình đến cái thường hằng tỉnh
thức ; rồi chúng ta có thể đánh thức dậy cái gì đang kiệt
sức và đang ngủ. Khi chúng ta đồng hóa với cái mệt mỏi
lớn dần và rơi vào giấc ngủ, sự tỉnh thức bị che ám.
Nhưng những đám mây không bao giờ thực sự che ám ánh sáng
mặt trời, chỉ có người đang tri giác mặt trời tự che
ám.
9
Sự Tương Tục
Bởi
vì chúng ta quen đồng hóa với những tạo tác của tâm thức,
chúng ta không tìm thấy tịnh quang trong giấc ngủ. Cũng do
cùng lý do, cuộc đời khi thức của chúng ta là phóng dật,
mộng tưởng và không sáng tỏ. Thay vì kinh nghiệm rigpa bổn
nhiên bất nhị, chúng ta bị bắt nhốt trong những kinh nghiệm
của điên đảo mộng tưởng và những phóng chiếu triền
miên của tâm ý.
Tuy
nhiên tỉnh giác là tương tục. Ngay cả khi ngủ, nếu có ai
gọi nhỏ tên chúng ta, chúng ta nghe và trả lời. Và ban ngày,
thậm chí khi phóng dật nhất, chúng ta vẫn tỉnh biết môi
trường chung quanh ; chúng ta không rơi vào vô cảm hay đi vào
những bức tường. Trong nghĩa này, luôn luôn có sự hiện
diện, nhưng tỉnh giác, dù không hề mất, thì bị che mù,
chướng ám. Ban đêm, xuyên thủng những che ám của vô minh,
chúng ta đi vào an trụ trong tịnh quang sáng rỡ. Và nếu vào
ban ngày, chúng ta xuyên thủng những mê lầm và những mộng
tưởng mù mờ của tâm thức động, chúng ta tìm thấy cùng
một cái tỉnh giác thuần khiết nền tảng của Phật tánh.
Sự phóng dật của đời sống ban ngày và sự vô thức của
giấc ngủ là hai mặt của cùng một vô minh.
Những
giới hạn duy nhất đối với thực hành là những cái chúng
ta tạo ra. Tốt nhất là không ngăn chia sự thực hành thành
những thời kỳ thiền định, mộng, ngủ v.v... Rốt ráo chúng
ta phải an trụ trong tánh giác rigpa một cách trọn vẹn trong
mọi khoảnh khắc, thức và ngủ. Cho đến khi đó, sự thực
hành cần được áp dụng trong mỗi khoảnh khắc. Không phải
chúng ta phải làm hết mọi thực hành chúng ta đã học. Hãy
thí nghiệm với những thực hành, hãy cố gắng hiểu tinh
túy và phương pháp của chúng là gì, rồi khám phá những
thực hành nào thực sự làm tăng trưởng tiến bộ và làm
chúng cho đến khi sự vững chắc trong rigpa đạt được. Những
bộ phận cấu thành sự thực hành là tạm thời. Tư thế
của thân thể, những chuẩn bị, những quán tưởng, ngay cả
chính giấc ngủ, đều không quan trọng một khi người ta trực
tiếp biết và an trụ trong tịnh quang. Kinh nghiệm về tịnh
quang đạt được qua những phần mẫu của sự thực hành,
nhưng một khi đạt được tịnh quang chúng không cần thiết
nữa. Chỉ có tịnh quang, tịnh quang duy nhất.