PHẦN
BA:
SỰ
THỰC HÀNH YOGA GIẤC MỘNG
1
Cái Nhìn Thấy, Hành Động,
Giấc
Mộng, cái Chết
Tantra
Mẹ nói rằng nếu người ta không tỉnh thức trong cái nhìn
thấy, không chắc chắn người ta sẽ tỉnh thức trong hành
xử. Nếu người ta không tỉnh thức trong hành xử, không chắc
chắn người ta tỉnh thức trong giấc mộng. Và nếu người
ta không tỉnh thức trong giấc mộng, bấy giờ người ta không
chắc chắn tỉnh thức trong trung ấm sau khi chết.
Điều
này có nghĩa là gì ? “Cái nhìn thấy” trong bối cảnh này
không chỉ có nghĩa là những hiện tượng thuộc thị giác,
mà hơn nữa, toàn thể kinh nghiệm. Nó bao gồm mọi tri giác,
cảm giác và biến cố tâm trí và tình cảm, cũng như mọi
thứ có vẻ như ở ngoài chúng ta. Cái nhìn thấy là cái chúng
ta “thấy” như kinh nghiệm ; nó là kinh nghiệm của chúng
ta. Không tỉnh thức trong cái thấy nghĩa là không thể thấy
chân lý của cái khởi lên trong kinh nghiệm và thay vì thế,
bị mê lầm bởi những hiểu sai của tâm thức nhị nguyên,
sai lầm với những phóng chiếu và tưởng tượng của tâm
thức ấy đối với thực tại.
Khi
chúng ta không tỉnh giác về hoàn cảnh thực chúng ta đang
hiện hữu, thật khó đáp ứng một cách khéo léo thiện xảo
với cái chúng ta gặp gỡ trong đời sống cả trong lẫn ngoài.
Thay vào đó, chúng ta phản ứng theo thói quen nghiệp lực của
bám lấy và ghét bỏ, bị dẫn dắt theo cách này bởi những
bất hạnh và hy vọng hão huyền. Hành động căn cứ trên
những mê lầm này nghĩa là không tỉnh giác trong hành xử.
Kết quả của hành động như vậy là sự củng cố thêm tham,
sân, si và tạo thêm những dấu vết nghiệp xấu.
Những
giấc mộng khởi từ cùng những dấu vết nghiệp ấy cai quản
những kinh nghiệm khi thức của chúng ta. Nếu chúng ta cũng
phóng dật để thâm nhập vào những tưởng tượng và vọng
tưởng của tâm thức vọng động lúc ban ngày, chúng ta sẽ
hầu như bị trói buộc bởi cùng những giới hạn trong khi
mộng. Đây là “không tỉnh thức trong giấc mộng”. Những
hiện tượng mộng chúng ta gặp sẽ gọi dậy trong chúng ta
cùng những phiền não và phản ứng nhị nguyên mà chúng ta
đã bị chìm đắm vào khi thức, và khó khăn để khai triển
sự sáng sủa hay đi vào những thực hành xa hơn.
Chúng
ta đi vào bardo, trung ấm sau cái chết, đúng như chúng ta đi
vào giấc mộng sau khi rơi vào giấc ngủ. Nếu kinh nghiệm
giấc mộng của chúng ta thiếu sự sáng tỏ và thuộc những
trạng thái phiền não mê mờ và phản ứng thói quen, chúng
ta sẽ kinh nghiệm tiến trình cái chết theo cùng cách đó.
Chúng ta sẽ bị dẫn dắt vào sự trói buộc thuộc nghiệp
lực hơn nữa bằng cách phản ứng một cách nhị nguyên với
những cái nhìn thấy trong trạng thái trung ấm, và sự tái
sanh tương lai của chúng ta sẽ được xác định bởi những
khuynh hướng nghiệp nào chúng ta đã từng trau dồi trong cuộc
sống. Đây là “không tỉnh giác trong trung ấm.”
Ngược
lại, khi chúng ta tiếp tục đem sự tỉnh giác vào lúc trung
gian, khả năng này sẽ sớm được tìm thấy trong giấc mộng.
Khi chúng ta trau dồi sự hiện diện trong giấc mộng, chúng
ta tự chuẩn bị cho cái chết. Sự thực hành giấc mộng có
tương quan với sự tiến bộ này.
Để
tiến bộ chúng ta phải khai triển một sự an định nào đó
trong tâm thức để chúng ta có thể giữ gìn tỉnh giác lớn
lơn trong kinh nghiệm, trong “cái nhìn thấy” và khai triển
khả năng đáp ứng khéo léo thiện xảo. Bởi thế sự thực
hành đầu tiên là an định (samatha), trong đó tâm thức được
huấn luyện cho tĩnh lặng, tập chú và lanh lợi cảnh giác.
Khi
chúng ta đem sự tỉnh giác lớn hơn vào kinh nghiệm, chúng
ta có thể chiến thắng những thói quen phản ứng đặt nền
trên những vọng tưởng của tâm thức quy ước. Bốn sự
thực hành căn bản làm cho tính linh hoạt mềm dẻo này tiến
xa hơn bằng cách tu tập tâm thức sử dụng bất kỳ đối
tượng nào trong kinh nghiệm khi thức như là một nguyên nhân
để tăng thêm sáng tỏ và hiện diện. Vì chúng ta nới lỏng
sự trói buộc của phản ứng theo nghiệp, chúng ta có thể
chọn lựa hành động một cách tích cực, tốt đẹp. Điều
này là sự đem tỉnh giác vào trong hành xử.
Sự
tỉnh giác chúng ta đã làm vững chắc trong kinh nghiệm khi
thức và làm cho biểu lộ trong những hành xử của chúng ta
sẽ tự nhiên bắt đầu khởi sanh trong giấc mộng. Những
thực hành ban đầu dùng sự hiểu biết về khí, những luân
xa và tâm thức để hỗ trợ cho sự làm vững mạnh sự tỉnh
giác trong giấc mộng. Chúng được làm trước khi rơi vào
giấc mộng và trong ba thời thức trải qua đêm. Một khi sự
sáng tỏ đã được khai triển, có những thực hành nữa trong
suốt chính giấc mộng để khai triển tính linh hoạt của
tâm thức, để bẻ gãy những giới hạn và hiểu sai chúng
cột trói chúng ta vào sanh tử.
Cũng
như sự sáng tỏ và hiện diện đã trau dồi trong đời sống,
khi thức được đem vào trong giấc mộng, sự sáng tỏ và
hiện diện đã trau dồi trong giấc mộng được đem vào trong
cái chết. Nếu người ta hoàn thành đầy đủ yoga giấc mộng,
thì người ta được chuẩn bị để đi vào trạng thái trung
ấm sau khi chết với tri kiến đúng đắn và sự vững chắc
trong sự hiện diện bất nhị cần thiết để đạt đến
giải thoát.
Đây
là chuỗi liên hoàn : cái tỉnh giác trong khoảnh khắc đầu
của kinh nghiệm, trong sự đáp ứng, trong giấc mộng và rồi
trong cái chết. Người ta không thể bắt đầu ở chỗ chấm
dứt. Bạn có thể xác định cho chính bạn sự thực hành
của bạn trưởng thành được bao nhiêu : khi bạn gặp gỡ
những hiện tượng của kinh nghiệm, hãy xem xét những cảm
giác của bạn và những phản ứng với những cảm giác. Bạn
bị những phản ứng của bạn với những đối tượng của
kinh nghiệm điều khiển hay bạn điều khiển những phản
ứng của bạn đối với chúng ? Bạn có bị ném vào những
phản ứng phiền não do những thích và ghét của bạn hay bạn
có thể ở trong sự hiện diện kiên cố trong những tình huống
khác nhau ? Nếu là cái trước, sự thực hành sẽ trau dồi
sự hiện diện cần để giải thoát bạn khỏi sự bị điều
kiện hóa và hoạt động nghiệp lực. Nếu là cái sau, bạn
sẽ khai triển tăng cường sự vững chắc trong tánh giác và
những giấc mộng của bạn sẽ thay đổi theo những cách phi
thường.
2
An định : Samatha
Một
thiền giả giấc mộng thành công phải vững vàng đủ trong
hiện diện để không bị cuốn theo những gió của phiền
não nghiệp lực và chìm mất trong giấc mộng. Khi tâm thức
an vững, những giấc mộng trở nên dài hơn, ít manh mún hơn
và dễ dàng nhớ lại hơn, và sự sáng sủa được phát triển.
Đời sống lúc thức cũng được nâng cấp vì chúng ta thấy
rằng chúng ta được bảo vệ thêm khỏi bị trôi dạt bởi
những phản ứng xúc tình thói quen, chúng kéo chúng ta vào
phóng dật và bất hạnh, và thay vào đó chúng ta có thể phát
triển những nét tích cực đưa đến hạnh phúc và nâng đỡ
chúng ta trên hành trình tâm linh.
Mọi
kỷ luật thiền và tâm linh đều bao gồm một số hình thức
thực hành nhằm khai triển sự tập trung và bình lặng của
tâm thức. Trong truyền thống Tây Tạng, sự thực hành này
được gọi là an định (Skt : samatha, TT : Zhiné). Chúng ta biết
ba giai đoạn trong sự khai triển sự vững chắc : samatha cưỡng
bách, samatha tự nhiên và samatha tối hậu. Samatha bắt đầu
với sự định tâm vào một đối tượng, và khi tập trung
đã đủ mạnh, chuyển thành sự định tâm không có một đối
tượng nào.
Hãy
bắt đầu sự thực hành bằng cách ngồi theo tư thế thiền
định năm điểm : hai chân xếp lại, hai tay đặt lên nhau
ở phần trên, xương sống thẳng nhưng không cứng ngắc, đầu
hơi cúi để làm thẳng cổ, và hai mắt mở. Mắt cần buông
xả, không quá mở lớn và không quá khép kín. Đối tượng
tập trung cần được đặt để cho mắt có thể nhìn thẳng
về phía trước, không ngước lên cũng không cúi xuống. Trong
khi thực hành cố gắng không cử động, thậm chí không nuốt
nước miếng hay chớp mắt, vẫn giữ tâm thức gom vào đối
tượng. Dù cho nước mắt có chảy trên mặt bạn, chớ cử
động. Hãy để cho hơi thở tự nhiên.
Tổng
quát, để thực hành với một đối tượng, chúng ta dùng
chữ A của Tây Tạng như là đối tượng tập trung. Chữ này
có nhiều ý nghĩa tượng trưng nhưng ở đây chỉ được dùng
như một điểm tựa cho sự phát triển chú tâm. Những đối
tượng khác cũng có thể được dùng – chữ A của vần tiếng
Anh, một hình ảnh, âm thanh của một thần chú, hơi thở –
hầu hết mọi thứ. Tuy nhiên, tốt hơn là dùng cái gì có
tính chất thiêng liêng để gây cảm ứng nơi bạn. Cũng thế,
hãy cố gắng dùng cùng một đối tượng mỗi khi bạn thực
hành, hơn là thay đổi nhiều đối tượng, bởi vì sự liên
tục tác động như một điểm tựa cho thực hành. Một đối
tượng vật chất ngoài thân thể cũng thích hợp hơn, vì mục
tiêu phát triển sự vững chắc trong khi tri giác đối tượng
bên ngoài và sau đó là những đối tượng trong giấc mộng.
Nếu
bạn muốn dùng chữ A Tây Tạng, bạn có thể viết nó lên
một miếng giấy khoảng một inch (25,4 mm). Theo truyền thống,
chữ màu trắng và được bao trong năm vòng tròn có màu đồng
tâm : vòng trung tâm là nền cho chữ A có màu chàm ; xung quanh
nó là vòng màu xanh, rồi lục, đỏ, vàng và trắng. Dán miếng
giấy lên một cây gậy dài đủ để nâng đỡ miếng giấy
ở tầm con mắt khi bạn ngồi thực hành, và làm một cái
đế giữ cho cột đứng thẳng. Đặt nó để cho chữ A cách
bạn một foot (30,48 cm) rưỡi trước mặt bạn.
Chữ
A Tây Tạng
Nhiều
dấu hiệu tiến bộ có thể khởi ra trong sự thực hành. Khi
sự tập trung mạnh lên và những thời thực hành kéo dài
ra, những cảm giác lạ lùng khởi lên trong thân thể và nhiều
hình tướng lạ lùng thuộc về cái thấy xuất hiện. Bạn
cũng có thể thấy tâm thức làm những việc lạ lùng ! Thế
là tốt. Những kinh nghiệm này là một phần tự nhiên của
việc phát triển tập trung ; chúng khởi lên vì tâm thức ổn
định, thế nên chớ bị nhiễu loạn hay kích động vì chúng.
