PHẦN
MỘT
Bản
Tánh của Giấc Mộng
1
Giấc Mộng và Thực Tại
Tất
cả chúng ta đều nằm mộng dù chúng ta có nhớ hay không.
Chúng ta mộng như những đứa trẻ con và tiếp tục mộng
cho đến khi chúng ta chết. Mỗi đêm chúng ta đi vào một thế
giới không được biết. Chúng ta hình như vẫn là những bản
ngã bình thường của chúng ta hay một ai đó hoàn toàn khác.
Chúng ta gặp những người đã biết hoặc không biết, đang
sống hay đã chết. Chúng ta bay, gặp những chúng sanh không-phải-người,
có những kinh nghiệm phúc lạc, cười, khóc và kinh hãi, được
đề cao hay được chuyển hóa. Tuy nhiên chúng ta thường ít
chú ý đến những kinh nghiệm phi thường này. Nhiều người
Tây phương tiếp cận với những giáo lý với những ý tưởng
về giấc mộng căn cứ trên lý thuyết tâm lý học ; kết
quả là khi họ quan tâm hơn vào việc dùng giấc mộng trong
đời sống tâm linh của họ, họ thường tập chú vào nội
dung và nghĩa lý của giấc mộng. Hiếm khi bản tánh của bản
thân giấc mộng được khảo cứu tìm tòi. Khi làm việc này,
sự khảo cứu dẫn đến những tiến trình bí mật nằm dưới
toàn bộ cuộc đời chúng ta, không chỉ đời sống lúc mộng
mà thôi.
Bước
thứ nhất trong thực hành giấc mộng thì hoàn toàn đơn giản
: người ta phải nhận biết tiềm năng vĩ đại của giấc
mộng cho cuộc hành trình tâm linh. Bình thường giấc mộng
được nghĩ là “không thực”, đối nghịch với đời sống
lúc thức là “thực”. Nhưng không gì thực hơn giấc mộng.
Tuyên bố này chỉ có ý nghĩa khi hiểu rằng đời sống lúc
thức bình thường thì cũng không thực như giấc mộng, và
chính xác là cả hai cùng một thứ. Bấy giờ có thể hiểu
rằng yoga giấc mộng áp dụng cho tất cả kinh nghiệm, cho
những giấc mộng của ngày cũng như những giấc mộng của
đêm.
2
Kinh Nghiệm Khởi Lên Như Thế Nào
VÔ
MINH
Mọi
kinh nghiệm của chúng ta, kể cả giấc mộng, khởi lên từ
vô minh. Đây là một tuyên bố làm hoảng hốt ở Tây phương,
thế nên trước hết chúng ta hãy hiểu vô minh (ma-rigpa*) nghĩa
là gì. Truyền thống Tây Tạng phân biệt hai loại vô minh
: vô minh bẩm sanh và vô minh văn hóa. Vô minh bẩm sanh là căn
cứ của sanh tử và là tính chất để định nghĩa chúng sanh
bình thường. Nó là vô minh, sự không biết về bản tánh
chân thực của chúng ta và bản tánh chân thực của thế giới,
và nó đưa đến sự mắc bẫy vào những vọng tưởng của
tâm thức nhị nguyên.
Nhị
nguyên nói lên những đa cực và những lưỡng phân. Nó phân
chia sự thống nhất không vết nối của kinh nghiệm thành
đây và kia, đúng và sai, anh và tôi. Căn cứ trên những phân
biệt ý niệm này, chúng ta phát triển những yêu chuộng biểu
lộ ra như bám lấy và ghét bỏ, những phản ứng thói quen,
những cái này lập nên hầu hết cái mà chúng ta đồng hóa
như là chính chúng ta. Chúng ta muốn cái này, không muốn cái
kia ; tin điều này, không điều kia ; kính trọng điều này
và khinh bỉ điều nọ. Chúng ta muốn lạc thú, tiện nghi,
sức khỏe và danh tiếng, và cố gắng trốn tránh khổ đau,
nghèo nàn, nhục nhã và không tiện nghi. Chúng ta muốn những
điều ấy cho chính chúng ta và những người chúng ta thương,
và chẳng để ý gì đến những người khác. Chúng ta muốn
một kinh nghiệm khác với cái chúng ta đã có, hay chúng ta
muốn bám vào một kinh nghiệm và tránh những thay đổi không
thể tránh sẽ đưa đến sự hoại diệt kinh nghiệm này.
