PHẦN
HAI:
NHỮNG
LOẠI VÀ NHỮNG CÁCH SỬ DỤNG GIẤC MỘNG
Mục
đích của thực hành giấc mộng là giải thoát ; ý định
của chúng ta là chứng ngộ cái hoàn toàn vượt khỏi những
giấc mộng. Nhưng cũng có những sử dụng tương đối về
giấc mộng, chúng có thể là lợi lạc trong đời sống hàng
ngày của chúng ta. Những sử dụng này bao gồm cả việc dùng
thông tin mà chúng ta lượm lặt từ những giấc mộng và trực
tiếp có lợi lạc từ những kinh nghiệm chúng ta có trong giấc
mộng. Thí dụ ở Tây phương, sự sử dụng giấc mộng trong
phép điều trị là phổ biến và có nhiều nghệ sĩ và khoa
học gia dùng tính sáng tạo của giấc mộng để làm lợi
cho công việc của họ. Người Tây Tạng cũng dựa vào giấc
mộng theo nhiều cách. Phần này diễn tả một số những sử
dụng tương đối về những giấc mộng.
1
Ba Loại Giấc Mộng
Có
ba loại giấc mộng tạo thành một sự tiến bộ trong thực
hành giấc mộng : 1) những giấc mộng sanh tử bình thường,
2) những giấc mộng của sự sáng tỏ, và 3) những giấc mộng
tịnh quang. Hai loại đầu được phân biệt do những khác
biệt về những nguyên nhân của chúng, và trong mỗi loại,
người nằm mộng có thể minh bạch hay không minh bạch. Trong
những giấc mộng tịnh quang, có tỉnh giác, nhưng không có
sự phân hai chủ thể và đối tượng. Những giấc mộng tịnh
quang xảy ra trong tỉnh giác bất nhị.
NHỮNG
GIẤC MỘNG SANH TỬ
Những
giấc mộng hầu hết chúng ta có hầu như trong mọi lúc là
những giấc mộng sanh tử khởi sanh từ những dấu vết nghiệp*.
Ý nghĩa trong những giấc mộng này là ý nghĩa chúng ta phóng
chiếu vào chúng ; nó được người nằm mộng gán cho hơn
là nội tại trong giấc mộng. Đây cũng là trường hợp ý
nghĩa trong đời sống lúc thức. Điều này không làm cho những
giấc mộng có ý nghĩa thành không quan trọng và làm cho ý
nghĩa của đời sống lúc thức thành quan trọng. Tiến trình
này tương tự với việc đọc một cuốn sách. Một cuốn
sách chỉ là những dấu hiệu trên giấy, nhưng vì chúng ta
đem cảm thức về ý nghĩa của chúng ta vào đó mà chúng ta
có thể rút ý nghĩa từ nó. Và ý nghĩa của một cuốn sách,
cũng như một giấc mộng, tùy thuộc vào sự diễn giải. Hai
người có thể đọc cùng một cuốn sách và có những kinh
nghiệm hoàn toàn khác nhau ; một người có thể thay đổi
toàn bộ đời sống của y dựa trên ý nghĩa đã tìm thấy
trong những trang sách ; trong khi bạn y có thể chỉ thấy cuốn
sách khá thích thú hay thậm chí không phải thế nữa. Cuốn
sách không thay đổi. Ý nghĩa được phóng chiếu lên chữ
câu bởi người đọc, và rồi đọc lại.
Mộng
bình thường
(Khởi
sanh từ những dấu vết nghiệp thuộc cá nhân) |
Không
minh bạch
Minh
bạch |
Những
giấc mộng của sự sáng tỏ
(Khởi
sanh từ những dấu vết nghiệp siêu cá nhân) |
Không
minh bạch
Minh
bạch |
Những
giấc mộng tịnh quang
(Bất
nhị) |
Minh
bạch
(Vượt
khỏi nhị nguyên chủ thể – đối tượng) |
NHỮNG
GIẤC MỘNG CỦA SỰ SÁNG TỎ
Khi
có tiến bộ trong thực hành giấc mộng, những giấc mộng
trở nên sáng tỏ hơn và chi tiết hơn, và một phần lớn
của mỗi giấc mộng có thể được nhớ lại. Đây là kết
quả của việc đem nhiều tỉnh giác hơn vào trạng thái mộng.
Vượt lên sự tỉnh giác càng tăng trong những giấc mộng
bình thường là một loại mộng thứ hai được gọi là giấc
mộng của sự sáng tỏ, nó khởi lên khi tâm thức và khí
được quân bình và người nằm mộng đã phát triển khả
năng ở lại trong sự hiện diện vô ngã. Khác với giấc mộng
sanh tử trong đó tâm thức bị trôi dạt đây đó bởi khí
nghiệp, trong giấc mộng của sự sáng tỏ, người nằm mộng
ổn định, vững chắc. Dù những hình ảnh và thông tin khởi
lên, chúng ít được đặt nền trên những dấu vết nghiệp
cá nhân và thay vào đó trình bày cái hiểu biết có giá trị
trực tiếp từ tâm thức nằm dưới mức độ của cái ngã
quy ước. Điều này cũng tương tự với những khác biệt
trong khí nghiệp thô của kinh mạch trắng, nó nối kết với
xúc tình tiêu cực, và khí trí huệ của kinh mạch đỏ. Chúng
cả hai đều là khí nghiệp – những năng lực tham dự vào
những kinh nghiệm nhị nguyên – nhưng một cái thì thanh tịnh
và kém mê lầm hơn cái kia, cũng thế giấc mộng của sự
sáng tỏ thì thanh tịnh và kém mê lầm hơn giấc mộng sanh
tử. Trong giấc mộng của sự sáng tỏ, như có cái gì được
trao cho hay được tìm thấy bởi người nằm mộng, ngược
lại với giấc mộng sanh tử trong đó ý nghĩa được phóng
chiếu từ người nằm mộng lên sự thanh tịnh của kinh nghiệm
nền tảng.
Những
giấc mộng của sự sáng tỏ có lúc khởi lên cho bất kỳ
ai, nhưng chúng không thường cho đến khi nào sự thực hành
được phát triển và vững chắc. Với hầu hết chúng ta,
mọi giấc mộng đều là giấc mộng sanh tử đặt nền trên
cuộc sống hàng ngày và những phiền não của chúng ta. Dù
chúng ta có thể có một giấc mộng về giáo lý, về thầy
chúng ta hay sự thực hành, hay chư Phật, hay chư dakini*, thì
giấc mộng vẫn còn là cái gì gần giống như một giấc mộng
sanh tử. Nếu chúng ta đi vào thực hành với một vị thầy,
dĩ nhiên bấy giờ chúng ta sẽ mộng về những cái ấy. Là
một dấu hiệu tích cực khi có những giấc mộng ấy vì thế
có nghĩa là chúng ta dấn thân vào những giáo lý, nhưng bản
thân sự dấn thân thì nhị nguyên và bởi thế nằm trong lãnh
vực sanh tử. Có những phương diện tốt hơn và xấu hơn
của sanh tử, và tốt là dấn thân trọn vẹn vào vào thực
hành và những giáo lý bởi vì đó là con đường giải thoát.