SAMATHA
CƯỠNG BÁCH
Giai
đoạn đầu của thực hành được gọi là “cưỡng bách”
và nó đòi hỏi cố gắng. Tâm thức phóng dật nhanh chóng
và dễ dàng, và có vẻ không thể tập chú vào đối tượng
dù chỉ một phút. Lúc bắt đầu, nên thực hành trong nhiều
thời ngắn tiếp nhau với những khoảng nghỉ. Chớ để tâm
thức lang thang khi nghỉ, thay vì vậy, hãy tụng chú, hay làm
việc với quán tưởng, hay làm việc với thực hành khác bạn
biết, như khai triển lòng bi. Sau khoảng nghỉ, trở lại thực
hành định tâm. Nếu bạn sẵn sàng thực hành nhưng không
có đối tượng nào để dùng, hãy quán tưởng một khối
ánh sáng tròn trên đầu bạn và tập trung vào đó. Sự thực
hành cần được làm một hay hai lần mỗi ngày, và có thể
làm nhiều hơn nếu bạn có thời giờ. Phát triển tập trung
giống như tập cho bắp thịt của thân được mạnh mẽ :
sự tập luyện phải đều đặn và thường xuyên. Trở nên
mạnh mẽ hơn tức là đẩy lùi những giới hạn của bạn.
Hãy
giữ tâm thức trên đối tượng. Không cho phép những tư tưởng
về quá khứ hay tương lai. Chớ cho phép sự chú ý bị đem
đi xa bởi tưởng tượng, âm thanh, cảm giác thân thể hay
phóng dật nào khác. Chỉ ở yên trong sự hưởng thụ phút
giây hiện tại, và với toàn bộ sức mạnh và sáng tỏ hãy
chú tâm vào đối tượng bằng con mắt. Chớ mất sự tỉnh
giác về đối tượng dù chỉ một giây. Thở nhẹ nhàng, rồi
nhẹ nhàng hơn nữa, cho đến khi cảm giác thở biến mất.
Từ từ cho phép chính bạn đi sâu hơn vào sự tĩnh lặng và
bình an. Hãy chắc chắn rằng thân thể được thư giãn ; chớ
căng thẳng trong tập trung. Chớ nên để cho bạn rơi vào mê
muội, hôn trầm hay xuất thần.
Chớ
nghĩ về đối tượng, chỉ để nó hiện diện trong tỉnh
giác. Đây là một phân biệt quan trọng cần làm. Nghĩ về
đối tượng không phải là loại tập trung chúng ta đang khai
triển. Điểm cốt yếu là chỉ giữ tâm thức đặt lên đối
tượng, trên tri giác cảm giác về đối tượng, tỉnh thức
không phóng dật về sự hiện diện của đối tượng. Khi
tâm thức phóng dật – điều này thường xảy ra lúc đầu
– hãy nhẹ nhàng đem nó lại đối tượng.
SAMATHA
TỰ NHIÊN
Khi
sự vững chắc ổn định được phát triển, người ta đi
vào giai đoạn thứ hai của thực hành : samatha tự nhiên. Trong
giai đoạn đầu, tập trung được phát triển bằng cách liên
tục hướng sự chú ý vào đối tượng và phát triển sự
kiểm soát trên tâm thức ương ngạnh. Trong giai đoạn thứ
hai, tâm thức chìm trong thiền quán về đối tượng và không
cần sức mạnh nữa để duy trì cho nó yên tĩnh. Một sự
thanh tĩnh thư giãn và thích thú được an lập, trong đó tâm
thức tĩnh lặng và những tư tưởng khởi sanh mà không làm
tâm thức lơ là khỏi đối tượng. Những nguyên tố của
thân thể (các đại) trở nên hài hòa và khí di chuyển trơn
tru và nhẹ nhàng suốt khắp thân thể. Đây là thời gian thích
hợp để đi vào sự an trụ không có một đối tượng.
Bỏ
qua đối tượng vật chất, chỉ chú tâm vào không gian bao
la, như bầu trời, nhưng sự thực hành có thể được làm
thậm chí trong một căn phòng nhỏ bằng cách an trụ vào khoảng
không gian giữa thân thể bạn và vách tường. Hãy kiên cố
và bình an. Hãy để thân thể thư giãn. Hơn là tập chú vào
một điểm tưởng tượng trong không gian, hãy cho phép tâm
thức, trong khi ở yên trong sự hiện diện mạnh mẽ, được
phân tán. Chúng ta gọi điều này là “làm tan biến tâm thức”
trong không gian, hay “hòa lẫn tâm thức với không gian”.
Nó sẽ dẫn đến sự thanh tĩnh vững chắc và đến giai đoạn
thứ ba của sự thực hành samatha.
SAMATHA
TỐI HẬU
Trong
giai đoạn thứ hai, vẫn còn một số sức nặng được đưa
vào trong sự trầm tư vào đối tượng, còn giai đoạn thứ
ba có đặc trưng là một tâm thức thanh tĩnh mà nhẹ nhàng,
thư giãn và linh hoạt. Những tư tưởng khởi lên và tan biến
một cách tự nhiên và không cố gắng. Tâm thức hòa nhập
trọn vẹn với chuyển động của chính nó.
Trong
truyền thống Đại Toàn Thiện Dzogchen, đây là khi vị thầy
đưa đệ tử vào trạng thái tự nhiên của tâm. Bởi vì học
trò đã phát triển samatha, vị thầy có thể chỉ ra cái mà
đệ tử kinh nghiệm hơn là diễn tả một trạng thái mới
là nào cần đạt đến. Sự giải thích, được biết như
là giáo huấn “chỉ thẳng ra” có nghĩa là dẫn dắt đệ
tử đến chỗ nhận biết cái đã vốn sẵn ở đó, đến
chỗ phân biệt tâm thức chuyển động trong tư tưởng và
ý niệm với bản tánh của tâm thức, nó chính là tánh giác
thanh tịnh và bất nhị. Đây là giai đoạn tối hậu của
thực hành samatha, an trụ trong sự hiện diện bất nhị, trong
chính tánh giác rigpa.
NHỮNG
CHƯỚNG NGẠI
Trong
phát triển thực hành samatha, có ba chướng ngại phải vượt
qua : dao động (trạo cử), hôn trầm và giải đãi.
Dao
động
Dao
động làm cho tâm thức không ngừng nhảy từ một tư tưởng
này qua một tư tưởng khác và khiến sự tập trung thành khó
khăn. Để ngăn ngừa điều này, hãy tự làm bình lặng trước
thời thực hành bằng cách tránh quá nhiều hoạt động thể
xác hoặc tinh thần. Những duỗi ra chậm chạp có thể giúp
cho thư giãn thân thể và làm bình yên tâm thức. Một khi bạn
ngồi, hãy hít vào vài hơi thở chậm và sâu. Hãy làm cho chuyện
đó thành một thực hành chú tâm tức thời khi bạn bắt đầu
sự thực hành hầu tránh phát triển thói quen để tâm thức
lang thang khi ngồi thiền.
Hôn
trầm
Chướng
ngại thứ hai là hôn trầm hay buồn ngủ, nó vào tâm thức
như đám sương mù, một sức nặng hay mê muội làm cùn nhụt
tỉnh giác. Khi điều này xảy ra, hãy cố gắng làm mạnh sự
chú tâm trên đối tượng để thâm nhập cơn hôn trầm. Bạn
sẽ thấy rằng hôn trầm thực sự là một loại chuyển động
của tâm thức mà bạn có thể dừng dứt bằng tập trung mạnh
mẽ. Nếu không hiệu quả, hãy nghỉ một lát, thư giãn và
có thể làm một thực hành nào đó khi đang đứng.
Giải
đãi
Chướng
ngại thứ ba là giải đãi, lười biếng. Khi gặp phải chướng
ngại này bạn cảm thấy rằng tâm thức bạn bình lặng nhưng
trong một trạng thái tinh thần thụ dộng, yếu ớt, sự tập
trung không có sức mạnh. Quan trọng là phải nhận biết trạng
thái này thực sự là gì. Nó có thể là một kinh nghiệm thích
thú và thư giãn, và nếu bị lầm cho là thiền định đúng,
nó khiến cho hành giả tiêu phí hàng năm để trau dồi nó
một cách sai lầm, để rồi không có sự thay đổi nào đáng
kể trong tâm thức. Nếu sự chú tâm của bạn mất sức mạnh
và sự thực hành của bạn trở nên giải đãi, hãy chấn
chỉnh tư thế và đánh thức tâm thức bạn. Củng cố lại
sự chú ý và canh chừng sự vững chắc của sự hiện diện.
Hãy nhìn thực hành như là cái gì thực sự quý báu, và như
là cái gì chắc chắn sẽ dẫn đến chứng ngộ cao nhất.
Hãy làm mạnh ý định và tự động sự thức tỉnh của tâm
thức sẽ được làm cho mạnh mẽ một cách tự động.
Thực
hành samatha cần làm mỗi ngày cho đến khi tâm thức bình lặng
và vững chắc. Nó không chỉ là một thực hành sơ bộ, mà
còn ích lợi vào bất kỳ thời điểm nào của cuộc đời
hành giả ; ngay cả những thiền giả rất cao cấp cũng thực
hành samatha. Sự vững chắc của tâm thức được phát triển
qua samatha là nền tảng của yoga giấc mộng và tất cả những
thực hành thiền định khác. Một khi chúng ta đã thành tựu
một sự vững vàng, ổn cố mạnh mẽ và xác thực trong sự
hiện diện bình an, chúng ta có thể phát triển sự ổn cố
này trong mọi mặt của đời sống. Khi vững chắc, sự hiện
diện này luôn luôn có thể được tìm thấy, và chúng ta không
bị những tư tưởng và những phiền não lôi đi xa. Bấy giờ,
dù cho những dấu vết của nghiệp tiếp tục tạo ra những
hình ảnh giấc mộng sau khi rơi vào giấc ngủ, chúng ta vẫn
ở trong tỉnh giác. Điều này mở cánh cửa cho những thực
hành xa hơn của cả yoga giấc mộng và yoga giấc ngủ.
3
Bốn Thực Hành Căn Bản
Có
bốn thực hành căn bản chính yếu trong yoga giấc mộng. Dầu
chúng được gọi theo truyền thống là Bốn Chuẩn Bị, điều
này không có nghĩa là chúng kém quan trọng và phải được
tiếp theo bởi những thực hành “thật sự”. Chúng chuẩn
bị trong cái nghĩa chúng là những nền tảng mà thành công
trong sự thực hành ban đầu phải nương tựa vào.
Yoga
giấc mộng được nuôi dưỡng theo cách thức tâm thức được
sử dụng trong đời sống lúc thức, và đây là điều bốn
thực hành căn bản nhắm đến. Tâm thức được sử dụng
như thế nào sẽ xác định những loại giấc mộng nào khởi
sanh trong giấc ngủ cũng như phẩm tính của đời sống lúc
thức. Hãy thay đổi cách thức bạn liên hệ với những đối
tượng sự vật và con người lúc thức và bạn sẽ thay đổi
kinh nghiệm giấc mộng. Rốt cuộc, “con người bạn” sống
giấc mộng của đời sống lúc thức cũng là cùng một “con
người bạn” sống giấc mộng của đời sống lúc ngủ.
Nếu bạn tiêu phí suốt ngày trong sự bị đứt đoạn và
bị cầm giữ bởi những tạo tác của tâm thức ý niệm,
bạn cũng làm đúng y như vậy trong giấc mộng. Và nếu bạn
nhiều hiện diện hơn khi thức, bạn cũng sẽ tìm thấy hiện
diện đó trong mộng.
MỘT
: THAY ĐỔI NHỮNG DẤU VẾT NGHIỆP
Một
giải thích của sự thực hành thứ nhất được biết đến
nhiều hơn ở Tây phương, bởi vì những nhà nghiên cứu giấc
mộng và những người quan tâm đến giấc mộng đã thấy
ra rằng nó giúp đỡ cho việc phát sanh giấc mộng sáng sủa
minh bạch. Nó như sau : suốt ngày, hãy thực hành sự nhận
biết tánh chất như mộng của đời sống cho đến khi cùng
sự nhận biết đó bắt đầu biểu lộ trong giấc mộng.
Vừa
thức dậy buổi sáng, bạn hãy tự nghĩ, “Tôi đang thức
dậy trong một giấc mộng”. Khi bạn vào nhà bếp, hãy nhận
biết nó là một nhà bếp trong mộng. Hãy đổ sữa mộng vào
cà phê mộng. “Tất cả là một giấc mộng”, bạn tự nghĩ,
“đây là một giấc mộng”. Hãy nhắc nhở bạn về điều
này suốt ngày.