Có
một loại vô minh thứ hai là do bị văn hóa quy định. Nó
tạo thành từ những tham muốn và ghét bỏ được cơ cấu
hóa trong một nền văn hóa và được làm thành điều luật
trong những hệ thống giá trị. Chẳng hạn, ở Ấn Độ, người
Ấn giáo tin rằng ăn thịt bò là sai và thích hợp hơn là
nên ăn thịt heo. Người Hồi giáo tin rằng thích hợp hơn
là ăn thịt bò nhưng họ bị cấm ăn thịt heo. Người Tây
Tạng thì ăn cả hai. Ai đúng ? Người Ấn giáo nghĩ rằng
những người Ấn giáo là đúng, người Hồi giáo nghĩ những
người Hồi giáo là đúng, và người Tây Tạng nghĩ những
người Tây Tạng đúng. Những niềm tin khác nhau khởi từ
những thiên chấp và lòng tin là thành phần của văn hóa –
không phải từ trí huệ căn bản.
Một
thí dụ khác có thể được tìm thấy trong những xung đột
nội tại của triết học. Có nhiều hệ thống triết lý được
định nghĩa bởi sự bất đồng ý với một hệ thống khác
trên những điểm tinh tế. Dù cho bản thân hệ thống được
phát triển với ý định dẫn đưa người ta đến trí huệ,
chúng sản sinh ra vô minh bởi vì những người theo chúng bám
chấp vào một cái hiểu nhị nguyên về thực tại. Điều
này không thể tránh trong một hệ thống ý niệm bởi vì tâm
thức ý niệm tự nó đã là một biểu lộ của vô minh.
Vô
minh văn hóa được phát triển và bảo tồn trong những truyền
thống. Nó thấm khắp mọi phong tục, ý kiến, hệ thống giá
trị và tòan bộ tri thức. Cả hai bên, những cá nhân và những
văn hóa chấp nhận những yêu chuộng này một cách căn bản
đến độ chúng được xem là lương tri chung hay định luật
thiêng liêng. Càng lớn lên, chúng ta càng bám luyến vào những
niềm tin khác nhau, vào một đảng phái chính trị, một hệ
thống y khoa, một tôn giáo, một quan niệm sự vật là thế
nào. Chúng ta qua trường sơ cấp, trung học, và có thể đại
học và trong một nghĩa mỗi bằng cấp là một phần thưởng
cho việc phát triển một vô minh ngụy biện hơn nữa. Giáo
dục tăng cường thêm thói quen nhìn thế giới qua một thấu
kính nào đó. Chúng ta có thể trở nên một chuyên gia trong
một quan kiến sai lầm, trở nên rất chính xác trong cách hiểu
của chúng ta, và tùy thuộc vào những chuyên gia khác. Điều
này cũng có thể là trường hợp trong triết học, khi người
ta học những hệ thống trí thức chi tiết và phát triển
tâm thức thành một dụng cụ tra vấn sắc bén. Nhưng cho đến
khi nào vô minh bẩm sinh được thâm nhập, người ta chỉ phát
triển một thiên chấp được huân tập, chứ chẳng phải
trí huệ căn bản.