Cũng tốt khi không lầm lẫn những giấc mộng sanh tử với
những giấc mộng của sáng tỏ.
Nếu
chúng ta lầm lẫn tin rằng những giấc mộng sanh tử cho chúng
ta sự hướng dẫn chân thật, rồi thay đổi đời sống hàng
ngày của chúng ta, cố gắng theo những mệnh lệnh của của
những giấc mộng, việc ấy có thể trở thành một công việc
làm mất hết thì giờ. Đó cũng là một cách để bị kẹt
vào trong bi kịch cá nhân, tin rằng mọi giấc mộng của chúng
ta là những thông điệp từ một nguồn cao hơn, tâm linh hơn.
Không phải như vậy. Chúng ta cần chú ý chặt chẽ vào những
giấc mộng và phát triển một hiểu biết nào đó về những
cái có nội dung thật sự và những cái chỉ là những biểu
lộ của những xúc tình, tham, sợ, mong và những mộng tưởng
của đời sống hàng ngày.
NHỮNG
GIẤC MỘNG TỊNH QUANG
Có
một loại giấc mộng thứ ba xảy ra khi người ta đã đi khá
xa trên đường đạo, giấc mộng tịnh quang. Nó khởi lên
từ khí bổn nguyên trong kinh mạch trung ương. Tịnh quang thường
được nói đến trong những giáo lý về yoga giấc ngủ và
chỉ ra một trạng thái thoát khỏi giấc mộng, tư tưởng,
và hình ảnh, nhưng cũng có một giấc mộng tịnh quang trong
đó người nằm mộng ở yên trong bản tánh của tâm thức.
Đây không phải là một thành tựu dễ dàng ; hành giả phải
rất vững chắc trong tỉnh giác bất nhị trước khi giấc
mộng tịnh quang sanh khởi. Gyalshen Milu Samleg, tác giả của
những bình giảng quan trọng về Tantra Mẹ, viết rằng ngài
thực hành miên mật trong chín năm trước khi ngài bắt đầu
có những giấc mộng tịnh quang.
Phát
triển khả năng cho những giấc mộng tịnh quang thì tương
tự với phát triển khả năng an trụ trong sự hiện diện
bất nhị của rigpa vào ban ngày. Lúc bắt đầu, rigpa và tư
tưởng có vẻ khác nhau, đến nỗi trong kinh nghiệm về rigpa
thì không có tư tưởng, và nếu tư tưởng khởi lên chúng
ta bị phóng dật và mất rigpa. Nhưng khi sự vững chắc trong
rigpa được phát triển, tư tưởng chỉ đơn giản khởi lên
và tan biến mà không có chút che ám nào rigpa ; hành giả an
trụ trong tỉnh giác bất nhị. Những tình huống này tương
tự với học chơi trống và chuông đồng thời trong thực
hành nghi lễ : lúc ban đầu chúng ta chỉ có thể làm được
một thứ. Nếu chơi chuông, chúng ta mất nhịp điệu của
trống, và ngược lại. Sau khi chúng ta đã vững chắc, chúng
ta có thể chơi cả hai cùng một lúc.
Giấc
mộng tịnh quang không như nhau với giấc mộng của sự sáng
tỏ. Giấc mộng của sáng tỏ khi khởi lên từ những phương
diện sâu xa và tương đối thanh tịnh của tâm thức và phát
sanh từ những dấu vết nghiệp tích cực, vẫn còn xảy ra
trong nhị nguyên. Giấc mộng tịnh quang, khi khởi từ những
dấu vết nghiệp của quá khứ, không đưa đến kinh nghiệm
nhị nguyên. Hành giả không tái lập một chủ thể quan sát
đối với giấc mộng như một đối tượng, cũng không như
một chủ thể trong thế giới của giấc mộng, mà an trụ
hoàn toàn hội nhập với rigpa bất nhị.
Những
khác biệt trong ba loại giấc mộng có vẻ tinh tế. Những
giấc mộng sanh tử khởi từ những dấu vết nghiệp và xúc
tình của cá nhân, và tất cả nội dung giấc mộng được
tạo thành bằng những dấu vết và xúc tình này. Giấc mộng
của sự sáng tỏ bao gồm nhiều hiểu biết khách quan hơn,
nó khởi từ những dấu vết cộng nghiệp và có thể dùng
được cho ý thức khi nó không bị ràng buộc với những dấu
vết nghiệp cá nhân. Bấy giờ ý thức không bị trói buộc
bởi không gian, thời gian và lịch sử cá nhân, và người
nằm mộng có thể gặp những chúng sanh thực, nhận những
giáo lý từ những vị thầy thực, và tìm thấy những thông
tin hữu ích cho những người khác cũng như cho chính nó.
Giấc
mộng tịnh quang không được định nghĩa bởi nội dung giấc
mộng, mà bởi vì không có một người mộng làm chủ thể
hay một bản ngã trong mộng, cũng không có một cái ngã nào
trong tương quan nhị nguyên với giấc mộng hay nội dung giấc
mộng. Dù một giấc mộng khởi lên, nó là một hoạt động
của tâm thức và hoạt động ấy không quấy phá gì đến
sự vững chắc an định của hành giả trong tịnh quang.
2
Những Sử Dụng Giấc Mộng
Giá
trị vĩ đại nhất của những giấc mộng nằm trong bối cảnh
của một hành trình tâm linh. Quan trọng nhất là chúng có
thể được dùng như một thực hành trong chính giấc mộng.
Chúng cũng có thể cung cấp những kinh nghiệm động viên người
nằm mộng đi vào con đường tâm linh. Hơn nữa chúng có thể
là một phương tiện để xác định sự thực hành có được
làm đúng hay không, sự tiến bộ đã thực hiện được bao
nhiêu, và cần chú ý cái gì.
Cùng
cách ấy, nếu chúng ta chú ý vào những giấc mộng chúng ta
có thể ước định sự trưởng thành của chính chúng ta trong
việc thực hành. Đôi khi trong trạng thái thức chúng ta nghĩ
chúng ta đang làm rất tốt, nhưng khi ngủ chúng ta thấy rằng
ít ra có phần nào trong chúng ta còn mê mờ lắm hay còn kẹt
trong trong cái tiêu cực. Điều này không nên xem như một sự
ngã lòng. Là một lợi lạc khi những phương diện của tâm
thức biểu lộ ra trong mộng và chỉ ra chỗ nào chúng ta cần
làm việc để tiến bộ. Ngược lại, khi thực hành trở nên
rất mạnh mẽ, những kết quả của thực hành sẽ biểu lộ
trong mộng và cho chúng ta tự tin vào những nỗ lực của chúng
ta.
KINH
NGHIỆM TRONG MỘNG
Kinh
nghiệm thì rất uyển chuyển mềm dẻo trong giấc mộng và
chúng ta tự do với rất nhiều cái mà chúng ta không thể khi
thức dậy, gồm những thực hành đặc biệt làm cho sự phát
triển của chúng ta dễ dàng. Chúng ta có thể chữa lành những
vết thương trong tinh thần, những khó khăn phiền não mà chúng
ta đã không thể hàng phục. Chúng ta có thể dời bỏ những
khối chướng ngại kiên cố nằm trong sự vận chuyển tự
do của năng lực trong thân thể. Và chúng ta có thể xuyên
thủng những che ám trong tâm thức bằng cách dùng kinh nghiệm
vượt khỏi những biên giới và giới hạn thuộc ý niệm.