Sự
nhấn mạnh cần hiện thực trên chính bạn, hơn là trên những
đối tượng mà bạn kinh nghiệm. Hãy giữ sự nhắc nhở chính
bạn rằng bạn đang mộng ra những kinh nghiệm của bạn :
cơn tức giận bạn cảm nghiệm, hạnh phúc, mệt mỏi, lo âu
– tất cả đều là phần của giấc mộng. Cây sồi bạn
thích, xe hơi bạn lái, người mà bạn đang nói chuyện với
họ, tất cả là thành phần của giấc mộng. Theo cách này,
một khuynh hướng mới được tạo ra trong tâm thức, khuynh
hướng nhìn vào kinh nghiệm như là không có bản chất, vô
thường và liên hệ mật thiết với những phóng chiếu của
tâm thức. Vì những hình tướng được thấy là vụt thoát
qua và không bản chất, sự bám chấp giảm đi. Mỗi một cảm
giác gặp được và biến cố tâm thức trở thành một sự
nhắc nhở bản chất như mộng của kinh nghiệm. Cuối cùng
cái hiểu này sẽ sanh ra trong giấc mộng và đưa đến sự
nhận biết trạng thái mộng và sự phát triển của sáng sủa,
minh bạch.
Có
hai cách để hiểu lời tuyên bố rằng mọi sự là một giấc
mộng. Cách thứ là xem nó như là một phương pháp để thay
đổi những dấu vết nghiệp thức. Làm sự thực hành này
như mọi thực hành khác, sẽ thay đổi cách người ta dấn
thân vào thế giới. Bằng cách thay đổi những phản ứng
thói quen và phần lớn là vô ý thức đối với những hiện
tượng, thì những phẩm tính của đời sống và giấc mộng
thay đổi. Khi chúng ta nghĩ đến một kinh nghiệm “chỉ là
một giấc mộng”, nó sẽ kém “có thực” với chúng ta.
Nó mất quyền hành trên chúng ta – quyền hành nó chỉ có
bởi vì chúng ta trao cho nó quyền hành đó – và không thể
quấy nhiễu chúng ta và dẫn chúng ta đến những phiền não
tiêu cực nữa. Thay vào đó, chúng ta bắt đầu đương đầu
với mọi kinh nghiệm với sự bình thản lớn lao hơn và sự
sáng tỏ tăng trưởng, và thậm chí với sự hân thưởng lớn
lao hơn. Theo nghĩa này, sự thực hành tác động một cách
tâm lý bằng cách lột bỏ ý nghĩa mà chúng ta phóng chiếu
lên cái vốn vượt khỏi mọi nghĩa lý ý niệm. Vì chúng ta
nhìn thấy kinh nghiệm theo một cách khác, chúng ta thay đổi
phản ứng của chúng ta với nó, điều này thay đổi những
tàn dư nghiệp lực của hành động, và gốc rễ của việc
mộng thay đổi.
Cách
hiểu thứ hai là chứng ngộ rằng đời sống khi thức thực
sự là như nhau với giấc mộng, rằng toàn bộ kinh nghiệm
bình thường được tạo thành bởi những phóng chiếu của
tâm thức, rằng mọi ý nghĩa đều là do gán cho, và rằng
bất cứ cái gì chúng ta kinh nghiệm đều do ảnh hưởng của
nghiệp. Ở đây chúng ta nói đang đến công việc vi tế và
thắm khắp của nghiệp, vòng không cùng của nhân và quả
tạo ra cái hiện tại từ những dấu vết nghiệp khí của
quá khứ, công việc mà nghiệp làm qua sự quy định, điều
kiện hóa liên tục từ mỗi một hành động. Đây là một
cách phát biểu rõ ràng sự chứng ngộ rằng mọi hiện tượng
đều trống không và rằng tự tánh bề ngoài của người
và vật chất đều như huyễn. Không có một “sự vật”
thực sự nào ở bất cứ nơi đâu trong đời sống lúc thức
– cũng như trong đời sống lúc mộng – mà chỉ là những
hình tướng không tự tánh thoáng qua, khởi lên và tự giải
thoát trong nền tảng trống không và quang minh của hiện hữu.
Chứng ngộ hoàn toàn chân lý của câu nói, “Đây là một
giấc mộng”, chúng ta thoát khỏi những thói quen của vọng
tưởng sai lầm và nhờ vậy thoát khỏi cuộc sống thấp kém
của sanh tử trong đó vọng tưởng được hiểu lầm là thực
tại. Chúng ta cần phải hiện diện tỉnh thức khi sự thấu
hiểu này xảy ra, vì quả thực bấy giờ nó không xảy ra
ở một chỗ nào khác. Và không có phương pháp nào mạnh để
đem sự minh bạch vững chắc vào giấc mộng hơn là an trụ
liên tục trong sự hiện diện minh bạch suốt ban ngày.
Như
đã nói ở trên, một phần quan trọng của sự thực hành
này là kinh nghiệm chính bản thân mình là giấc mộng. Hãy
tưởng tượng chính bạn là một huyễn tưởng, như một nhân
vật trong giấc mộng, với một cơ thể không có sự cứng
đặc. Hãy tưởng tượng nhân cách và nhiều bản sắc của
bạn là những phóng chiếu của tâm thức. Hãy duy trì sự
hiện diện, cùng một sự minh bạch bạn đang cố gắng trau
dồi trong giấc mộng, khi cảm giác chính bạn là không có
bản chất và thoáng qua, được tạo ra chỉ bằng ánh sáng.
Điều này tạo ra một mối tương quan rất khác với chính
bạn, tương quan ấy là dễ chịu, linh động và khoáng đạt.
Khi
làm những thực hành này, không đủ nếu chỉ đơn giản lập
đi lập lại rằng bạn đang ở trong một giấc mộng. Chân
lý của câu nói này phải được cảm nghiệm vượt khỏi
ngôn từ. Hãy sử dụng trí tưởng tượng, các giác quan và
tỉnh giác trong việc hòa nhập trọn vẹn sự thực hành với
kinh nghiệm cảm thấy. Khi bạn thực hành thích hợp, mỗi
khi bạn nghĩ rằng bạn đang trong một giấc mộng, thì sự
hiện diện trở nên mạnh mẽ hơn và kinh nghiệm càng sống
động. Nếu không có loại thay đổi tính chất trực tiếp
này, hãy chắc chắn sự thực hành không chỉ trở thành một
sự lập lại máy móc một câu nói, điều này chỉ có ít
lợi ích. Không có huyền thuật nào khi chỉ nghĩ đến một
công thức thần chú ; những lời cần được dùng để nhắc
nhở chính bạn – bằng cách tăng cường sáng tỏ và hiện
diện – lần nữa và lần nữa cho đến lúc việc chỉ nhớ
tư tưởng, “Đây là một giấc mộng”, cũng đem lại đồng
thời sự làm mạnh thêm và sáng tỏ hơn của tỉnh giác.
Đây
là sự chuẩn bị đầu tiên, thấy toàn bộ đời sống là
một giấc mộng. Nó được áp dụng vào khoảnh khắc tri giác
và trước khi một phản ứng khởi lên. Tự nó là một thực
hành hiệu nghiệm và ảnh hưởng mạnh mẽ hành giả. Hãy
an trụ trong tánh tỉnh giác này và bạn sẽ kinh nghiệm sự
minh bạch cả khi thức và khi mộng.
Có
một cảnh cáo về sự thực hành này : quan trọng là cần
phải trông nom những trách nhiệm và tuân thủ luận lý và
những giới hạn của đời sống quy ước. Khi bạn tự nói
với mình rằng đời sống lúc thức của bạn là một giấc
mộng, điều ấy đúng, nhưng nếu bay nhảy ra khỏi cái buyn
đinh bạn sẽ rơi xuống chứ không bay. Nếu bạn không đi
làm, những hóa đơn không được thanh toán. Thọc tay vào lửa
thì bạn sẽ bị phỏng. Cần phải đặt nền trên những sự
thật của thế giới tương đối, bởi vì bao giờ còn có
một cái “anh” và “tôi”, thì còn có một thế giới tương
đối trong đó chúng ta sinh sống, những chúng sanh khác đang
khổ đau và những hậu quả từ những quyết định chúng
ta làm.
HAI
: DẸP BỎ BÁM NẮM VÀ GHÉT BỎ
Sự
thực hành căn bản thứ hai làm giảm hơn nữa sự bám nắm
và ghét bỏ. Trong khi sự chuẩn bị thứ nhất được áp dụng
vào khoảnh khắc gặp mặt những hiện tượng và trước khi
một phản ứng xảy ra, sự thực hành thứ hai được xúc
tiến sau khi một phản ứng đã khởi lên. Về căn bản, chúng
đều cùng một thực hành như nhau, chỉ phân biệt bởi tình
huống trong đó sự thực hành được áp dụng và bởi đối
tượng của sự chú ý. Sự thực hành thứ nhất hướng sự
tỉnh giác sáng tỏ và sự nhận biết các hiện tượng là
giấc mộng đến mọi sự gặp phải : những đối tượng
giác quan, những biến cố bên trong, chính thân thể mình v.v...
Sự chuẩn bị thứ hai đặc biệt hướng cùng sự tỉnh giác
sáng tỏ ấy đến những phản ứng xúc cảm được tạo hình
khi đáp ứng với những yếu tố của kinh nghiệm.
Một
cách lý tưởng, sự thực hành cần được áp dụng ngay khi
bất kỳ sự bám nắm hay ghét bỏ nào khởi lên trong đáp
ứng với một đối tượng hay một tình huống. Tâm thức
bám chấp có thể biểu lộ thành tham, sân đố kỵ, kiêu mạn,
ghen ghét, sầu khổ, thất vọng, vui vẻ, lo lắng, ngã lòng,
sợ hãi, buồn chán hay bất kỳ phản ứng xúc cảm nào khác.
Khi
một phản ứng khởi lên, hãy tự nhắc nhở rằng bạn, đối
tượng và phản ứng của bạn với đối tượng đều là
mộng. Hãy tự nghĩ, “Cơn giận này là một giấc mộng, Tham
muốn này là một giấc mộng. Cử chỉ này, sầu khổ này,
sự hớn hở này là một giấc mộng”. Chân lý trong câu nói
này trở nên rõ ràng khi bạn chú ý đến tiến trình bên trong
làm nảy sinh ra những trạng thái phiền não : bạn đang mộng
ra chúng qua một sự tương tác phức tạp của những tư tưởng,
hình ảnh, trạng thái thân thể và cảm giác. Phản ứng xúc
cảm không nảy sinh “ngoài kia” trong những đối tượng.
Nó khởi lên, được kinh nghiệm và chấm dứt trong bạn.
Có
vô số kích thích khác nhau khiến bạn phản ứng : sự hấp
dẫn khởi lên khi thấy một người đàn ông hay đàn bà đẹp,
giận dữ với một người lái xe cắt ngang trước mặt bạn,
ghê sợ hay buồn rầu nơi một môi trường bị tàn phá, lo
âu về một hoàn cảnh hay con người... Chớ chỉ vỗ câu nói
lên một mảnh kinh nghiệm của bạn ; hãy cố gắng cảm nghiệm
một cách hiện thực tính chất như mộng của đời sống
bên trong của bạn. Khi sự xác nhận này đã cảm thấy được,
chứ không chỉ nghĩ đến, tương quan với tình huống thay
đổi, và sự nắm bám siết chặt, đầy xúc tình với những
hiện tượng được buông lỏng. Tình huống trở nên rõ ràng
hơn và khoáng đạt hơn, và bám chấp và ghét bỏ được nhận
biết trực tiếp thực sự là những trói buộc không thoải
mái. Đây là một đối trị mạnh mẽ với trạng thái “sắp”
sở hữu và ám ảnh mà phiền não tạo ra. Kinh nghiệm trực
tiếp và xác thực khi sử dụng sự thực hành này để cởi
mở gút thắt của phiền não là sự bắt đầu của thực
hành thực sự về tánh sáng suốt và tánh linh hoạt đưa đến
kết quả giải thoát. Với sự thực hành kiên trì và đầy
chất lượng, ngay cả những trạng thái mạnh mẽ của giận
dữ, chán nản và những bất hạnh khác có thể được mở
thoát. Khi chúng có, chúng tan biến mất.
Những
lời dạy thường ám chỉ đến thực hành riêng này như một
phương pháp để từ bỏ những bám luyến. Có những cách
tốt và không tốt để từ bỏ chúng. Đè nén chúng thì tốt
ít ; bấy giờ chúng chuyển hóa thành sự huyên náo bên trong
hay những kết án và không khoan thứ ở bên ngoài. Và nó cũng
chống lại sự phát triển tâm linh bằng cách cố gắng thoát
khỏi đau khổ qua sự phóng dật hay bằng cách siết chặt
thân thể để bóp chết kinh nghiệm. Tốt là từ bỏ đời
sống thế gian và trở thành một tăng hay một ni hay không
tốt là tìm cách trốn thoát những kinh nghiệm khó khăn qua
đè nén và tránh mặt.