Chúng
ta trở nên bám luyến vào thậm chí những cái nhỏ nhất :
một loại xà phòng riêng biệt hay một kiểu tóc cắt theo
lối nào đó. Trên một phạm vi rộng lớn, chúng ta phát triển
những tôn giáo, những hệ thống chính trị, những triết
học, tâm lý học và những khoa học. Nhưng không có ai được
sinh ra với niềm tin rằng ăn thịt bò hay thịt heo là sai hay
một hệ thống triết lý là đúng và cái khác là sai hay tôn
giáo này là đúng tôn giáo kia là sai. Những điều này phải
được học. Sự trung thành ủng hộ những giá trị riêng
biệt là kết quả của vô minh văn hóa, nhưng xu hướng chấp
nhận những quan kiến giới hạn phát sinh trong sự nhị nguyên,
nó là biểu lộ của vô minh bẩm sanh.
Điều
này không xấu. Nó phải là như vậy. Những bám chấp của
chúng ta có thể dẫn đến chiến tranh nhưng chúng cũng biểu
hiện như là những kỹ thuật ích lợi và những nghệ thuật
khác nhau có lợi lớn lao cho thế giới. Bao giờ chúng ta chưa
giác ngộ, chúng ta còn tham gia vào nhị nguyên, và điều đó
cũng tốt. Ở Tây Tạng có câu nói, “Khi ở trong thân của
một con lừa, hãy thưởng thức vị của cỏ.” Nói cách khác,
chúng nên cảm kích và hân thưởng cuộc đời này bởi vì
nó tràn đầy ý nghĩa và có giá trị tự thân, và bởi vì
đó là cuộc đời chúng ta đang sống.
Nếu
chúng ta không cẩn thận, những giáo lý có thể được dùng
để hỗ trợ cho vô minh của chúng ta. Người ta có thể nói
rằng người nào đắc được một cấp độ cao cấp là xấu
hay có chế độ ăn uống kiêng cữ là sai lầm, nhưng đó không
phải là điểm cốt yếu chút nào. Hay người ta có thể nói
vô minh là xấu hay đời sống bình thường chỉ là sự ngu
ngốc sanh tử. Nhưng vô minh chỉ là sự che ám tâm thức. Tham
luyến vào nó hay ghê tởm nó cũng là trò chơi cũ kỹ của
nhị nguyên, diễn bày trong lãnh vực của vô minh. Chúng ta
có thể thấy nó phổ khắp như thế nào. Dù cho những giáo
lý phải làm việc với nhị nguyên – chẳng hạn bằng cách
khuyến khích sự gắn bó với cái thiện và ghét bỏ cái bất
thiện – một cách nghịch lý chúng dùng nhị nguyên của vô
minh để đánh bại vô minh. Cái hiểu biết của chúng ta phải
vi tế biết bao nhiêu và chúng ta có thể dễ dàng lạc mất
biết bao nhiêu ! Đây là tại sao thực hành là cần thiết,
để có kinh nghiệm trực tiếp hơn là chỉ phát triển hệ
thống ý niệm khác để thi thiết và bảo vệ. Khi những sự
vật được nhìn từ một viễn cảnh cao hơn, chúng là bình
đẳng. Từ viễn cảnh của trí huệ bất nhị, không có gì
là quan trọng hay không quan trọng.
NHỮNG
HÀNH ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ :
NGHIỆP
VÀ NHỮNG DẤU VẾT CỦA NGHIỆP
Văn
hóa trong đó chúng ta sống quy định chúng ta, nhưng chúng ta
mang những hạt giống của sự bị quy định theo với chúng
ta bất kỳ nơi nào chúng ta đến. Mọi cái quấy phá chúng
ta thực ra ở trong tâm thức chúng ta. Chúng ta trách móc về
môi trường, hoàn cảnh gây ra sự bất hạnh của chúng ta
và tin rằng nếu chúng ta có thể thay đổi hoàn cảnh chúng
ta sẽ hạnh phúc. Nhưng tình huống trong đó chúng ta sống
chỉ là nguyên nhân phụ của sự khổ đau của chúng ta. Nguyên
nhân chính yếu là vô minh bẩm sanh và lòng tham có ra từ đó
mong muốn sự vật phải khác hơn chúng là như vậy.