Nói
chung, những công việc này được hoàn thành tốt nhất sau
khi chúng ta phát triển khả năng duy trì sự sáng sủa minh
bạch trong giấc mộng. Nó chỉ được đề cập ở đây như
một khả tính ; trong phần sau về thực hành có nhiều chi
tiết về điều phải làm trong giấc mộng một khi minh bạch
đã đạt được.
HƯỚNG
DẪN VÀ NHỮNG KHUYÊN NHỦ
Hầu
hết người Tây Tạng – những đạo sư tâm linh cao cả và
người bình thường, đơn giản – xem những giấc mộng là
một nguồn tiềm năng của cả hiểu biết tâm linh sâu xa nhất
lẫn của sự hướng dẫn cho đời sống hàng ngày. Những
giấc mộng được tham vấn để chẩn đoán bệnh tật, cho
những chỉ dẫn cần có những thực hành tịnh hóa hay soi
sáng nào, và cho những chỉ dẫn cần phải chú ý đến những
tương quan với những bổn tôn và những hộ pháp nào. Sử
dụng những giấc mộng như vậy, có thể bị cho là mê tín,
nhưng ở một mức độ sâu xa những giấc mộng miêu tả trạng
thái của người mộng và tình trạng mối tương quan của
nó với những năng lực khác nhau. Ở Đông phương, người
ta nhận biết những năng lực này và liên hệ với chúng như
những hộ pháp và hồn linh che chở cũng như những tình trạng
sinh lý và những tình trạng tâm linh bên trong. Ở Tây phương
với sự nghiên cứu còn rất mới về những giấc mộng, những
năng lực này có thể được hiểu như những đau ốm mới
chớm hay những mặc cảm, những mô hình mẫu (archetype) bắt
rễ thâm sâu.
Một
số người làm việc với những giấc mộng suốt trọn đời
họ, như một hình thức hàng đầu để tiếp thông với những
phương diện sâu hơn của chính họ và với những thế giới
khác. Mẹ tôi là một thí dụ tốt cho điều này. Bà là một
hành giả và là một người đàn bà rất đáng yêu và tốt
lòng. Bà thường nói với cả gia đình những giấc mộng của
bà vào buổi sáng, khi chúng tôi tụ họp cho bữa ăn, và đặc
biệt khi giấc mộng có liên hệ đến hộ pháp và người
che chở của bà là Namthel Karpo.
Namthel
là một hộ pháp của vùng Bắc Tây Tạng, miền Hor, nơi mẹ
tôi lớn lên. Dù sự thực hành về ngài cả Tây Tạng đều
biết, ngài được thờ phụng hàng đầu ở làng mẹ tôi và
vùng lân cận. Mẹ tôi thực hành về ngài, nhưng cha tôi thì
không, và ông thường chọc bà sau khi bà kể lại những giấc
mộng của bà.
Tôi
nhớ rõ ràng mẹ tôi kể cho chúng tôi một giấc mộng trong
đó Namthel gọi bà. Như bao giờ cũng vậy, ngài mặc áo dài
trắng và đôi đeo tai bằng vỏ ốc tù và, mái tóc dài. Vào
lúc ấy ngài trông có vẻ giận dữ. Ngài đến qua cửa cái
và ném mạnh một cái túi nhỏ trên sàn. Ngài nói, “Ta luôn
luôn nói với con hãy chăm lo cho mình nhưng con làm điều đó
không được tốt !” Ngài nhìn sâu vào mắt mẹ tôi và rồi
biến mất.
Vào
buổi sáng mẹ tôi không chắc giấc mộng có nghĩa gì. Nhưng
đến chiều tối một người đàn bà vẫn thường làm việc
trong nhà của chúng tôi định lấy tiền của chúng tôi. Bà
dấu nó dưới áo quần nhưng khi đi ngang qua trước mặt mẹ
tôi, tiền rơi ra. Cũng là một cái túi nhỏ đúng như mẹ
tôi đã thấy trong trong mộng. Mẹ tôi cầm túi lên và ở
trong là tất cả số tiền của gia đình tôi, sắp bị đánh
cắp. Mẹ tôi xem biến cố này là một hoạt động bảo vệ
của hộ pháp và tin rằng Namthel đã khiến cho cái túi rơi
xuống sàn.
Namthel
xuất hiện trong giấc mộng của mẹ tôi suốt đời bà, luôn
luôn trong một hình dáng. Dù những thông điệp ngài cho bà
có thay đổi, chúng thường là những giấc mộng giúp đỡ
cho bà theo một cách nào đấy, bảo vệ và hướng dẫn bà.
Đến
năm lên mười tôi vào trường Thiên Chúa Giáo, sau đó cha
mẹ tôi đem tôi ra và cho tôi vào Tu viện Meri. Một vị sư
ở đó tên là Gen Sengtuk thỉnh thoảng kể cho tôi nghe những
giấc mộng của ông. Tôi nhớ một số những giấc mộng đó
rất rõ ràng tương tự với với những giấc mộng của mẹ
tôi. Ông thường mộng thấy Sippe Gyalmo, một trong những vị
che chở đã giác ngộ quan trọng và cổ thời của truyền
thống Bošn. Sự thực hành về Sippe Gyalmo cũng được làm
trong những trường phái Phật giáo Tây Tạng ; trong Điện
Potala ở Tây Tạng, có một phòng để bàn thờ của ngài nữ
này. Những giấc mộng của Gen Sengtuk về Sippe Gyalmo hướng
dẫn ông trong đời sống và trong thực hành.
Sippe
Gyalmo không xuất hiện trong giấc mộng của ông hung dữ như
chúng ta thấy nơi các bức vẽ trong các đền thờ hay phòng
thiền. Ông lại thấy ngài là một người đàn bà rất già,
tóc xám, trong một thân thể không còn thẳng, chống gậy.
Gen Sengtuk luôn luôn gặp Sippe Gyalmo trong một sa mạc bao la
nơi đó ngài có một cái lều. Không có ai sống ở đó cả.
Nhà sư đọc những biểu lộ của ngài, mặt ngài vui hay buồn,
hay có sự giận dữ trong cách ngài di chuyển. Và hiểu ngài
theo cách này, ông biết làm thế nào để chữa những chướng
ngại trong thực hành của mình hay thay đổi một số diều
nào đó trong cuộc đời theo một chiều hướng tích cực hơn.
Ngài đã hướng dẫn ông bằng những giấc mộng của ông
như vậy đó. Ông giữ gìn một sự nối kết chặt chẽ với
ngài qua những giấc mộng và ngài xuất hiện với ông trong
một cách thức giống nhau suốt cuộc đời ông. Những kinh
nghiệm của ông với ngài là những thí dụ tốt về giấc
mộng của sự sáng tỏ.