Yoga
giấc mộng cắt đứt bám chấp bằng cách tổ chức lại tri
giác và hiểu đối tượng hay tình huống, bằng cách thay đổi
cái nhìn và như thế cho phép hành giả thấy qua suốt hình
tướng giả huyễn của một đối tượng thấu đến thực
tại rạng rỡ, như ánh sáng của nó. Khi sự thực hành tiến
bộ, những đối tượng và những hoàn cảnh không chỉ được
kinh nghiệm với sự trong sáng và sinh động lớn lao hơn mà
cũng còn được nhận biết như phù du, vô tự tánh và vụt
thoát. Điều này phá sập tầm quan trọng tương đối của
những hiện tượng và làm giảm đi sự bám chấp và ghét
bỏ căn cứ trên sự yêu chuộng.
BA
: LÀM MẠNH Ý ĐỊNH
Sự
chuẩn bị thứ ba gồm xem lại ban ngày trước khi đi ngủ,
và làm mạnh ý định quyết tâm thực hành qua suốt đêm.
Khi bạn sửa soạn ngủ, hãy cho phép những ký ức ban ngày
khởi lên. Bất kỳ cái gì đến trong tâm thức hãy nhận biết
đó là một giấc mộng. Những ký ức khởi lên hầu hết
là những kinh nghiệm đủ mạnh để ảnh hưởng đến những
giấc mộng sắp đến. Trong suốt sự xem lại này, hãy thử
kinh nghiệm những ký ức khởi lên như là những ký ức của
giấc mộng. Ký ức thật sự rất giống với giấc mộng.
Lại nữa, điều này không phải như sự đặt tên một cách
tự động, một nghi lễ cứ lập đi lập lại “Đây là một
giấc mộng”. Hãy cố gắng hiểu thật sự bản chất như
mộng của kinh nghiệm của bạn, những phóng chiếu duy trì
nó, và cảm thấy sự khác biệt của sự tùy thuộc vào kinh
nghiệm là một giấc mộng.
Bấy
giờ hãy phát triển quyết tâm mạnh mẽ nhận biết những
giấc mộng của ban đêm xem chúng là gì. Hãy có ý định mạnh
mẽ nhất có thể biết trực tiếp và sống động, khi đang
nằm mộng, rằng bạn đang mộng. Ý định giống như một
mũi tên mà tỉnh giác có thể theo suốt đêm, một mũi tên
nhắm vào sự minh bạch trong giấc mộng. Câu bằng tiếng Tây
Tạng chúng tôi dùng để chỉ sự phát sinh ý định dịch
ra là “gởi một ý muốn”. Chúng ta nên có ý nghĩa đó ở
đây, rằng chúng ta làm những cầu nguyện và ý định và
gởi chúng đến những vị thầy của chúng ta và đến chư
Phật và các bổn tôn, hứa cố gắng trụ trong tỉnh giác
và cầu xin sự giúp đỡ của các ngài. Có những thực hành
khác có thể làm trước khi rơi vào giấc ngủ, nhưng một
cái này là đủ cho tất cả.
BỐN
: TRAU DỒI TRÍ NHỚ VÀ SỰ NỖ LỰC HOAN HỶ
Thực
hành căn bản thứ tư được tiến hành khi thức dậy vào
buổi sáng. Nó trau dồi hơn nữa ý định mạnh mẽ và cũng
làm mạnh thêm khả năng nhớ lại những biến cố của ban
đêm.
Hãy
bắt đầu nhìn lại hồi đêm. Chữ Tây Tạng cho sự chuẩn
bị này nghĩa đen là “nhớ lại”. Bạn có mơ không ? Bạn
có biết rằng bạn đang ở trong giấc mộng ? Nếu bạn đã
nằm mộng nhưng không đạt đến sự minh bạch, bạn cần
nghĩ, “Tôi đã nằm mộng nhưng không nhận ra giấc mộng
là một giấc mộng. Nhưng nó là một giấc mộng.” Quyết
định rằng lần sau bạn đi vào một giấc mộng bạn sẽ
tỉnh thức về bản chất thật của nó khi còn đang mộng.
Nếu
bạn thấy khó nhớ lại những giấc mộng, thì suốt ngày
và đặc biệt trước khi ngủ, cần phải phát sanh một ý
định mạnh mẽ nhớ lại những giấc mộng. Bạn cũng có
thể ghi lại những giấc mộng trong một cuốn sổ hay với
một máy thâu băng, vì điều này sẽ làm củng cố thói quen
đối xử với những giấc mộng của bạn như cái gì có giá
trị. Hành động sửa soạn sổ tay hay máy thu băng vào ban
đêm chính là để hỗ trợ cho ý định nhớ lại giấc mộng
khi thức dậy. Không khó khăn cho bất kỳ ai nhớ lại những
giấc mộng một khi ý định làm điều đó được phát sinh
và duy trì, thậm chí chỉ sau ít ngày.
Nếu
bạn có một giấc mộng sáng sủa, hãy cảm thấy hoan hỷ
với thành tựu đó. Hãy phát triển hạnh phúc liên hệ với
sự thực hành và quyết tâm tiếp tục phát triển sự sáng
sủa đêm tiếp theo. Hãy giữ vững ý định, dùng cả những
thành công và thất bại như những cơ hội để phát triển
ý định bao giờ cũng mạnh mẽ hơn để thành tựu sự thực
hành. Và hãy biết rằng ngay ý định của bạn cũng là một
giấc mộng.
Cuối
cùng, trong thời gian buổi sáng, hãy phát sinh một ý định
mạnh mẽ duy trì kiên cố trong sự thực hành suốt cả ngày.
Và hãy cầu nguyện với cả tấm lòng cho sự thành công ;
cầu nguyện giống như một năng lực huyền diệu mà tất
cả chúng ta đều có mà thường quên dùng.
Sự
thực hành này hòa trong sự thực hành căn bản đầu tiên,
nhận biết tất cả kinh nghiệm là một giấc mộng. Theo cách
này sự thực hành trở thành không gián đoạn suốt vòng quay
ngày và đêm.
KIÊN
TRÌ
Sự
quan trọng của bốn chuẩn bị cho những giai đoạn sau của
yoga giấc mộng không phải là phóng đại. Chúng có nhiều
năng lực hơn là chúng có vẻ thế. Hơn nữa, chúng là những
thực hành ai cũng có thể làm được. Về phương diện tâm
lý chúng được định hướng hơn nhiều thực hành và sẽ
hiện diện không khó khăn cho hành giả. Chỉ làm một thực
hành trước khi vào giường có thể không hiệu quả, nhưng
với sự thực hành kiên trì bốn chuẩn bị suốt cả ngày,
sẽ dễ dàng hơn nhiều để đạt được sự sáng suốt trong
mộng và bấy giờ tiếp tục những thực hành thêm nữa. Sử
dụng những thực hành này làm cho mọi sự xảy ra thành một
nguyên nhân để trở lại với sự hiện diện, và điều này
đem lại lợi lạc lớn lao cho đời sống hàng ngày cũng như
đưa đến thành công trong yoga giấc mộng.
Nếu
bạn không có những kết quả tức thời, dù bạn phải thực
hành một thời gian dài trước khi hoàn thành sự sáng suốt
minh bạch trong mộng, thì cũng không nên ngã lòng. Chớ nghĩ
rằng nó là vô ích và bạn không thể hoàn thành sự thực
hành. Hãy nghĩ về những khác biệt khi bạn mười tuổi bạn
suy nghĩ và hành động thế nào so với bây giờ – có một
thay đổi thường trực liên tục. Chớ để cho mình bị kẹt
nghẽn khi tin rằng những giới hạn nào bạn có trong thực
hành hôm nay sẽ tiếp tục trong tương lai. Biết rằng không
có gì cứ y nguyên mãi, bạn không nên tin rằng cách thức
sự việc biểu lộ ra hôm nay phải là cách thức chúng vẫn
phải tiếp tục.
Kinh
nghiệm những phẩm tính sinh động, sáng tỏ, như mộng của
đời sống cho phép kinh nghiệm của bạn trở nên rỗng rang,
trong sáng hơn. Khi sự sáng suốt được khai triển trong mộng
và trong thức, có nhiều tự do lớn lao hơn để kiến lập
đời sống một cách tích cực, và cuối cùng để vất bỏ
những quý chuộng và nhị nguyên và an trụ trong sự hiện
diện bất nhị.
4
Chuẩn Bị cho Ban Đêm
Người
trung bình không biết những nguyên lý của thiền định, mang
những căng thẳng, phiền não, tư tưởng và những rối rắm
mê mờ của ban ngày vào ban đêm. Đối với một người như
vậy, không có thực hành hay thời gian đặc biệt nào được
đặt riêng ra để xử lý ban ngày hay làm bình lặng trước
khi vào giấc ngủ. Với họ giấc ngủ đến giữa sự phóng
dật, và những tiêu cực được được giữ trong tâm thức
suốt đêm. Khi cơn mộng khởi sanh từ những tiêu cực này,
không có sự vững vàng ổn định trong hiện diện tỉnh thức
và cá nhân bị cuốn theo những hình ảnh và mê lầm của
thế giới mộng. Thân thể căng thẳng bởi lo âu hay nặng
nề bởi buồn rầu, và khí trong thân thì thô và không trơn
tru khi tâm thức phóng đi đây đó. Giấc ngủ bị nhiễu loạn,
những giấc mơ đầy căng thẳng hay chỉ là một sự trốn
thoát thích thú, và người ngủ khi thức dậy thì mệt mỏi
và không được ngơi nghỉ vào buổi sáng hôm sau, thường
tiếp tục ban ngày trong một trạng thái tiêu cực.
Ngay
cả với người không thực hành những yoga giấc mộng hay
giấc ngủ, vẫn có lợi lạc khi chuẩn bị cho giấc ngủ,
xem nó là nghiêm túc. Tịnh hóa tâm thức đến mức tốt nhất
trước khi ngủ, cũng như trước lúc thiền định, làm phát
sanh nhiều sự hiện diện hơn và những phẩm tính tích cực.
Hơn là để cho những xúc tình tiêu cực mang đi lúc ban đêm,
hãy dùng bất cứ phương tiện thiện xảo nào bạn có để
giải thoát bạn khỏi những xúc tình đó. Nếu bạn biết
làm thế nào để cho xúc tình tự giải thoát, tan biến vào
tánh không, thì hãy làm thế. Nếu bạn biết làm thế nào
để chuyển hóa nó hay tạo nên cái đối trị với nó, hãy
dùng hiểu biết đó. Hãy cố gắng nối kết với vị lama,
yidam, và dakini ; hãy cầu nguyện đến chư Phật và những
thần bổn tôn ; hãy phát khởi lòng bi. Hãy làm điều gì bạn
có thể làm để gỡ thoát cho bạn căng thẳng trong thân thể
và những thái độ tiêu cực trong tâm thức. Thoát khỏi sự
quấy nhiễu, với một tâm thức nhẹ tênh và thoải mái, bạn
sẽ kinh nghiệm một giấc ngủ yên nghỉ hơn và phục hồi
sức khỏe hơn. Dù cho không thể làm phần sau của những thực
hành, sự thực hành này là một cái gì tích cực mà ai cũng
có thể hòa trộn vào cuộc sống hàng ngày.
Ở
trên là vài chuẩn bị tổng quát cho ban đêm, nhưng chớ tự
giới hạn trong những cái ấy. Điểm quan trọng là tỉnh thức
với cái mà bạn đang làm với tâm thức bạn và nó ảnh hưởng
bạn thế nào, và dùng sự hiểu biết của bạn để làm bình
an chính bạn, trở nên hiện diện, và mở ra những khả tính
của ban đêm.
CHÍN
HƠI THỞ TỊNH HÓA
Có
lẽ bạn đã ghi nhận sự căng thẳng nhiều biết bao được
mang vào trong thân thể và sự căng thẳng ảnh hưởng đến
hơi thở như thế nào. Khi có ai mà chúng ta đang có nhiều
rắc rối với họ đi vào phòng, thân thể co siết và hơi
thở trở nên ngắn hơn và gắt hơn. Khi chúng ta sợ, hơi thở
thành nhanh và cạn. Khi buồn, hơi thở thường sâu và điểm
thêm những tiếng thở dài. Và nếu người nào chúng ta thích
và chăm lo đi vào phòng, thân thể thư giãn và hơi thở rỗng
rang và thoải mái.