Có
lẽ chúng ta định trốn thoát khỏi những căng thẳng của
thành phố bằng cách đi ra biển hay lên núi. Hay chúng ta bỏ
sự vắng vẻ và những khó khăn của đồng quê để lấy
sự kích động của thành thị. Sự đổi thay có thể tốt
bởi vì những nguyên nhân phụ được thay đổi và có thể
có hài lòng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn. Gốc rễ của
sự bất mãn của chúng ta đi theo chúng ta đến nơi ở mới,
và từ đó nó làm lớn thêm những bất toại nguyện mới.
Chẳng bao lâu chúng ta lại bị giam nhốt trong cái hỗn loạn
của hy vọng và sợ hãi.
Hay
chúng ta nghĩ nếu chúng ta có nhiều tiền hơn, hay một người
bạn đời tốt hơn, hay một thân thể tốt hơn, một công
việc, một giáo dục tốt hơn, chúng ta sẽ hạnh phúc. Nhưng
chúng ta tự biết điều ấy không đúng. Người giàu không
thoát khỏi khổ đau, một người tình mới sẽ không thỏa
mãn chúng ta ở một phương diện nào đấy, thân thể sẽ
già, công việc mới sẽ dần kém hấp dẫn, và vân vân. Khi
chúng ta nghĩ giải pháp cho mỗi bất hạnh của chúng ta có
thể được tìm thấy trong thế giới bên ngoài, những tham
muốn của chúng ta có thể tạm thời được thỏa mãn. Nhưng
không hiểu giải pháp thật sự, chúng ta chòng chành lối này
lối nọ theo những cơn gió tham dục, không bao giờ yên nghĩ
và thỏa mãn. Chúng ta bị nghiệp của mình cai trị và tiếp
tục gieo những hạt giống nghiệp cho những vụ mùa phong nhiêu
sẽ tới. Cách hành động này không chỉ làm chúng ta phóng
dật khỏi con đường tâm linh, mà nó còn ngăn cản chúng ta
không tìm thấy hạnh phúc và thỏa mãn trong cuộc sống hàng
ngày.
Bao
giờ chúng ta còn đồng hóa với sự bám nắm và ghét bỏ
của tâm thức vọng đôïng, chúng ta còn sản xuất những
xúc tình tiêu cực sanh ra nơi khoảng trống giữa cái đang
là và cái chúng ta muốn. Những hành động phát sanh từ những
xúc tình này, gồm hầu hết mọi hành động của chúng ta
trong cuộc sống hàng ngày, đã để lại những dấu vết nghiệp.
Karma*
(nghiệp) nghĩa là hành động. Những dấu vết nghiệp* là
những kết quả của những hành động, chúng ở lại trong
thức và ảnh hưởng vào tương lai chúng ta. Chúng ta có thể
hiểu phần nào những dấu vết nghiệp nếu chúng ta xem chúng
là những khuynh hướng, những khuôn khổ của thái độ đối
xử bên trong và bên ngoài, những phản ứng thâm căn cố đế,
những tạo thành ý niệm theo thói quen. Chúng ngự trị, điều
động những phản ứng xúc tình của chúng ta đối với những
hoàn cảnh, những hiểu biết trí thức của chúng ta cũng như
những thói quen xúc tình cá biệt và những cứng nhắc trí
óc của chúng ta. Chúng tạo ra và quy định hóa, điều kiện
hóa mọi đáp ứng chúng ta thường có đối với mỗi yếu
tố của kinh nghiệm chúng ta.
Đây
là một thí dụ về những dấu vết nghiệp trên một cấp
độ thô, dù cho cùng một động lực cũng tác động trong
những cấp độ vi tế nhất và bao quát nhất của kinh nghiệm
: một người lớn lên trong một căn nhà có nhiều cãi vã,
tranh chấp. Rồi có thể ba, bốn mươi năm sau khi rời khỏi
căn nhà, người ấy đi vào một đường phố và ngang qua một
căn nhà có người đang cãi và tranh đấu với nhau. Đêm ấy
y có một giấc mộng thấy mình cãi vã và tranh đấu với
vợ hay người tình. Khi thức dậy, y cảm thấy buồn rầu
và mệt mỏi. Điều này người vợ nhận xét ra và phản ứng
với tính khí đó, càng làm cho y giận thêm.