Bấy
giờ tôi còn nhỏ, và tôi có thể nhớ lại rõ ràng một hôm,
khi nghe nhà sư kể lại một trong những giấc mộng của ông,
thình lình tôi sững sờ như thể ông có một người bạn
ở một nơi khác xa xôi. Tôi nghĩ thật là hay khi có một vài
người bạn để chơi trong những giấc mộng, vì suốt ngày
tôi không thể chơi nhiều, việc học thì rất nặng và những
vị thầy thì nghiêm ngặt. Đó là ý nghĩ của tôi lúc bấy
giờ. Thế nên, bạn thấy đó, cái hiểu về giấc mộng và
sự thực hành giấc mộng của chúng ta, và động lực để
thực hành, có thể trở nên sâu thẳm hơn và chín dần khi
chúng ta lớn lên.
DỰ
ĐOÁN
Nhiều
thiền sư, vì sự vững chắc của thực hành thiền định,
có thể dùng những giấc mộng của sự sáng tỏ để dự
đoán. Để làm như vậy, người nằm mộng phải có thể giải
thoát mình khỏi hầu hết những dấu vết nghiệp cá nhân
mà bình thường đã tạo thành giấc mộng. Nếu khác đi, thì
thông tin không có được từ giấc mộng mà được phóng chiếu
lên giấc mộng, như trường hợp bình thường của những
giấc mộng sanh tử. Cách dùng những giấc mộng như thế này
trong truyền thống Tây Tạng được xem là một trong vài phương
pháp của thuật bói toán và rất phổ thông với người Tây
Tạng. Là chuyện thường khi một học trò hỏi vị thầy hướng
dẫn cho một công việc hay chỉ dẫn cho hướng hàng phục
một chướng ngại, và vị thầy thường xoay về những giấc
mộng để tìm câu trả lời cho học trò.
Thí
dụ khi tôi ở Tây Tạng tôi đã gặp một phụ nữ Tây Tạng
đã chứng ngộ tên là Khachod Wangmo. Bà rất có thần lực
và là một “người khám phá kho tàng” (terton) đã tìm lại
được nhiều giáo lý được cất giấu. Tôi hỏi bà về tương
lai của tôi, một câu hỏi tổng quát về những chướng ngại
tôi sẽ gặp... Tôi đã xin bà có một giấc mộng của sự
sáng tỏ dành cho tôi.
Thường
thì trong tình huống đó, người nằm mộng đòi một cái gì
sở hữu của người xin giấc mộng. Tôi đã đưa cho Khachod
Wangmo cái áo lót tôi đang mặc. Cái áo thun ấy đại diện
cho tôi về mặt năng lực, và bằng cách tập chú vào nó bà
có thể nối kết với tôi. Bà đặt nó dưới gối bà ban
đêm, rồi ngủ và có một giấc mộng của sự sáng tỏ. Sáng
hôm sau bà cho tôi một giải thích dài về điều sẽ đến
trong đời tôi, những sự việc tôi cần tránh và những sự
việc tôi cần làm. Nó là một hướng dẫn rõ ràng và giúp
ích.
Đôi
khi một học trò hỏi một giấc mộng nói cho chúng ta điều
gì về tương lai có chứng tỏ rằng tương lai là cố định
hay không. Trong truyền thống Tây Tạng, chúng tôi tin rằng
không. Những nguyên nhân của mọi sự có thể xảy ra đã
hiện diện bây giờ, ngay lúc này, bởi vì những hậu quả
của quá khứ là những hạt giống cho những hoàn cảnh tương
lai. Những nguyên nhân hàng đầu của bất cứ tình huống
nào trong tương lai được tìm thấy trong cái đã xảy ra. Nhưng
những nguyên nhân phụ cần thiết cho sự biểu lộ của những
hạt giống nghiệp thì không cố định, chúng có thể thay
đổi, gia giảm. Đấy là tại sao sự thực hành là có hiệu
quả, và tại sao bệnh tật có thể chữa lành. Nếu khác đi,
sẽ không có nghĩa gì khi cố gắng thử làm việc này việc
nọ, vì chẳng có gì có thể thay đổi. Nếu chúng ta có một
giấc mộng về ngày mai, rồi ngày mai đến và mọi sự xảy
ra đúng như trong giấc mộng, điều đó không có nghĩa là
tương lai thì cố định và không thể thay đổi ; nó chỉ
có nghĩa là chúng ta đã không thay đổi nó.
Hãy
tưởng tượng một dấu vết nghiệp mạnh mẽ, in vào với
một xúc tình mạnh mẽ nó là một nguyên nhân hàng đầu cho
một hoàn cảnh đặc biệt, và nó đang đi đến quả. Nhưng
chính là cuộc đời đang sống của chúng ta cung cấp những
nguyên nhân phụ cần thiết cho nguyên nhân hàng đầu biểu
lộ. Trong một giấc mộng về tương lai, nguyên nhân đang hiện
diện và dấu vết đang chín thành sự biểu lộ quy định
giấc mộng, với kết quả rằng giấc mộng là một tưởng
tượng của những hệ quả. Đấy cũng như chúng ta vào một
nhà bếp và có một người nấu ăn tuyệt diệu lối Ý ở
đó, và mùi hương những gia vị và đồ nấu, và những thành
phần món ăn được để trên bàn. Chúng ta có thể tưởng
tượng hầu hết hầu hết bữa ăn đang được sửa soạn,
thấy hầu hết những kết quả của tình huống. Điều ấy
giống như giấc mộng. Chúng ta có thể không hoàn toàn chính
xác, nhưng chúng ta đoán đúng hầu hết sự việc. Và rồi
khi chúng ta được dọn bữa ăn, nó sẽ hòa lẫn với những
mong ước của chúng ta, những khác biệt sẽ mờ đi, và đó
sẽ là bữa ăn chúng ta mong đợi dù nó không hoàn toàn như
nhau.
Tôi
nhớ một thí dụ về điều này khi tôi còn nhỏ. Đó là một
ngày được gọi là Diwali ở Ấn Độ, thường được cử
hành với pháo. Tôi và những bạn tôi không có tiền mua pháo,
thế nên chúng tôi tìm những pháo đốt rồi mà không nổ.
Chúng tôi gom chúng lại và đốt chúng lần nữa. Tôi rất
nhỏ, bốn hay năm tuổi. Một cái pháo hơi ướt, và tôi để
nó trên than đỏ. Tôi nhắm mắt, thảy vào than và dĩ nhiên
nó nổ. Trong một khoảnh khắc tôi chẳng thấy gì ngoài những
đom đóm, và ngay lúc ấy tôi nhớ lại giấc mộng đêm hôm
trước. Nó đúng y như vậy, toàn bộ kinh nghiệm ấy. Dĩ nhiên
sẽ ích lợi hơn nếu tôi nhớ lại giấc mộng trước khi
biến cố xảy ra ! Có nhiều trường hợp như thế, trong đó
những nguyên nhân của những tình huống tương lai đã được
dệt thành một giấc mộng về một tương lai gần giống,
nhưng không nhất thiết phải giống, để có thể khám phá.