Hơn
là chờ đợi kinh nghiệm để thay đổi hơi thở, chúng ta
có thể chủ động thay đổi hơi thở để thay đổi kinh nghiệm
của chúng ta. Chín hơi thở của sự tịnh hóa là một thực
hành ngắn để làm sạch và tịnh hóa những kinh mạch và
để thư giãn tâm thức và thân thể. Hình vẽ những kinh mạch
có thể tìm ở trang 69.
Ngồi
xếp chân trong thế thiền định. Đặt hai tay dưới bụng,
tay trái trên tay phải. Hơi cúi đầu một chút cho cổ thẳng.
Hãy
quán tưởng ba kinh mạch năng lực trong thân bạn. Kinh mạch
trung ương màu xanh và đứng thẳng qua trung tâm của thân ;
nó cỡ bằng một cây mía, và hơi rộng ra từ tim đến chỗ
mở ra của nó nơi đỉnh đầu. Hai kinh mạch hai bên đường
kính bằng cây bút chì và nối với kinh mạch trung ương ở
chót đáy của nó, khoảng bốn inch dưới rốn. Chúng đi thẳng
qua thân ở hai bên kinh mạch trung ương, cong lại dưới xương
sọ, đi qua sau mắt và mở ra nơi lỗ mũi. Nơi người đàn
bà kinh mạch phải màu đỏ và kinh mạch trái màu trắng. Nơi
người đàn ông kinh mạch phải màu trắng và kinh mạch trái
màu đỏ.
Ba
hơi thở đầu
Đàn
ông : Đưa bàn tay phải lên với ngón tay cái đè gốc ngón
tay đeo nhẫn. Bịt lỗ mũi phải với ngón tay đeo nhẫn, hít
vào ánh sáng màu lục qua lỗ mũi trái. Rồi bịt lỗ mũi trái
với ngón tay đeo nhẫn tay phải, thở ra hết qua lỗ mũi phải.
Lập lại như vậy ba lần hơi thở vào và ra.
Đàn
bà : Đưa bàn trái lên với ngón cái đè gốc ngón tay đeo
nhẫn. Bịt lỗ mũi trái với ngón tay đeo nhẫn, hít vào ánh
sáng màu lục qua lỗ mũi phải. Rồi bịt lỗ mũi phải với
ngón tay đeo nhẫn, thở ra hết qua lỗ mũi trái. Lập lại
như vậy ba lần hơi thở vào và ra.
Với
mỗi hơi thở ra, hãy tưởng tượng mọi chướng ngại liên
hệ với năng lực nam bị trục khỏi kinh mạch màu trắng
trong hình dạng không khí màu xanh nhạt. Những cái này gồm
những đau yếu thuộc khí cũng như những chướng ngại và
che chướng liên hệ với quá khứ.
Ba
hơi thở thứ hai
Đàn
ông và đàn bà : Đổi tay và lỗ mũi và lập lại ba lần
hơi thở vào và ra. Với mỗi hơi thở ra, hãy tưởng tượng
mọi chướng ngại liên hệ với năng lực nữ bị trục khỏi
kinh mạch màu đỏ trong hình dạng không khí màu hồng nhạt.
Những cái này gồm những đau yếu thuộc mật cũng như những
chướng ngại và che chướng liên hệ với tương lai.
Ba
hơi thở thứ ba
Đàn
ông và đàn bà : Đặt bàn tay trái trên bàn tay phải dưới
bụng, bàn tay ngửa lên. Hít vào ánh sáng màu lục có tính
cách chữa lành qua cả hai lỗ mũi. Hãy quán tưởng nó đi
xuống theo hai kinh mạch hai bên đến chỗ nối kết với kinh
mạch chính, khoảng bề rộng bốn ngón tay dưới rốn. Với
hơi thở ra, hãy quán tưởng năng lực đi lên theo kinh mạch
trung ương và ra đỉnh đầu. Hoàn thành ba hơi thở vào và
ra. Với mỗi hơi thở ra, hãy tưởng tượng tất cả mọi
thế lực làm cho đau yếu liên hệ với những ma quỷ đối
nghịch bị trục khỏi đỉnh đầu trong hình dạng khói màu
đen. Những cái ấy gồm những đau yếu thuộc chất niêm dịch.
Cũng như những chướng ngại và che chướng liên hệ với
hiện tại.
GURU
YOGA
Guru
yoga là một thực hành chính yếu trong mọi trường phái Phật
giáo Tây Tạng và đạo Bošn. Điều này chứng tỏ trong kinh
tantra, và Đại Toàn Thiện. Nó phát triển sự nối kết trong
lòng với vị thầy. Bằng cách liên tục làm mạnh lòng sùng
mộ, chúng ta đến chỗ sùng mộ thuần túy, không lay chuyển,
căn cứ thần lực của sự thực hành. Tinh túy của guru yoga
là hòa lẫn tâm của hành giả với tâm của đạo sư.
Đạo
sư chân thật là gì ? Đó là bản tánh nền tảng, vô tướng
của tâm, tánh giác bổn nguyên nền tảng của mọi sự, nhưng
vì chúng ta sống trong nhị nguyên, sẽ ích lợi cho chúng ta
quán tưởng cái ấy trong một hình tướng. Làm như vậy là
sử dụng một cách thiện xảo những nhị nguyên của tâm
thức ý niệm để làm mạnh thêm lòng sùng mộ và giúp chúng
ta nhắm đến thực hành và sự phát sanh những phẩm tính
tích cực.
Trong
truyền thống Bošn, chúng tôi thường dùng hoặc Tapihritsa như
là đạo sư, hoặc Phật Shenla Odker*, ngài đại diện sự hợp
nhất của tất cả chư đạo sư. Nếu bạn đã là một hành
giả, bạn có thể có một bổn tôn khác để quán tưởng,
như Guru Rinpoche hay một yidam hay dakini. Trong khi điều quan trọng
là làm việc với một dòng phái mà bạn có một mối liên
kết, bạn cần hiểu rằng đạo sư bạn đang quán tưởng
là hiện thân của tất cả các đạo sư bạn đã liên kết,
tất cả các vị thầy đã theo học, tất cả các bổn tôn
bạn đã có những cam kết. Đạo sư trong guru yoga không chỉ
là một cá nhân, mà là tinh túy của giác ngộ, tánh giác bổn
nguyên nó là bản tánh chân thật của bạn.
Đạo
sư cũng là vị thầy mà bạn nhận những giáo lý từ ngài.
Trong truyền thống Tây Tạng, chúng ta nói rằng đạo sư
Tapihritsa
còn
quan trọng hơn đức Phật. Vì sao ? Bởi vì đạo sư là sứ
giả trực tiếp của những giáo lý, người đem trí huệ của
Phật đến cho đệ tử. Không có đạo sư chúng ta không tìm
ra con đường của chúng ta đến với Phật. Thế nên chúng
ta cần cảm thấy sùng mộ với đạo sư như đối với Phật
nếu thình lình Phật xuất hiện trước mặt chúng ta.
Guru
yoga không chỉ là phát sinh một cảm giác nào đó đối với
một hình ảnh được quán tưởng. Nó được làm để tìm
thấy tâm nền tảng trong chính bạn, tâm đó là nhất như
với tâm nền tảng của tất cả các vị thầy của bạn,
và của tất cả chư Phật và những bậc chứng ngộ đã từng
sống ở đời. Khi bạn hòa nhập với vị guru, bạn hòa nhập
với thật tánh nguyên sơ của bạn, nó là người hướng dẫn
và đạo sư đích thực. Nhưng điều này không nên là một
thực hành trừu tượng. Khi bạn làm guru yoga, hãy cố gắng
cảm thấy lòng sùng mộ mãnh liệt đến độ tóc gáy dựng
đứng, nước mắt bắt đầu rơi trên mặt bạn, và lòng bạn
mở ra và tràn đầy tình thương mến lớn lao. Hãy để bạn
hòa lẫn hợp nhất với tâm của guru, chính là Phật tánh
giác ngộ của bạn. Đây là cách thực hành guru yoga.
Thực
hành
Sau
chín hơi thở, vẫn ngồi trong tư thế thiền định, hãy quán
tưởng đạo sư ở trên và trước mặt bạn. Đó không phải
là một bức tranh bằng phẳng, hai chiều – hãy để cho một
hiện thể thực sự hiện hữu ở đó, với ba chiều, làm
bằng ánh sáng, trong sạch, và với một sự hiện diện mạnh
mẽ tác động cảm giác trong thân thể, năng lực, và tâm
thức của bạn. Hãy phát sanh sùng mộ mạnh mẽ và suy nghĩ
về sự trao tặng vĩ đại những giáo lý và cơ hội tốt
đẹp lớn lao bạn đang hưởng khi liên kết với chúng. Dâng
lên một lời cầu nguyện chân thành, cầu xin những tiêu cực
và che ám của bạn được dẹp bỏ, những phẩm tính tích
cực của bạn được phát triển, và bạn hoàn thành được
yoga giấc mộng.
Bấy
giờ hãy tưởng tượng nhận những ban phước từ đạo sư
trong hình thức những ánh sáng ba màu tuôn chảy từ ba cửa
trí huệ của ngài – cửa thân, cửa ngữ, cửa tâm – vào
ba cửa của bạn. Những ánh sáng được chuyển vào theo trình
tự sau : Ánh sáng trắng tuôn chảy từ luân xa đỉnh đầu
của đạo sư vào luân xa đỉnh đầu của bạn, tịnh hóa
và làm thư giãn toàn thân thể bạn và phương diện thể xác
của bạn. Rồi ánh sáng đỏ từ luân xa cổ họng của đạo
sư chảy vào luân xa cổ họng của bạn, tịnh hóa và làm
thư giãn phương diện năng lực của bạn. Cuối cùng, ánh
sáng xanh từ luân xa tim của đạo sư chảy vào luân xa tim
của bạn, tịnh hóa và làm thư giãn tâm thức bạn.
Khi
những ánh sáng vào thân thể bạn, hãy cảm thấy chúng. Hãy
để thân thể, năng lực và tâm thức của bạn thư giãn,
tràn ngập trong ánh sáng trí huệ. Hãy dùng tưởng tượng
của bạn để làm cho sự ban phước thành ra có thực trong
kinh nghiệm trọn vẹn của bạn, trong thân thể và năng lực
của bạn cũng như trong những hình ảnh trong tâm thức bạn.
Sau
khi nhận sự ban phước gia bị, hãy tưởng tượng đạo sư
tan vào trong ánh sáng, ánh sáng này đi vào tim bạn và ở lại
đó như tinh túy sâu xa nhất của bạn. Hãy tưởng tượng
rằng bạn tan biến trong ánh sáng ấy, và an trụ trong tánh
tỉnh giác thanh tịnh, rigpa.
Còn
có những giáo huấn tỉ mỉ về guru yoga gồm trong những lễ
lạy, dâng cúng, ấn, thần chú và những quán tưởng phức
tạp nữa, nhưng tinh túy của sự thực hành là hòa trộn tâm
thức bạn với tâm thức của đạo sư, nó chính là tánh giác
thanh tịnh, bất nhị. Guru yoga có thể được làm bất kỳ
lúc nào trong ngày ; càng nhiều càng tốt. Nhiều đạo sư nói
rằng trong tất cả mọi thực hành, guru yoga là cái quan trọng
nhất. Nó ban cho sự ban phước của dòng truyền và có thể
mở ra và làm mềm dịu tấm lòng và làm bình lặng tâm thức
hoang dã. Hoàn thành trọn vẹn guru yoga là hoàn thành con đường.
CHE
CHỞ
Đi
ngủ hơi giống với chết, một hành trình một mình vào cái
không biết. Thông thường chúng ta không lo lắng về giấc
ngủ bởi vì chúng ta quen với nó, nhưng hãy nghĩ về điều
mà giấc ngủ kéo theo. Chúng ta tự mất mình trong một sự
trống không trong một khoảng thời gian, cho đến khi chúng
ta khởi lên lại trong một giấc mộng. Khi chúng ta nằm mộng,
chúng ta có thể có một bản sắc khác và một thân thể khác.
Chúng ta có thể ở trong một nơi chốn xa lạ, với những
người chúng ta không biết, dấn thân vào những hoạt động
rối rắm có vẻ rất nguy hiểm.
Chỉ
ngủ trong một nơi chốn không quen thuộc có thể tạo ra lo
âu. Nơi chốn có thể hoàn toàn an ninh và tiện nghi, nhưng
chúng ta không ngủ như ở nhà trong môi trường quen thuộc.