Chuỗi
kinh nghiệm này chỉ cho chúng ta một cái gì về những dấu
vết nghiệp. Khi người đàn ông ấy còn trẻ, nó phản ứng
với sự tranh đấu trong nhà bằng sợ hãi, giận dữ và tổn
thương. Nó cảm thấy căm ghét tranh đấu, một đáp ứng bình
thường, và sự căm ghét này để lại trong tâm thức nó một
dấu vết. Hàng chục năm sau nó đi ngang một căn nhà và nghe
tiếng cãi vã, tranh đấu ; đây là điều kiện phụ kích thích
nghiệp xưa cũ, biểu lộ trong một giấc mơ đêm hôm ấy.
Trong
giấc mộng, người đàn ông phản ứng với sự khiêu khích
của người vợ trong mộng với những cảm giác giận dữ
và tổn thương. Sự đáp ứng này bị chỉ huy bởi những
dấu vết nghiệp đã tích tập trong thức của nó hồi nhỏ
và chắc chắn đã được làm mạnh thêm nhiều lần từ đó.
Khi người vợ trong mộng – người chỉ là một phóng chiếu
của tâm thức nó – khiêu khích nó, phản ứng của nó là
căm ghét, như hồi còn nhỏ. Sự căm ghét nó cảm thấy trong
mộng là một hành động mới tạo ra hạt giống mới. Khi
thức dậy, nó bị kẹt trong những xúc tình tiêu cực là quả
của những nghiệp trước. Nó cảm thấy lạnh nhạt và mệt
mỏi với vợ mình. Vấn đề rắc rối hơn khi người vợ
phản ứng từ những khuynh hướng nghiệp thói quen đã định,
có thể trở nên tức giận, mệt mỏi, hối tiếc, hay quỵ
lụy và người đàn ông lại phản ứng một cách tiêu cực,
gieo rắc thêm hạt giống nghiệp khác.
Mọi
phản ứng với bất kỳ hoàn cảnh nào – ngoài hay trong, thức
hay ngủ – được cắm rễ trong thương hay ghét, đều để
lại những dấu vết trong tâm thức. Vì nghiệp điều khiển
những phản ứng, những phản ứng gieo thêm hạt giống nghiệp,
những hạt giống nghiệp này lại điều khiển những phản
ứng v.v... Đấy là việc nghiệp đưa tới nghiệp nhiều hơn
như thế nào. Đó là bánh xe sanh tử, chu trình không ngừng
của hành động và phản ứng.
Dù
thí dụ này chỉ nhắm vào nghiệp trên cấp độ tâm lý học,
thực ra nghiệp xác định mọi chiều kích của hiện hữu.
Nó tạo thành những hình tượng tình cảm và tinh thần trong
đời sống một cá nhân cũng như tri giác và sự giải thích
về hiện hữu, sự vận hành của thân thể và cơ cấu nhân
và quả của thế giới bên ngoài. Mỗi phương diện của kinh
nghiệm, dù lớn hay nhỏ, đều bị nghiệp cai trị.
Những
dấu vết nghiệp lưu lại trong tâm thức giống như những
hạt giống. Và như những hạt giống, chúng đòi hỏi vài
điều kiện để biểu lộ. Như một hạt giống cần sự phối
hợp đúng của ẩm ướt, ánh sáng, chất bồi bổ và nhiệt
độ để mọc mầm và lớn lên, dấu vết nghiệp được biểu
lộ khi gặp phải hoàn cảnh thích đáng. Những yếu tố của
hoàn cảnh hỗ trợ sự biểu lộ của nghiệp là những nguyên
nhân và điều kiện (duyên) thứ yếu.