Đôi
khi trong một giấc mộng những nguyên nhân và kết quả có
ảnh hưởng vào người khác. Khi tôi còn ở Tây Tạng, thầy
tôi, Lopon Tenzin Namdak, đã có một giấc mộng và rồi nói
với tôi rằng tôi rất cần làm một thực hành đặc biệt
nối kết với một vị hộ pháp. Tôi bắt đầu thực hành
nhiều giờ mỗi ngày khi tôi đi du lịch, cố gắng ảnh hưởng
đến điều gì thầy tôi đã thấy trong mộng. Vài ngày sau
giấc mộng của ngài, tôi làm một hành khách trong một cỗ
xe vượt qua một con đường nhỏ trên núi cao. Những người
lái xe là những người du mục hoang dã sợ chết. Ba người
chúng tôi chật ních trong một thùng xe lớn với hành lý nặng
nề khi bánh xe lọt vào một ổ gà và xe lật.
Tôi
nhảy ra và nhìn xuống. Tôi không sợ hãi lắm. Nhưng rồi
tôi thấy một hòn đá nhỏ giữ cho xe khỏi trượt xuống
thung lũng, như một hòn đá rơi khỏi lề đường rớt xuống
còn lâu mới tới đáy. Bấy giờ tim tôi mới đập thình thình
trong ngực ! Rồi tôi thấy sợ, biết rằng một hòn đá nhỏ
là tất cả cái gì chặn giữa chúng tôi và cái chết, nó
giữ cho cuộc đời tôi khỏi chấm dứt như một câu chuyện
quá ngắn.
Khi
tôi thấy tình huống ấy tôi nghĩ, “Đúng rồi. Đó là tại
sao tôi phải thực hành về hộ pháp.” Đó là điều thầy
tôi đã thấy trong giấc mộng của ngài và tại sao ngài bảo
tôi làm thực hành. Một giấc mộng có thể không đặc biệt
lắm, nhưng vẫn có thể qua cảm giác và hình ảnh gởi đến
điều gì sẽ xảy ra mà cần được chữa chạy. Đây là một
loại lợi ích chúng ta có thể nhận được từ sự làm việc
với giấc mộng.
NHỮNG
GIÁO LÝ TRONG GIẤC MỘNG
Có
nhiều thí dụ trong truyền thống Tây Tạng về những hành
giả nhận được những giáo lý trong giấc mộng. Thường
thường những giấc mộng đến theo chuỗi, giấc mộng của
đêm này bắt đầu nơi chỗ đêm trước chấm dứt, và theo
cách này chuyển giao những giáo lý toàn bộ, chi tiết cho đến
một điểm hoàn mãn chính xác và thích hợp được đạt đến,
lúc đó những giấc mộng dừng lại. Những bộ giáo lý được
“khám phá” theo lối này, gồm nhiều thực hành mà người
Tây Tạng đã làm hàng thế kỷ. Cái này chúng tôi gọi là
“kho tàng tâm thức” (gong-ter*).
Hãy
tưởng tượng đi vào một hang động và tìm thấy một bộ
những giáo lý được cất giấu trong đó. Đây là sự tìm
thấy trong một không gian vật chất. Kho tàng tâm thức được
tìm thấy trong tâm thức hơn là trong thế giới vật chất.
Những đạo sư đã biết tìm thấy những kho tàng ấy cả
trong giấc mộng của sự sáng tỏ lẫn khi thức. Để nhận
những loại giáo lý này trong một giấc mộng, hành giả phải
đã phát triển một số khả năng, như có thể ở vững chắc
trong tâm thức mà không đồng hóa với cái ngã quy ước. Hành
giả mà sự sáng tỏ không bị những dấu vết nghiệp và
những giấc mộng sanh tử che ám thì có thể đi vào trí huệ
bẩm sinh nội tại trong chính tâm thức.
Những
giáo lý chính thống được khám phá trong giấc mộng không
đến từ trí năng. Nó không phải như đi đến thư viện và
nghiên cứu và rồi viết một cuốn sách, dùng trí năng để
thu thập và tổng hợp thông tin như một học giả. Dầu cho
có nhiều giáo lý tốt đẹp đến từ trí năng, chúng không
được xem là những kho tàng tâm thức. Trí huệ của chư Phật
là tự phát sanh, khởi từ những chiều sâu của tâm thức,
trọn vẹn trong chính nó. Điều này không có nghĩa là những
giáo lý của kho tàng tâm thức sẽ không giống với những
giáo lý hiện hành. Hơn nữa, những giáo lý này có thể được
tìm thấy trong các nền văn hóa khác nhau và trong những thời
kỳ lịch sử khác nhau, và có thể tương tự dù chúng ta không
thông tin với nhau. Những nhà sử học tìm dấu vết một giáo
lý ngược dòng thời gian để chỉ ra nó được ảnh hưởng
bởi một giáo lý tương tự như thế nào, nơi sự tiếp xúc
lịch sử xảy ra..., và thường họ tìm thấy một sự liên
kết như vậy. Nhưng sự thật nền tảng là những giáo lý
này khởi lên một cách tự phát từ những con người khi họ
đạt đến một điểm phát triển nào đó. Những giáo lý
là bẩm sinh nội tại trong trí huệ nền tảng mà bất kỳ
nền văn hóa nào cuối cùng đều có thể thâm nhập. Chúng
không chỉ là Phật giáo hay đạo Bošn, chúng là những giáo
lý cho toàn thể nhân loại.
Nếu
chúng ta có nghiệp giúp đỡ những chúng sanh khác, những giáo
lý từ một giấc mộng có thể lợi lạc cho những người
khác. Nhưng cũng có trường hợp, nếu chúng ta có nghiệp với
một dòng phái chẳng hạn, những giáo lý được khám phá
trong một giấc mộng sẽ riêng biệt cho sự thực hành của
chúng ta, có thể là một phương thức đặc biệt để đánh
bại một chướng ngại riêng biệt.
3
Khám Phá sự Thực Hành Chošd
Nhiều
đạo sư đã dùng giấc mộng như một cánh cửa trí huệ quan
trọng qua đó họ đã khám phá những giáo lý, có những nối
kết với những đạo sư ở cách xa trong thời gian và không
gian, và phát triển khả năng giúp đỡ những người khác.
Những việc này được minh họa trong những tiểu sử của
Tongjung Thuchen, một đạo sư vĩ đại của đạo Bošn, mà người
ta tin rằng ngài sống trong thế kỷ thứ tám. Trong một loạt
giấc mộng, ngài đã khám phá ra sự thực hành chošd*, một
thực hành trau dồi tính rộng lượng bố thí và cắt đứt
bám chấp.
Vào
lúc sáu tuổi Tongjung Thuchen đã biết về những giáo lý. Mười
hai tuổi ngài có những cuộc nhập thất lâu dài và có những
kinh nghiệm mộng đáng kể trong đó ngài khám phá ra những
giáo lý, gặp và nhận giáo lý từ những đạo sư. Một lần
khi ngài đang nhập thất và thực hành mãnh liệt về Walsai,
một trong những hóa thần bổn tôn quan trọng nhất của đạo
Bošn, đạo sư của ngài gọi ngài đến. Ngài bỏ nhập thất
và đi đến nhà của một người thí chủ cho đạo sư của
ngài, nơi đây ngài đi ngủ và có một giấc mộng kỳ lạ.
Trong
giấc mộng, một người đàn bà đẹp đẽ dẫn ngài qua những
phong cảnh xa lạ cho đến khi họ đến một nghĩa địa lớn.