Có thể năng lực chỗ ấy xấu. Hay có thể chỉ sự không
an ninh của riêng chúng ta làm rộn chúng ta, và ngay cả trong
những chỗ quen thuộc chúng ta cũng cảm thấy lo âu khi chờ
giấc ngủ đến, hay lo sợ bởi cái chúng ta nằm mộng. Khi
vào giấc ngủ với sự lo âu, những giấc mộng của chúng
ta trộn lẫn với sợ hãi và căng thẳng, giấc ngủ kém yên
và, và sự thực hành khó làm hơn. Thế nên là một ý tốt
khi tạo ra một cảm thức được che chở trước khi chúng
ta ngủ và chuyển hóa nơi chốn ngủ của chúng ta thành một
không gian thiêng liêng.
Điều
này được làm bằng cách tưởng tượng những dakini bảo
vệ khắp chung quanh chỗ ngủ. Hãy tưởng tượng những dakini
như những nữ thần đẹp đẽ, những người nữ giác ngộ,
màu lục và đày đủ năng lực che chở. Họ ở gần khi bạn
ngủ và suốt cả đêm, như những người mẹ trông chừng
cho con họ, hay những người bảo vệ bao quanh một ông vua
hay hay bà hoàng hậu. Hãy tưởng tượng họ ở khắp nơi,
giữ gìn những cửa lớn và cửa sổ, ngồi cạnh bạn trên
giường, đi dạo trong vườn hay sân... cho đến khi bạn hoàn
toàn cảm thấy được che chở.
Lại
nữa, sự thực hành này thì hơn việc chỉ cố gắng quán
tưởng điều gì : hãy thấy những dakini với tâm thức bạn
nhưng cũng dùng sự tưởng tượng của bạn để cảm thấy
sự hiện diện của họ. Tạo ra một môi trường thiêng liêng,
che chở theo cách này là làm bình yên, thư giãn và xúc tiến
giấc ngủ yên nghỉ. Một nhà thần bí sống như vầy : thấy
điều thần bí, thay đổi môi trường với tâm thức, và cho
phép những hành động, thậm chí những hành động tưởng
tượng, có ý nghĩa.
Bạn
có thể nâng thêm cảm thức an bình trong môi trường bằng
cách để những vật có tính chất thiêng liêng trong phòng
ngủ : những hình ảnh an bình, đáng yêu, những biểu tượng
tôn giáo và thiêng liêng, và những vật khác hướng tâm thức
bạn đến con đường.
Tantra
Mẹ nói cho chúng ta rằng khi chúng ta chuẩn bị cho giấc ngủ
chúng ta cần duy trì sự tỉnh giác về những nguyên nhân của
giấc mộng, đối tượng để tập trung vào, những vị bảo
vệ và về chính chúng ta. Giữ những cái ấy trong sự tỉnh
giác, không phải như nhiều cái, mà như một môi trường đơn
nhất, và điều này sẽ có một hiệu lực lớn lao trong giấc
mộng và giấc ngủ.
5
Thực Hành Chính
Để
phát triển trọn vẹn yoga giấc mộng, có bốn công việc cần
hoàn thành liên tiếp nhau : 1) đưa tỉnh giác vào kinh mạch
trung ương, 2) trau dồi cái nhìn thấy và kinh nghiệm sáng rõ,
3) phát triển quyền năng và sức mạnh để chúng ta không
bị quên mất và 4) phát triển phương diện hung nộ của chúng
ta để chiến thắng sợ hãi. Những công việc này tương quan
với bốn phẩm tính của giấc mộng – an bình, hoan hỷ, quyền
năng và hung nộ – và với bốn phần đoạn của sự thực
hành.
ĐEM
TỈNH GIÁC VÀO KINH MẠCH TRUNG ƯƠNG
Sau
khi làm việc với những thực hành sơ bộ suốt ngày, và sau
khi làm những thực hành trước giấc ngủ – tịnh hóa hơi
thở, guru yoga, phát sinh từ bi, quán tưởng những dakini che
chở và xác lập ý định cho ban đêm – người ta đi vào
sự thực hành chính thứ nhất.
Hãy
nằm theo thế sư tử : Đàn ông nằm trên phía phải, đàn
bà trên phía trái. Cong đầu gối đủ cho thân vững, cánh
tay ở trên duổi thẳng theo bên hông, và đặt bàn tay phía
dưới ở dưới má. Bạn có thể có lợi ích trong việc thí
nghiệm dùng một cái gối không dầy đỡ cho cổ bạn để
giữ giấc ngủ nhẹ nhàng hơn. Hơi thở đầy và rất bình
lặng đến độ cả hơi thở vào lẫn hơi thở ra đều không
nghe thấy được.
Hãy
quán tưởng một hoa sen đẹp, màu đỏ bốn cánh trong luân
xa cổ họng nằm ở đáy cổ họng, sát với chỗ cổ gặp
ngực hơn là phía trên gần đầu. Trong trung tâm bốn cánh,
hướng ra trước, là một chữ A Tây Tạng đứng thẳng, sáng
chói, rõ ràng và rực rỡ, như pha lê làm bằng ánh sáng thuần
khiết. Cũng như pha lê để trên vải đỏ phản chiếu màu
đỏ và hóa thành đỏ, chữ A lấy màu đỏ của những cánh
hoa và có màu đỏ. Trên mỗi cánh hoa có một chữ : RA ở
trước,
LA bên trái, SHA ở sau và SA bên phải. Khi giấc ngủ đến,
hãy duy trì sự tập chú nhẹ nhàng, thư giãn trên chữ A.

Phần
thực hành này nghĩa là đưa tâm thức và khí prana vào kinh
mạch trung ương. Tính chất là an bình, và khi chúng ta hòa
lẫn với chữ A màu đỏ đậm chúng ta tìm thấy bình an bên
trong chúng ta. Giáo lý dạy rằng chú tâm vào luân xa này tạo
ra những giấc mộng nhẹ nhàng. Thí dụ được cho là một
giấc mộng trong đó một dakini mời một cách nhẹ nhàng người
nằm mộng đi theo vị ấy. Vị ấy giúp người nằm mộng
lên một con chim thần bí (chim garuda) hay một con sư tử và
dẫn đến một cõi thanh tịnh, một nơi chốn đẹp đẽ thiêng
liêng. Nhưng giấc mộng không cần phải đặc biệt như vậy.
Nó có thể chỉ là một cuộc đi dạo trong vườn đẹp đẽ
hay núi non, được người khác dẫn dắt. Tính chất của những
giấc mộng ít nằm trong những hình ảnh riêng biệt mà nằm
nhiều trong cảm giác bình an.
TĂNG
CƯỜNG SỰ SÁNG TỎ
Sau
khi ngủ đôï hai giờ, hãy thức dậy và đi vào phần thứ
hai của thực hành. Theo truyền thống sự thực hành này làm
khoảng nửa đêm, nhưng bây giờ mỗi người có thời gian
biểu khác nhau, thế nên hãy chỉnh sự thực hành cho hợp
với đời sống bạn.
Dùng
cùng một thế nằm như thực hành thứ nhất, đàn ông nằm
phía phải, đàn bà nằm phía trái. Làm một lối thở riêng
biệt : Thở vào và giữ lại hơi thở rất nhẹ nhàng. Hơi
siết hội âm (khoảng giữa hậu môn và cơ quan sinh dục),
những bắp thịt của thành khung chậu, để cho bạn có cảm
giác đẩy lên phía trên hơi thở đã được giữ lại. Hãy
cố gắng kinh nghiệm hơi thở như được giữ ngang dưới
rốn, bị nén bởi sức ép từ bên dưới. Khó tưởng tượng
loại hơi thở này, và có thể cần thí nghiệm một ít cho
đến khi cảm nhận được tìm thấy. Tuy nhiên tốt hơn là
nhận những giáo huấn chi tiết từ một vị thầy.
Sau
khi giữ hơi thở vài khoảnh khắc, hãy nhẹ nhàng thở ra.
Khi thở ra, buông lõng những bắp thịt vùng khung chậu, vùng
ngực và toàn thân. Hoàn toàn thư giãn. Hãy lập lại như vậy
bảy lần.
Điểm
tập chú là luân xa hơi ở về phía trên và sau chỗ hai lông
mày gặp trán. Hãy quán tưởng một quả cầu bằng ánh sáng
(tiglé*) chói sáng màu trắng trong luân xa. Đây là điểm của
sự rõ ràng, sáng tỏ. Một tiglé hay bindu, có thể là nhiều
thứ, và được dịch một cách khác nhau. Trong một bối cảnh,
nó là một phẩm tính năng lực có thể tìm thấy trong thân
thể, trong khi ở bối cảnh khác nó có thể tượng trưng cho
cái toàn thể vô biên. Khi chúng ta dùng nó trong thực hành,
tiglé là một khối cầu ánh sáng không thể chất, sáng ngời
và nhỏ. Những tiglé màu sắc khác nhau tượng trưng những
phẩm tính khác nhau của tâm thức và quán tưởng chúng nghĩa
là hành động như một cánh cửa vào trong kinh nghiệm phẩm
tính ấy.

Chỉ
dẫn về quán tưởng tiglé là bạn không nên vẽ ra một hình
ảnh tĩnh đọng về một ánh sáng tròn màu trắng ; thay vì
thế, hãy tưởng tượng chính bạn hòa lẫn với một cái
gì thực sự ở đó. Hãy cố gắng cảm thấy tiglé với những
giác quan tưởng tượng của bạn, và hợp nhất hoàn toàn
với nó cho đến khi chỉ có sự rõ ràng và sáng ngời hiện
hữu. Một số người sẽ thấy ánh sáng rõ ràng với giác
quan thấy nằm bên trong họ (nội nhãn căn), trong khi những
người khác sẽ cảm thấy nó hơn là thấy nó. Cảm thấy
thì quan trọng hơn là thấy nó. Quan trọng nhất là hòa lẫn
với nó hoàn toàn.
Khi
nối kết với tiglé sáng rỡ màu trắng trong luân xa giữa
hai lông mày, tâm thức giữ trong sáng tỏ và hiện diện. Khi
kinh nghiệm sánh sáng tăng trưởng, trở nên sống động hơn
và trọn vẹn hơn, hãy để cho bạn trầm mình vào trong ánh
sáng khi tâm thức tiếp tục tăng cường thêm trong sự minh
bạch. Nếu bạn ngủ trong trạng thái này, tỉnh giác trở
nên liên tục. Phát triển sự rõ ràng sáng tỏ và liên tục
hiện diện là mục tiêu của phần thực hành này. Đây là
cái có nghĩa là “tăng cường quang minh của giấc mơ.” Hãy
cố gắng nối kết với ý nghĩa đằng sau chữ “quang minh
sáng tỏ”, để đến kinh nghiệm thực tế. Ẩn dụ chỉ
nhắm đến một kinh nghiệm sâu xa hơn ngôn ngữ và hình dung
về nhãn quan.
Như
thế, “tăng cường” là điều chúng ta gọi là phẩm tính
của những giấc mộng được biểu lộ qua phần thực hành
này. Ở đây, ý nghĩa là phát triển hay lớn lên đến trọn
vẹn của sự phát sanh, của sự dồi dào. Thí dụ được
đưa ra trong Tantra Mẹ là một giấc mộng trong đó một dakini
chơi những nhạc cụ, bài ca, và đem hoa, trái và y phục cho
người nằm mộng. Lại nữa, điều này không có nghĩa là
những giấc mộng phải gồm một dakini hay hình ảnh đặc
biệt nào khác, mà vì hành giả làm mạnh thêm phần thực
hành này, những giấc mộng sẽ có tính chất thỏa mãn, nhiều
màu sắc.
LÀM
MẠNH SỰ HIỆN DIỆN
Phần
thứ ba của thực hành được làm khoảng hai giờ sau thực
hành thứ ba, khoảng bốn giờ trong thời kỳ ngủ. Theo truyền
thống, chúng ta nghĩ đến việc này hai giờ trước lúc bình
minh. Cho phần thực hành này, dùng một tư thế khác : Nằm
nghỉ trên một cái gối cao. Xếp hai chân lại hơi lỏng, khác
với trong tư thế ngồi thiền ; chân phải hay chân trái đặt
trên không thành vấn đề. Tư thế hơi giống như ngủ ở
chỗ ngồi hạng nhất trên máy bay : bạn nằm tựa nhưng không
hoàn toàn ngã hẳn. Dùng một cái gối cao sẽ giúp giữ giấc
ngủ nhẹ nhàng và phát sanh sự sáng sủa hơn trong những giấc
mộng, nhưng hãy chú ý đến sự thoải mái của cổ bạn.
Chớ ở trong một tư thế không thoải mái.
Quan
trọng cần chú ý đến những yêu cầu của thân thể. Khi
tôi còn là một đứa trẻ tôi ngồi xếp bằng ở trường
nhiều giờ mỗi ngày, thế nên tư thế này là rất dễ đối
với tôi. Nhưng với hầu hết người Tây phương thì khác.