Ích
lợi khi nghĩ về nghiệp như tiến trình của nhân quả, bởi
vì điều này đưa đến nhận biết rằng những chọn lựa
tạo nên trong sự đáp ứng với mọi hoàn cảnh trong hay ngoài
đều có những hậu quả. Một khi chúng ta thực sự hiểu
rằng mỗi dấu vết nghiệp là một hạt giống cho hành động
bị nghiệp cai quản khác nữa, chúng ta có thể dùng cái hiểu
ấy để tránh tạo ra nghiệp tiêu cực trong đời chúng ta,
và thay vào đó, chúng ta tạo ra những điều kiện chúng sẽ
tác động đến cuộc đời chúng ta theo một chiều hướng
tích cực. Hay, nếu chúng ta biết làm, chúng ta có thể cho
phép xúc tình phiền não được tự giải thoát ngay khi nó
khởi sanh, trong trường hợp này không có nghiệp nào được
tạo ra cả.
NGHIỆP
TIÊU CỰC
Nếu
chúng ta phản ứng với một hoàn cảnh bằng xúc tình tiêu
cực, dấu vết để lại trong tâm thức rồi sẽ chín và ảnh
hưởng một hoàn cảnh nào đó trong cuộc đời theo một cách
tiêu cực. Thí dụ, nếu ai nổi giận với chúng ta và chúng
ta phản ứng lại với giận dữ, chúng ta để lại một dấu
vết làm cho có khả năng hơn để giận dữ khởi lên lại
trong chúng ta, và hơn nữa chúng ta có khả năng hơn để gặp
những hoàn cảnh thứ yếu cho phép cơn giận dữ thói quen
sanh khởi. Điều này dễ thấy nếu chúng ta có nhiều giận
dữ trong đời mình hay chúng ta biết có ai như vậy. Người
hay nổi giận liên tục gặp những hoàn cảnh hình như để
chứng thực cho sự giận dữ của họ, trong khi người ít
giận thì không gặp. Những hoàn cảnh bên ngoài có thể tương
tự nhưng những khuynh hướng nghiệp tạo ra những thế giới
chủ quan khác nhau.
Nếu
một xúc tình được biểu hiện một cách xung động nó có
thể gây ra những hệ quả và phản ứng mạnh mẽ. Giận dữ
có thể đưa đến đánh nhau hay loại hủy hoại khác. Người
ta có thể bị thương tổn về mặt thân thể hay tình cảm.
Điều này không chỉ đúng cho giận dữ ; nếu sợ hãi được
biểu hiện ra nó cũng có thể được tạo ra căng thẳng lớn
lao cho người chịu đựng nó, có thể làm cho người ấy xa
lánh những người khác... Không khó để thấy điều này dẫn
đến những dấu vết tiêu cực ảnh hưởng đến tương lai
một cách tiêu cực như thế nào.
Nếu
chúng ta đè nén xúc tình, vẫn còn có một dấu vết tiêu
cực. Dồn nén là một biểu lộ của ghét bỏ. Nó xảy ra
bằng sự cột chặt cái gì bên trong chúng ta, đặt cái gì
sau một cánh cửa và khóa cửa lại, ép buộc một phần kinh
nghiệm của chúng ta nằm trong bóng tối, có vẻ như chờ đợi
trong thù nghịch, cho đến khi một nguyên nhân thư yếu thích
hợp gọi nó ra. Điều này có thể biểu lộ trong nhiều cách.
Chẳng hạn, nếu chúng ta đè nén sự ghen tỵ đối với những
người khác, cuối cùng nó có thể biểu lộ trong một bùng
vỡ xúc tình, hay nó có thể hiện diện trong những phê phán
nặng nề những người gần gũi với người chúng ta âm thầm
ghen tỵ, dầu chúng ta bác bỏ việc mình có lòng ghen tỵ.