Nhiều xác chết để trên mặt đất, và ở giữa trung tâm
có một cái lều trắng lớn với những trang hoàng rực rỡ
và có hoa đẹp bao quanh. Ở giữa lều, một người đàn bà
da nâu ngồi trên một cái ngai rộng. Bà mặc áo dài trắng
và tóc trang điểm với ngọc màu lục và với vàng. Nhiều
dakini đẹp đẽ tụ hội quanh bà, nói nhiều thứ tiếng của
nhiều nước khác nhau, và Tongjung Thuchen hiểu rằng họ đã
đến từ những vùng đất xa.
Rời
khỏi ngai, vị dakini da nâu đưa cho Tongjung Thuchen một sọ
người đầy máu và thịt và cho ngài ăn. Khi cho ăn, bà nói
với ngài hãy nhận những đồ cúng dường như là thanh tịnh
và bà và các dakini khác sắp ban cho ngài một lễ nhập môn
quan trọng.
Rồi
bà nói, “Mong ông thành tựu giác ngộ trong không gian của
Đại Mẫu. Ta là Sippe Gyalmo, người nắm giữ giáo lý Bošn,
bà Hoàng Nâu của Hiện Hữu. Nhập môn và giáo lý này là
cốt tủy của Tantra Mẹ. Ta làm lễ nhập môn cho ông để
ông có thể làm lễ nhập môn và dạy dỗ cho những người
khác.” Tongjung Thuchen được đẫn đến một cái ngai cao.
Sippe Gyalmo đưa cho ngài một mũ lễ, một áo nhập môn và
những dụng cụ nghi lễ. Rồi bà làm ngài ngạc nhiên khi yêu
cầu ngài ban lễ nhập môn cho những dakini đang tề tựu.
Tongjung
Thuchen nói, “Ồ, không, tôi không thể ban lễ nhập môn. Tôi
không biết làm lễ nhập môn này thế nào.”
Sippe
Gyalmo làm ngài yên tâm, “Chớ lo âu. Ngài là một đạo sư
vĩ đại. Ngài có tất cả những nhập môn truyền pháp từ
ba mươi vị thầy của Tây Tạng và Zhang Zhung. Ngài có thể
cho họ nhập môn.”
“Tôi
không biết tán những lời cầu nguyện như thế nào trong lễ
nhập môn”, Tongjung Thuchen phản đối.
Sippe
Gyalmo nói, “Ta sẽ giúp ngài và mọi vị che chở khác sẽ
cho ngài thần lực. Không có gì phải sợ cả. Xin hãy làm
lễ nhập môn.”
Vào
lúc đó, mọi thịt và máu trong lều biến thành bơ, đường,
thức ăn, và thành thuốc thang và hoa. Những dakini rắc hoa
lên người ngài. Thình lình ngài nhận ra rằng ngài đã biết
làm thế nào để ban lễ nhập môn đối với Tantra Mẹ và
ngài bắt đầu làm.
Sau
đó mọi dakini cám ơn ngài. Sippe Gyalmo nói, “Năm năm tới
những dakini từ tám nghĩa địa chánh cũng như nhiều đạo
sư sẽ gặp nhau. Nếu ngài đến, chúng ta sẽ cho ngài nhiều
giáo lý hơn nữa về Tantra Mẹ.” Rồi những dakini đều nói
từ biệt với ngài, ngài cũng nói từ biệt với họ, và Sippe
Gyalmo nói ngài có thể đi. Một dakini màu đỏ viết một chữ
YAM lên một khăn quàng, tượng trưng cho nguyên tố gió, và
để nó phất phới trong không khí, rồi bảo ngài đặt chân
phải lên đó. Ngài vừa chạm đến, thì trở lại trong thân
và nhận ra ngài đang mơ.
Ngài
đã ngủ một thời gian dài đến nỗi người ta nghĩ ngài
đã chết. Cuối cùng khi ngài thức dậy, thầy của ngài hỏi
tại sao ngài đã ngủ quá lâu. Ngài kể lại giấc mộng cho
thầy nghe, vị này nói điều ấy rất tuyệt diệu, nhưng cũng
lưu ý ngài giữ bí mật, e rằng nó trở thành một chướng
ngại. Vị thầy nói với Tongjung rằng một ngày nào ngài sẽ
là một vị thầy và rồi cho ngài một ban phước để gia
trì cho những lời dạy tương lai của ngài.
Năm
sau, Tongjung Thuchen đang trong nhập thất thì một buổi chiều
có ba dakini thăm viếng ngài. Họ có những khăn quàng màu lục
và chạm chúng vào chân ngài. Khi họ làm thế, ngài mất ý
thức trong chốc lát và tỉnh dậy trong một giấc mộng.
Ngài
thấy ba cái hang hướng về phía Đông. Một cái hồ đẹp
ở trước các hang. Ngài đi vào trong hang giữa. Bên trong, hang
được trang hoàng rất kỳ diệu bằng hoa. Ngài gặp ba đạo
sư, mỗi vị mặc đồ khác nhau trong những y phục bí truyền
để làm lễ nhập môn. Những dakini bao quanh họ, chơi những
nhạc cụ, nhảy múa, dâng cúng, cầu nguyện và thực hiện
những hoạt động thiêng liêng khác.
Ba
đạo sư ban cho ngài những nhập môn để đánh thức ngài
với trạng thái bổn nhiên, để khiến ngài nhớ lại những
đời quá khứ của ngài và để cho phép ngài có thể dạy
thực hành Chošd một cách thành công. Đạo sư ở giữa đứng
lên và nói, “Con có tất cả những giáo lý thiêng liêng.
Con đã nhận những quán đảnh nhập môn và chúng ta ban phước
cho con có khả năng chỉ dạy.”
Bấy
giờ đạo sư ngồi bên phải đứng lên và nói, “Chúng ta
đã nhập môn cho con vào mọi giáo lý tổng quát, những triết
học luận lý dùng để cắt đứt bản ngã, sự sử dụng
tâm thức ý niệm để giải thoát những vọng tưởng, và
vào những thực hành Chošd. Chúng ta ban phước cho con để
con có thể dạy những thực hành này và làm cho chúng tương
tục.”
Đạo
sư bên trái đứng lên và nói, “Ta sắp ban cho con giáo lý
tantra thiêng liêng ở trong tâm của mọi đạo sư Tây Tạng
và Zhang Zhung. Chúng ta nhập môn cho con và ban phước cho con
với những giáo lý này để con có thể giúp đỡ những người
khác.”
Cả
ba đạo sư là những đạo sư Bošn rất quan trọng đã sống
vào khoảng cuối thế kỷ thứ bảy, năm trăm năm trước khi
Tongjung Thuchen ra đời.
Một
thời gian sau, khi thầy của Tongjung Thuchen đã qua đời, Tongjung
Thuchen trở lại ngôi làng nhỏ của thầy mình và làm những
nghi lễ và thực hành ở đó. Trong nhiều dịp, cả trong những
kỳ thiền định và nhập thất ngắn, đã có những đạo
sư khác nhau viếng thăm ngài trong những linh kiến. Ngài đã
kinh nghiệm có thể thấy được trong thân ngài, với những
kinh mạch và năng lực như pha lê trong suốt. Nhiều lần khi
ngài đi, chân ngài không chạm mặt đất, và ngài có thể
đi cực kỳ nhanh khi dùng thần lực của khí.