Ý tưởng là không chịu đựng đau đớn cả đêm, mà là duy
trì sự liên tục của tỉnh giác. Hãy chỉnh sự thực hành
hợp với mục tiêu đó.
Với
phần thực hành này, hãy thở hai mươi mốt hơi thở sâu,
nhẹ, duy trì sự tỉnh giác đầy đủ về hơi thở.
Chữ
HUNG Tây Tạng
Điểm
chú tâm là luân xa tim, trong đó chữ HUNG màu đen, sáng rỡ
được quán tưởng. Nó hướng tới trước theo thân thể.
Hãy hòa lẫn với chữ ấy để cho mọi sự là chữ HUNG màu
đen. Hãy trở thành HUNG màu đen. Hãy để cho tâm thức yên
nghĩ nhẹ nhàng trong chữ HUNG màu đen và đi vào giấc ngủ.
Phẩm
tính được phát triển ở đây là quyền năng. Bạn không
phải làm gì cả ; chớ có gồng lên để cố gắng cảm thấy
đầy quyền năng. Điều này hầu như là tìm thấy quyền năng
bạn đã có sẵn bên trong. Cảm thức về quyền năng cũng
là một cảm thức an toàn ; những giấc mộng phát sinh trong
phần thực hành này phải có cảm thức quyền năng an toàn
này. Những thí dụ trong Tantra Mẹ là những giấc mộng trong
đó một dakini có quyền năng hướng dẫn người nằm mộng
ngồi trên một cái ngai, hay người nằm mộng đi vào một
lâu đài an toàn để nhận những giáo lý, hay người nằm
mộng được cha hay mẹ ban cho một ưng thuận. Phẩm tính là
cái quan trọng, không phải là hình tượng đặc biệt. Thay
vì một dakini đặt người nằm mộng trên một cái ngai, có
thể một ông chủ cho người nằm mộng một thăng chức, hay
bà mẹ tổ chức một buổi tiệc để ăn mừng những thành
tựu của người nằm mộng. Cả hai giấc mơ đều đặc trưng
cho phần thực hành này. Hơn là một lâu đài, giấc mộng
có thể xảy ra trong một hoàn cảnh làm cho người nằm mộng
cảm thấy an toàn, và thay vì cha mẹ có thể là một người
khác trong giấc mộng đem lại một cảm giác an toàn, chắc
chắn là sức mạnh.
PHÁT
TRIỂN SỰ KHÔNG SỢ HÃI
Phần
thực hành thứ tư là dễ nhất bởi vì không cần thức dậy
trở lại cho đến sáng. Không có tư thế riêng biệt ; chỉ
làm cho tự bạn thoải mái. Không có hơi thở được chỉ
định ; hơi thở được để trong nhịp điệu tự nhiên của
nó. Theo truyền thống đây là hai giờ sau lần thức giấc
cuối cùng, chỉ trước ánh bình minh.
“Luân
xa bí mật” là điểm chú tâm, luân xa đằng sau bộ phận
sinh dục. Trong luân xa là một quả cầu ánh sáng, đen, sáng
rỡ : một tiglé màu đen. Đây là phương diện tối tăm hơn
của trí tưởng tượng ; giáo lý nói rằng những giấc mộng
phát sinh ở đây có khả năng gồm những dakini hung nộ, lửa
trên núi và trong thung lũng, những dòng sông chảy như thác,
hay những cơn gió hủy hoại mọi thứ trên đường đi của
chúng. Đấy là những giấc mộng trong đó những nguyên tố
phá hủy hình ảnh của bản ngã ; những giấc mộng có thể
làm kinh hãi. Hãy khám phá xem thử điều ấy có thật với
bạn hay không. Phẩm tính của những giấc mơ trong phần này
của đêm rốt cuộc là có tính hung nộ.
Trong
phần thực hành này, hãy đi vào tiglé màu đen sáng rỡ trong
luân xa bí mật và trở thành tiglé đó. Rồi hãy để cho tâm
thức bạn thư giãn và chỉ chú tâm nhẹ nhàng vào ánh sáng
đen sáng rỡ ở khắp nơi, nó xuyên thấu qua những giác quan
và tâm thức của bạn, và tự cho phép mình ngủ.
Bốn
phẩm tính – an bình, thành tựu, quyền năng và hung nộ –
là những dãi rất rộng những hình ảnh, cảm giác, xúc tình
và kinh nghiệm hòa hợp với nhau. Như đã nhận xét ở trên,
không nhất thiết bạn phải có những loại giấc mơ đặc
biệt được trình bày như những thí dụ trong giáo lý. Chính
phẩm tính là điểm quan trọng : âm sắc tình cảm, cảm thức
nhận thấy về giấc mộng, những chiều hướng đa dạng nhưng
có thể vi tế trong kinh nghiệm về giấc mộng. Đó là làm
cách nào để xác định giấc mộng nối kết với luân xa
nào, xác định chiều kích nào của kinh nghiệm ; đó không
phải là cố gắng giải mã những nội dung của giấc mộng.
Điều này cũng chỉ ra đâu là nơi khí và tâm thức tập chú
vào trong hệ thống năng lực của thân thể để sản xuất
ra giấc mộng đặc biệt. Giấc mộng cũng có thể bị ảnh
hưởng bởi những biến cố và kinh nghiệm của ban ngày trước
đó. Bằng cách khảo sát tất cả những thứ nối kết với
một giấc mộng, một số lớn thông tin trở nên có thể dùng
được.
Không
còn thức dậy để thực hành lần nào nữa, nhưng dĩ nhiên
bạn sẽ lại thức dậy để bắt đầu ngày mới. Khi thức
dậy, hãy cố gắng tỉnh dậy trong sự hiện diện, trong tỉnh
giác về sự tỉnh dậy. Mục tiêu của thực hành là phát
triển sự liên tục của tỉnh giác qua suốt đêm, trải qua
những thời kỳ ngủ và thức, và suốt qua cả ngày.
TƯ
THẾ
Những
tư thế khác nhau của thân thể mở ra hay đè ép những kinh
mạch năng lực riêng biệt và ảnh hưởng dòng chảy của
năng lực vi tế. Chúng ta dùng cái hiểu này để hỗ trợ
những tiến trình đặc biệt trong sự thực hành. Truyền thống
Tây Tạng xem những xúc tình tiêu cực gắn bó mật thiết
với kinh mạch căn bản bên phía phải của thân thể nơi đàn
ông và bên phía trái nơi đàn bà. Khi một người đàn ông
ngủ nằm bên phải, kinh mạch chuyên chở hầu hết khí tiêu
cực bị đóng bớt và kinh mạch trái mở ra. Cũng thế, phổi
bên phía phải bị nén lại một chút và phổi đối diện
chịu trách nhiệm hơn một chút về việc thở. Chắc chắn
bạn đã quen thuộc với những hậu quả từ việc nằm bên
nào : khi bạn nằm bên phía phải bạn thấy dễ thở hơn qua
lỗ mũi trái. Đối với nam giới, chúng ta thấy tư thế này
lợi cho sự chuyển động của khí tích cực và trí huệ qua
kinh mạch trái. Nữ giới có lợi cho phía ngược lại, mở
kinh mạch bên phía phải khi ngủ ngược lại, mở kinh mạch
trí huệ bên phía phải khi ngủ nằm bên trái. Điều này ảnh
hưởng những giấc mộng theo một cách tích cực và khiến
thực hành giấc mộng dễ dàng hơn. Mở dòng chảy của khí
trí huệ là một biện pháp tạm thời, vì cuối cùng chúng
ta muốn khí đã được cân bằng chảy vào kinh mạch trung
ương.
Hơn
nữa, do chú ý đến tư thế, tỉnh giác được giữ vững
hơn trong suốt giấc ngủ. Ở xứ sở nơi từ đó tôi đến
đây, hầu hết dân chúng ngủ trên một tấm thảm Tây Tạng
khoảng một hai thước. Nếu người ta cử động quá nhiều,
người ta sẽ rớt khỏi giường. Nhưng ít khi điều này xảy
ra, vì khi người ta ngủ trên một cái gì hẹp, tư thế thân
thể được giữ trong tâm thức đang ngủ suốt cả đêm. Chẳng
hạn, nếu người ta ngủ trên một cạnh gờ hẹp, người
ta duy trì đủ tỉnh giác để giữ không cho lăn xuống giường.
Ở đây, trong những cái giường rộng của Tây phương, người
ngủ có thể xoay vòng như kim đồng hồ mà không rớt, nhưng
giữ tư thế dầu sao cũng giúp cho duy trì tỉnh giác.
Bạn
có thể thí nghiệm điều này khi bạn thấy sự tập trung
của bạn bị phân tán. Hãy thay đổi tư thế của bạn và
làm bình lặng, êm nhẹ hơi thở ; bạn sẽ thấy bạn tập
trung rất tốt. Thở, sự chuyển động của khí, tư thế của
thân, những tư tưởng và phẩm tính của tâm thức tất cả
đều liên hệ lẫn nhau ; khám phá sự hiểu biết này cho phép
hành giả phát sanh một cách có ý thức những kinh nghiệm
tích cực.
TẬP
CHÚ TÂM THỨC
Cũng
như nhiều tư thế thân thể làm thay đổi dòng năng lực và
ảnh hưởng đến tính chất của kinh nghiệm, cũng thế là
những quán tưởng khác nhau tập chú trong thân. Mỗi một cái
trong bốn phần của thực hành chính bao gồm tập chú vào
một ánh sáng màu và một tiglé hay chữ trong một của bốn
luân xa.
Khi
chúng ta quán tưởng một hoa sen, một tiglé hay chữ có màu
ở chỗ một luân xa, những vật ấy không thực sự ở đó.
Sự quán tưởng giống như một hình vẽ hay biểu tượng tượng
trưng cho những kiểu mẫu và phẩm tính của năng lực di chuyển
qua chỗ ấy. Dùng những hình ảnh ấy, tâm thức có khả năng
hơn để nối kết với những kiểu mẫu năng lực riêng biệt
trong những nơi chốn chính xác của chúng trong thân thể, và
tâm thức chúng ta chịu ảnh hưởng bởi sự nối kết ấy.
Màu sắc cũng có một hiệu quả trên ý thức, như chúng ta
biết trong kinh nghiệm hàng ngày : nếu chúng ta vào một căn
phòng sơn toàn màu đỏ, kinh nghiệm của chúng ta hoàn toàn
khác với khi chúng ta vào một căn phòng màu trắng, màu lục
hay màu đen. Màu sắc được dùng trong quán tưởng để giúp
thiết lập một phẩm tính riêng biệt trong tâm thức.
Khi
chúng ta thiền định, chúng ta có khuynh hướng nghĩ sự tập
trung và phóng dật như là một công tắc điện hoặc bật
hay đóng, nhưng không phải như vậy. Tỉnh giác có thể được
tập chú trong nhiều mức cường độ khác nhau. Chẳng hạn,
khi tôi ra khỏi một cuộc nhập thất dài ngày trong bóng tối,
mọi hiện tượng thuộc về nhãn quan đều cực kỳ mãnh liệt.
Những nhà cửa và cây cối, mỗi màu sắc và mỗi sự vật
đều rung động. Khi tôi thấy cũng những hình ảnh đó mỗi
ngày, chúng không có gì đáng chú ý, nhưng sau năm mươi ngày
hoàn toàn trong tối, sự tập chú vào cái nhìn thấy của tôi
mạnh đến nỗi mọi sự đều cực kỳ sống động. Ngày
tháng đi qua, những hiện tượng nhãn quan có vẽ mờ đi, nhưng
dĩ nhiên những hiện tượng nhãn quan không thay đổi – chính
sự tỉnh giác của tôi về chúng đã giảm sút. Dù những
trường hợp kinh nghiệm của tôi là không bình thường, chúng
cũng minh họa một nguyên tắc tổng quát. Mọi kinh nghiệm
của chúng ta sẽ sống động hơn nếu chúng ta có cường độ
lớn hơn trong sự tập chú của tỉnh giác của chúng ta.
Trong
thực hành cũng có những cấp bực trong mức độ tập chú.
Khi mới bắt đầu quán tưởng vào ban đêm, có một sự tập
chú rất mạnh mẽ vào tiglé. Khi thân thể thư giãn và giấc
ngủ đến, những hình tướng của sự quán tưởng yếu đi.
Những giác quan mờ nhạt và nghe ngửi, xúc chạm... kém đi.
Sự mờ nhạt của cả những giác quan và sự quán tưởng
là do sự tập chú của tỉnh giác giảm cường độ và sắc
bén. Tiếp theo, hầu như không có cảm nhận gì nữa, là một
mức độ khác của tập chú. Cuối cùng, không có kinh nghiệm
giác quan nào cả và không có hình ảnh quán tưởng.