Bốn
năm nữa trôi qua, vị dakini màu nâu ngài đã gặp trong giấc
mộng, sự biểu lộ của Sippe Gyalmo, đã nói với ngài họ
sẽ gặp lại năm năm sau và thời gian đã tới. Một hôm ngài
có một giấc ngủ ngắn và trong giấc ngủ ngài cầu nguyện
đến tất cả các đạo sư. Khi thức dậy, ngài nhìn vào bầu
trời trong sáng không thể tưởng. Một ngọn gió nhẹ nổi
lên và hai dakini đến, cỡi trên gió, và nói với ngài rằng
ngài đi cùng với họ.
Đồng
hành với họ, ngài đến một cuộc hội họp những dakini,
cũng những dakini từ nhiều xứ sở mà ngài đã từng gặp
năm năm về trước. Ngài nhận những trao truyền và giải
thích về những thực hành Chošd và Tantra Mẹ. Những dakini
tiên đoán rằng trong tương lai, một thời gian sẽ đến, khi
những bồ tát và mười hai đạo sư xuất hiện và đó là
thời gian Tongjung Thuchen sẽ dạy. Mỗi dakini có một lời hứa
giúp ngài trong việc giảng dạy. Một vị nói rằng bà sẽ
hoạt động như một hộ pháp của những giáo lý, một vị
khác nói bà sẽ ban phước cho những giáo lý, vị tiếp theo
nói bà sẽ bảo vệ những giáo lý khỏi sự sai lầm v.v...
Sippe Gyalmo cũng cam kết hoạt động như một người che chở
cho những giáo lý. Lần lượt, mỗi vị của chúng hội dakini
nói với ngài những trách nhiệm nào họ sẽ đảm nhận để
giúp cho sự tỏa rộng của những giáo lý, và họ nói với
ngài rằng những giáo lý sẽ tỏa rộng khắp mười phương
như những tia sáng mặt trời, đến mọi vùng của thế giới.
Lời tiên tri này là một điều quan trọng làm phấn khích
cho những ai ngày nay học những thực hành ấy, bởi vì chúng
ta biết rằng chúng sắp truyền rộng khắp trái đất.
Những
giấc mộng của Tongjung Thuchen là những thí dụ tốt về những
giấc mộng của sự sáng tỏ. Ngài đã nhận thông tin chính
xác trong một giấc mộng về một giấc mộng quan trọng mà
ngài sẽ có trong tương lai. Ngài đã nhận những giáo lý và
những truyền pháp và được các dakini và các đạo sư khác
giúp đỡ. Trong phần đời trẻ của ngài, dù ngài đã thành
tựu, ngài không biết tiềm năng đầy đủ của ngài như một
đạo sư cho đến khi điều đó được phát hiện cho ngài
trong giấc mộng. Qua những ban phước ngài đã nhận trong giấc
mộng, ngài đã thức tỉnh với những chiều kích khác nhau
của tâm thức và đã nối kết lại với cái phần của chính
ngài mà ngài đã học và phát triển trong những đời quá
khứ. Ngài tiếp tục trưởng thành qua những giấc mộng của
ngài, nhận những giáo lý và gặp gỡ với những đạo sư
và dakini suốt cuộc đời ngài.
Thế
thì điều ấy là cũng có thể đối với tất cả chúng ta.
Là những hành giả, chúng ta sẽ tìm thấy một sự liên tục
sẽ phát triển trong cái phần đời mà chúng ta tiêu cho giấc
mộng. Điều này là giá trị trong hành trình tâm linh của
chúng ta, vì giấc mộng trở thành một phần của một tiến
trình đặc biệt tái nối kết chúng ta với con người sâu
thẳm hơn của chúng ta, và làm trưởng thành sự phát triển
tâm linh chúng ta.
4
Hai Mức Đôï của sự Thực Hành
Một
đêm cách đây vài năm, tôi mơ thấy một con rắn trong miệng
tôi. Tôi phun nó ra và thấy rằng nó đã chết ; thật hoàn
toàn khó chịu. Một xe cứu thương đến nhà tôi và những
y tá nói với tôi đó là con rắn độc và tôi sắp chết.
Tôi nói, được, và họ đem tôi đến bệnh viện.
Tôi
sợ và nói với họ tôi cần thấy một bức tượng Tapihritsa,
đạo sư Đại Toàn Thiện, trước khi tôi chết. Những y tá
không biết ngài là ai, nhưng họ chấp nhận và nói tôi nên
đợi chết, nó giải thoát cho tôi. Nhưng rồi họ làm tôi
ngạc nhiên khi đem đến một bức tượng. Lý do trì hỗn cái
chết của tôi không có tác dụng lâu. Thế rồi tôi nói với
họ rằng không làm gì có cái chết ; bây giờ đây là cái
nạng chống của tôi. Và giây phút tôi nói điều đó, tôi
thức dậy, tim đập nhanh.
Lúc
đó là đêm trước Năm Mới và ngày hôm sau tôi phải bay đi
Rome từ Houston. Cảm thấy không ổn sau giấc mộng, tôi nghĩ
có lẽ tôi cần xem chuyện đó là nghiêm trọng và hỗn những
chương trình du lịch của tôi. Tôi muốn có lời khuyên nhủ
của thầy tôi, thế nên tôi đi ngủ lại và trong một giấc
mộng sáng sủa tôi du lịch đến Lopon ở Népal và nói với
ngài về giấc mơ quấy rối nọ.
Vào
lúc đó, Houston đang bị lụt. Thầy tôi giải thích giấc mộng
có nghĩa tôi tượng trưng cho Garuda, Kim Xí điểu, con chim huyền
thoại có quyền lực với loài Naga (Rồng), những sinh linh
giống con rắn ở dưới nước. Lopon nói rằng giấc mộng
có nghĩa là chim Garuda đang chiến thắng những sinh linh dưới
nước gây ra lụt lội. Sự giải thích này làm tôi cảm thấy
tốt hơn ; ngày hôm sau tôi đi Rome như đã định. Đây là
thí dụ dùng giấc mộng sáng sủa minh bạch cho một điều
gì hiện thực, cho một quyết định.
Có
lẽ tất cả điều này nghe có vẻ lạ lùng và khó tin, nhưng
điểm thật sự là phát triển sự uyển chuyển mềm dẻo
của tâm thức và phá thủng những biên giới trói buộc nó.
Với sự uyển chuyển mềm dẻo hơn, chúng ta có thể chấp
nhận tốt hơn cái gì sanh khởi mà không bị ảnh hưởng bởi
những ước ao và tham muốn. Dù cho chúng ta còn bị giới hạn
bởi nắm lấy và ghét bỏ, loại thực hành tâm linh này sẽ
làm lợi lạc cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Nếu
tôi thực sự sống trong sự chứng ngộ rằng không làm gì
có cái chết và không có ai chết cả, bấy giờ tôi sẽ không
tìm lời giải thích cho một giấc mộng như tôi đã làm trong
trường hợp này, khi giấc mộng để lại cho tôi cảm giác
lo âu. Sự tham muốn của chúng ta giải thích một giấc mộng
đặt nền trên hy vọng và sợ hãi ; chúng ta muốn có cái
hiểu để thay đổi cái gì đó. Khi bạn thấu hiểu, chứng
ngộ bản tánh chân thật của bạn, bạn không tìm kiếm ý
nghĩa, tìm kiếm để cho ai ? Vì bấy giờ bạn vượt khỏi
hy vọng và sợ hãi, ý nghĩa của giấc mộng trở thành không
quan trọng ; bạn chỉ đơn giản kinh nghiệm trọn vẹn bất
cứ cái gì biểu lộ trong khoảnh khắc hiện tại. Bấy giờ
không có giấc mộng nào có thể gây ra xao xuyến.
Yoga
giấc mộng mở rộng trên toàn bộ cuộc đời chúng ta và
áp dụng cho mọi chiều kích khác nhau của kinh nghiệm chúng
ta. Nhưng cái này có thể dẫn đến một cảm thức xung đột
giữa cái tri kiến triết lý cao nhất và một số giáo huấn.
Một mặt, tri kiến là vô biên : những giáo lý áp dụng với
cái bất nhị, với thực tại không quy ước, tuyên bố rằng
không có gì để hoàn thành, rằng tìm kiếm là mất, rằng
sự cố gắng đem người ta tách lìa khỏi bản tánh chân thật
của chính mình. Nhưng cũng có những thực hành và giáo lý
chúng chỉ có ý nghĩa trong khuôn khổ nhị nguyên, trong hy vọng
và sợ hãi. Giáo huấn được ban cho về giải thích những
giấc mộng, về làm an bình những hộ pháp địa phương, về
những thực hành kéo dài tuổi thọ, và người học trò được
yêu cầu thực hành với tinh tấn và giữ gìn sự tập chú
của tâm thức. Có vẻ như chúng ta đang nghe nói về cả hai,
rằng không có gì để thành tựu và rằng chúng ta cần làm
việc rất khó nhọc.
Đôi
khi sự lầm lẫn về điểm này dẫn một hành giả vào một
lầm lẫn về thực hành. Câu hỏi khởi lên : “Nếu thực
tại tối hậu là trống không những phân biệt, và nếu giải
thoát được tìm thấy trong sự chứng ngộ bản tánh trống
không này, thì bấy giờ tại sao tôi lại phải làm những
thực hành nhắm vào những kết quả tương đối ?” Câu trả
lời thì rất đơn giản. Bởi vì chúng ta đang sống trong một
thế giới nhị nguyên, tương đối, nên chúng ta phải làm
những thực hành có hiệu quả trong thế giới này. Trong hiện
hữu sanh tử, những phân hai và những đối cực có ý nghĩa
; có đúng và sai, những cách tốt hơn và xấu hơn để hành
động và suy nghĩ, đặt nền trên những giá trị của những
tôn giáo, trường phái tâm linh, hệ thống triết lý, khoa học
và văn hóa khác nhau. Hãy tôn trọng những hoàn cảnh mà bạn
bị vướng mắc trong đó. Khi sống trong sanh tử, những thực
hành quy ước được áp dụng và sự giải thích giấc mộng
có thể rất hữu ích.
Tôi
cần sự giải thích giấc mộng bởi vì tôi còn sợ chết.
Nhưng điều quan trọng với tôi là biết rằng nhu cầu của
tôi đặt nền trên sợ hãi, trên nhị nguyên, và khi tôi ở
trong sự hiện diện bất nhị thì không có sợ hãi và không
cần giải thích. Chúng ta sử dụng cái gì ích lợi cho hoàn
cảnh trong đó chúng ta đang sống. Khi chúng ta thuần chỉ sống
trong bản tánh của tâm thức, trạng thái trong đó thực tại
thì thực sự không có một phân biệt, chia cách nào, bấy
giờ chúng ta không cần làm những thực hành tương đối.
Bấy giờ không cần giải thích giấc mộng bởi vì không cần
hướng dẫn trở lại cho chính chúng ta, không có một cái
ngã ích kỷ nào để hướng dẫn trở lại. Chúng ta không
cần tham vấn một giấc mộng về tương lai, bởi vì không
còn hy vọng hay sợ hãi. Chúng ta hoàn toàn hiện diện trong
bất cứ cái gì khởi lên, không bỏ cũng không nắm. Chúng
ta chẳng cần tìm kiếm ý nghĩa của giấc mộng, bởi vì chúng
ta đang sống trong chân lý, trong sự thật.
Trong
đời sống quy ước của chúng ta, chúng ta có những chọn
lựa và có thể thay đổi những sự việc ; đó là tại sao
chúng ta nghiên cứu những giáo lý, tại sao chúng ta thực hành.
Khi chúng ta hiểu hơn và khéo léo thiện xảo hơn trong cuộc
đời chúng ta, chúng ta trở nên uyển chuyển linh hoạt hơn.
Chúng ta bắt đầu thực sự hiểu những việc mà chúng ta
được dạy : sáng sủa minh bạch là gì, những kinh nghiệm
của chúng ta như huyễn mộng ra sao, như thế nào khổ đau
xảy tới, bản tánh chân thật của chúng ta là gì. Một khi
chúng ta bắt đầu thấy cái chúng ta đang làm là một nguyên
nhân cho khổ đau thêm nữa như thế nào, chúng ta có thể chọn
lựa làm cái gì khác. Chúng ta càng sống càng mệt lữ bởi
những bản sắc, nhân cách bó hẹp và những khuynh hướng
lập đi lập lại chúng đưa chúng ta đến nhiều hơn nữa
sự khổ đau không cần thiết. Chúng ta buông bỏ những trạng
thái xúc tình tiêu cực, tự huấn luyện để hàng phục sự
xao lãng phóng dật, và an trụ trong hiện diện thanh tịnh thuần
khiết.
Cũng
như thế với việc mộng. Có một sự tiến bộ trong thực
hành. Khi thực hành được phát triển, sẽ khám phá rằng
có cách khác để mộng. Bấy giờ chúng ta tiến về những
thực hành giấc mộng không quy ước trong đó câu chuyện và
những giải thích của nó không quan trọng nữa. Chúng ta làm
việc trên những nguyên nhân của những giấc mộng hơn là
bản thân những giấc mộng.
Không
có lý do gì không dùng yoga giấc mộng để đạt được những
mục tiêu thế gian. Một số những thực hành nhằm đến những
quan tâm tương đối và dẫn đến sự sử dụng giấc mộng
cho những mục tiêu như sức khỏe, dự đoán, hướng dẫn,
tẩy sạch những khuynh hướng nghiệp không lành mạnh, chữa
bệnh và vân vân. Con đường là thực dụng và thích hợp
cho tất cả. Nhưng khi sử dụng yoga giấc mộng để làm lợi
ích cho chúng ta trong thế giới tương đối là tốt, thì đó
chỉ là một sự sử dụng tạm thời. Một cách rốt ráo,
chúng ta muốn dùng giấc mộng để giải thoát chúng ta khỏi
tất cả những điều kiện tương đối, chứ không chỉ cải
thiện chúng.