Khó
nhận xét những phát biểu tinh vi này, nhưng chúng trở nên
rõ ràng khi có nhiều tỉnh giác được đưa vào tiến trình
rơi vào giấc ngủ. Dù sau khi những hình ảnh và giác quan
hoàn toàn tối, sự hiện diện vẫn có thể duy trì được.
Cuối cùng bạn sẽ có thể đi vào giấc ngủ trong khi tập
chú vào chữ A và rồi ở suốt đêm trong sự hiện diện thuần
túy mà chữ A đại diện. Khi bạn làm thế, ngày cả những
khoảnh khắc đầu tiên của tỉnh giác vào buổi sáng sẽ
xảy ra trong sự hiện diện thuần túy.
Chắc
chắn bạn đã có những kinh nghiệm duy trì một sự tập chú
suốt cả đêm. Chẳng hạn khi bạn cần thức dậy sớm theo
sắp xếp, một tỉnh giác nào đó đã có trải qua giấc ngủ.
Như bạn cần thức dậy vào lúc năm giờ sáng. Bạn đi ngủ
nhưng vẫn giữ sự tỉnh giác để coi chừng đồng hồ. Sự
tỉnh giác về nhu cầu dậy sớm vẫn duy trì dù bạn không
quá ý niệm về nó, không suy nghĩ về nó. Sự tập chú rất
vi tế. Đây là loại tập chú để đưa vào thực hành, không
phải là sự tập chú mạnh mẽ, mà là một sự dính dáng
nhẹ nhàng, dịu dàng mà bền bĩ. Nếu bạn vui vẻ trước
khi ngủ vì một cái gì tuyệt diệu xảy ra trong đời bạn,
mỗi khi thức dậy, bạn thức dậy với niềm vui. Nó tiếp
tục qua giấc ngủ ; bạn không cần bám lấy nó một cách
cứng ngắc. Tỉnh giác của bạn chỉ ở lại với nó. Đây
là cách với tiglé : hãy ngủ với nó như bạn ngủ với niềm
vui.
Có
hai tương quan khác biệt với những hiện tượng liên quan
đến sự tập chú vào tiglé. Trong một tương quan, những hiện
tượng được tâm thức nắm lấy. Trong cái kia, những hiện
tượng xuất hiện với tâm thức. Nắm lấy là một hình thức
thô của tương tác nhị nguyên. Đối tượng được xử sự
như một thực thể tách biệt, độc lập – và tâm thức
bám chấp vào nó. Khi sự bám nắm giảm đi, không có nghĩa
là nhị nguyên biến mất –những hiện tượng vẫn còn sanh
khởi trong kinh nghiệm và được ý niệm hóa như những thực
thể tách biệt – mà sự ý niệm hóa là tinh vi hơn. Có thể
nói rằng cái thứ nhất là một sự ý niệm hóa hiếu chiến,
chủ động hơn, cái thứ hai là một sự ý niệm hóa thụ
động và yếu ớt hơn. Vì nó yếu hơn, nó cũng dễ dàng hơn
để tan biến vào rigpa bất nhị.
Chúng
ta bắt đầu sự thực hành với hình thức nhị nguyên thô.
Hãy ý niệm hóa đối tượng và phát triển một kinh nghiệm
về nó càng mạnh mẽ càng tốt bằng cách dùng những giác
quan tưởng tượng : hãy cố gắng quán tưởng nó rõ ràng
và còn quan trọng hơn, hãy cảm thấy nó và để cho nó ảnh
hưởng những cảm giác trong thân thể và năng lực, và phẩm
tính của tâm thức. Sau khi thiết lập một cách mạnh mẽ
đối tượng trong tỉnh giác, hãy nới lỏng sự tập chú.
Để cho đối tượng xuất hiện không cố gắng, nghỉ ngơi
dưới bề mặt của ý thức, hãy móc nối tâm thức với đối
tượng, như tâm thức được nối kết với nhu cầu thức
dậy theo một giờ sắp xếp hay với một niềm vui lớn lao.
Không cần cố gắng hay tập trung – đối tượng ở đó và
bạn ở cùng với nó. Bạn không tạo ra nó nữa, bạn đang
thừa nhận nó, quan sát nó. Đây cũng giống như nằm dài trong
mặt trời ấm áp với đôi mắt nhắm ; không tập trung vào
mặt trời “ngoài kia”, bạn vẫn ấm áp với ánh sáng, mà
cũng không lìa khỏi nó. Không phải là bạn có một kinh nghiệm
về ấm áp và ánh sáng – bạn không cần cố gắng giữ sự
tập trung về chúng – kinh nghiệm của bạn là ấm áp và
ánh sáng, bạn hòa lẫn với nó. Đây là cách làm thế nào
để ở với sự quán tưởng trong khi thực hành.
Một
vấn đề thường gặp lúc bắt đầu thực hành là sự đứt
đoạn của giấc mộng xảy ra khi sự tập chú được giữ
quá chặt. Sự tập chú cần nhẹ nhàng : nó “ở với” tiglé
hơn là cưỡng ép tâm thức vào đó. Sự so sánh với điều
này trong giấc ngủ bình thường là sự khác biệt giữa việc
có những hình ảnh và tư tưởng trôi dạt qua tâm thức khi
bạn ngủ và việc trụ vào một đối tượng một cách xúc
động và căng thẳng, điều này dẫn đến chứng mất ngủ.
Hãy để kinh nghiệm dạy bạn ; hãy chú ý đến cái gì hiệu
quả và cái gì không, và chỉnh đốn. Nếu sự thực hành
giữ bạn tỉnh táo mãi, hãy giảm bớt sức mạnh tập chú
cho đến khi bạn ngủ được.
Tập
chú vào tiglé hay chữ, hoặc bằng bám nắm hay bằng cách để
cho nó xuất hiện, chỉ là một bước đầu tiên. Ý định
thực sự là trở nên hợp nhất với đối tượng. Chúng ta
hãy lấy chữ A chẳng hạn. A là biểu tượng của trạng thái
tự nhiên không sanh, không biến đổi của tâm thức ; thay
vì tập chú vào nó như một đối tượng, tốt hơn là hòa
lẫn với tinh túy toàn khắp mà nó tượng trưng. Thực ra điều
này xảy ra mỗi đêm, bởi vì rơi vào giấc ngủ là “rơi
vào” rigpa thanh tịnh, thuần túy, nhưng khi người ta bị đồng
hóa với tâm thức ý niệm thô kệch – nó sẽ ngừng hoạt
động trong giấc ngủ sâu – thì kinh nghiệm là vô thức hơn
là rigpa. Rigpa có thể được khám phá trong giấc ngủ bởi
vì nó đã có sẵn ở đó.
Vượt
khỏi việc để cho đối tượng xuất hiện với tâm thức,
có trạng thái bất nhị. Tâm thức vẫn còn tập chú, nhưng
không có sự đồng hóa với những ý niệm, và tư tưởng
không được dùng để quán tưởng tiglé hoặc chữ A. Tâm
thức chỉ đơn giản hiện diện trong tỉnh giác mà không phân
chia thành chủ thể và đối tượng. Khi có tỉnh giác tập
chú nhưng không có người tập chú và không có đối tượng,
bạn có thật nghĩa của tỉnh giác bất nhị. Trong trạng thái
bất nhị, A không là “ở kia” và bạn không là “ở đây”.
Hình ảnh có thể còn hay không còn, nhưng bất luận trường
hợp nào, kinh nghiệm không phân chia thành chủ thể và đối
tượng. Chỉ có A và bạn là nó. Đây là ý nghĩa chữ A trong
sáng nhuốm màu đỏ bởi ánh sáng của những cánh hoa sen :
bạn là tánh giác thuần túy bất nhị tượng trưng bởi chữ
A và khi kinh nghiệm khởi lên, nó được tượng trưng bởi
màu đỏ của những cánh hoa, nó nhuộm màu chữ A nhưng sự
sáng rỡ của hiện diện bất nhị không mất.
Thường
thường những hành giả nói họ phải có một thời gian nhọc
nhằn để duy trì sự quán tưởng, hay sự quán tưởng ngăn
cản giấc ngủ. Hiểu sự tiến bộ này trong thực hành sẽ
soi sáng một số những vấn đề này. Sự tiến bộ là thấy
nó, cảm thấy nó và rồi là nó. Khi bạn hoàn toàn hòa lẫn
với đối tượng, sự quán tưởng có thể ngừng lại, và
điều này cũng tốt.
Giáo
lý cũng chỉ cho loại tập chú vào lúc chết. Khi sự hiện
diện được duy trì trải qua cái chết, toàn thể tiến trình
là rất khác. Duy trì sự hiện diện này quả thực là tinh
túy của thực hành chuyển di tâm thức vào lúc chết (phowa).
Trong sự thực hành này, ý định là chuyển tâm thức trực
tiếp vào trong không gian thuần túy của tỉnh giác (dharmakaya*,
pháp thân). Nếu thành công, hành giả sẽ không trải nghiệm
sự ồn ào và phóng dật của kinh nghiệm sau cái chết mà
thay vào đó là được giải thoát trực tiếp vào tịnh quang.
Không
có khả năng an trụ trong sự hiện diện thuần túy, chúng
ta phóng dật và lang thang vào giấc mộng, vào ảo tưởng,
vào sanh tử, vào đời sau, nhưng nếu chúng ta duy trì được
sự hiện diện thuần túy chúng ta thấy mình ở trong tịnh
quang suốt đêm, chúng ta an trụ trong bản tánh của tâm thức
suốt ngày, và chúng ta được giải thoát khi bước vào trung
ấm sau cái chết.
Để
kinh nghiệm những quán tưởng ảnh hưởng lên ý thức như
thế nào, hãy thử làm điều này : hãy tưởng tượng đang
ở trong bóng tối hoàn toàn, tối đen toàn diện. Không chỉ
là bóng tối quanh bạn, mà bóng tối trong cái nhìn của bạn,
trên da bạn, trên và dưới bạn, trong mỗi tế bào của thân
thể bạn. Hầu như bạn có thể cảm thấy, ngửi thấy, và
nếm được bóng tối.
Bây
giờ hãy tưởng tượng bóng tối thình lình tan biến để
cho ánh sáng sáng tỏ, toàn khắp chung quanh bạn và trong bạn,
ánh sáng toàn khắp chính là bạn.
Bạn
sẽ có thể cảm thấy sự khác biệt trong hai quán tưởng
này qua những giác quan vi tế tưởng tượng chúng soi sáng
thế giới bên trong của bạn, không chỉ phương diện nhãn
quan của tưởng tượng. Trong bóng tối bạn có một kinh nghiệm,
có lẽ cả một chút sợ hãi hay hung nộ, nhưng trong ánh sáng
thì có sự rõ ràng sáng tỏ.
Ở
đây là một thí nghiệm khác để cho bạn một kinh nghiệm
nào đó về loại tập chú mà sự thực hành đòi hỏi. Hãy
thư giãn thân thể bạn. Hãy tưởng tượng một chữ A màu
đỏ, sáng rỡ trong luân xa cổ họng của bạn. Ánh sáng đỏ
thì đậm, lộng lẫy, lôi cuốn. Hãy dùng trí tưởng tượng
của bạn để cảm thấy ánh sáng, để cho nó làm bình an
bạn, thư giãn bạn, làm bình lặng thân tâm bạn, chữa lành
cho bạn. Ánh sáng rộng ra, tràn đầy luân xa cổ họng và
rồi toàn thân bạn. Khi đến đâu, nó làm thư giãn mọi căng
thẳng. Mọi thứ nó chạm đến đều biến tan thành ánh sáng
đỏ. Toàn thể thân bạn tan vào ánh sáng đỏ. Hãy để cho
ánh sáng thấm khắp sự tỉnh giác của bạn để mọi cái
bạn thấy đều là ánh sáng đỏ sáng rỡ, mọi cái bạn cảm
nhận là ánh sáng đỏ bình an, mọi âm thanh bạn nghe là ánh
sáng đỏ thanh bình. Chớ nghĩ về điều này mà hãy kinh nghiệm
nó. Để cho tâm thức bạn là ánh sáng đỏ đến độ không
có một “cái bạn” nào đang biết về một đối tượng,
chỉ có ánh sáng đỏ là chính bản thân tỉnh giác. Hãy cho
phép bất kỳ cái gì khởi lên như một chủ thể hay đối
tượng tan biến vào ánh sáng đỏ. Mọi sự – thân thể và
năng lực, thế giới và biến cố trong tâm – tan biến cho
đến khi bạn hoàn toàn hòa lẫn với ánh sáng đó. Không có
“trong” hay “ngoài”, chỉ ánh sáng đỏ. Đây là như thế
nào hòa lẫn với A và như thế nào tập chú vào ban đêm,
hợp nhất với đối tượng của sự quán tưởng.
TRÌ