Sự phê phán của tâm trí cũng là một hành động, đặt nền
trên ghét bỏ, nó tạo ra những hạt giống nghiệp xấu.
NGHIỆP
TÍCH CỰC
Thay
vì những đáp ứng tiêu cực như vậy – bằng cách bị khuynh
hướng nghiệp dẫn dắt vào một thái độ hay bằng cách đè
nén nó – chúng ta có thể dừng lại trong giây phút và tiếp
thông với chính chúng ta và lựa chọn tạo ra cái đối trị
lại với xúc tình tiêu cực. Nếu có ai nổi giận với chúng
ta và cơn giận của chúng ta cũng khởi lên, cái đối trị
là lòng bi. Sự khơi dậy nó có thể là cưỡng bách và không
chính thống lúc ban đầu, nhưng nếu chúng ta thấu hiểu rằng
con người đang làm chúng ta tức giận đang bị thúc đẩy
bởi sự bị điều kiện hóa của chính nó và hơn nữa thấu
hiểu rằng nó đang khổ đau vì một hạn hẹp thúc ép của
thức bởi vì nó bị mắc bẫy trong nghiệp tiêu cực của
chính nó, chúng ta có thể cảm thấy lòng bi mẫn nào đó và
có thể bắt đầu buông bỏ những phản ứng tiêu cực của
chúng ta. Khi làm thế, chúng ta bắt đầu tạo hình cho tương
lai của chúng ta một cách tích cực.
Sự
đáp ứng mới mẻ này, còn căn cứ trên tham muốn – trong
trường hợp này là tham muốn đức hạnh hay bình an hay sự
tăng trưởng tâm linh – sản sanh ra một dấu vết nghiệp
tích cực ; chúng ta đã gieo hạt giống của lòng bi. Lần sau,
khi gặp giận dữ chúng ta có khả năng hơn một ít để đáp
ứng bằng lòng bi, nó thì thoải mái và khoáng đạt hơn nhiều
so với cơn giận chật hẹp của việc bảo vệ bản ngã. Theo
cách này, sự thực hành đức hạnh dần dần tu sửa lại
sự đáp ứng tiêu cực của chúng ta với thế giới và chúng
ta thấy mình chẳng hạn như càng lúc càng ít gặp sự giận
dữ cả ngoài lẫn trong. Nếu chúng ta tiếp tục trong sự thực
hành này, cuối cùng lòng bi sẽ sanh khởi tự nhiên và không
cố gắng. Dùng sự thấu hiểu nghiệp, chúng ta có thể tu
sửa lại tâm thức của chúng ta để sử dụng mọi kinh nghiệm,
dù là những giấc mộng ban ngày thoáng qua và riêng tư nhất,
để hỗ trợ cho thực hành tâm linh chúng ta.
GIẢI
THOÁT NHỮNG XÚC TÌNH
Đáp
ứng tốt nhất với xúc tình tiêu cực là cho phép nó tự
giải thoát bằng cách để nó ở trong tánh tỉnh giác bất
nhị, thoát khỏi bám nắm và ghét bỏ. Nếu có thể làm được
điều này, xúc tình đi qua chúng ta như một con chim bay qua
không gian ; không dấu vết nào của sự đi qua được lưu
lại. Xúc tình khởi lên và rồi tự nhiên tan biến vào tánh
không.
Trong
trường hợp này, hạt giống nghiệp biểu lộ – như xúc
tình hay tư tưởng hay cảm giác thân thể hay một xung đột
đối với những thái độ riêng biệt – nhưng bởi vì chúng
ta không đáp ứng với nắm lấy hay ghét bỏ, không có hạt
giống nghiệp tương lai nào được phát sanh. Chẳng hạn mỗi
lần ganh ghét được cho phép khởi lên và tan biến vào trong
tỉnh giác mà chúng ta không bị nó nắm bắt hay cố gắng
đè ép nó, thì sức mạnh của khuynh hướng nghiệp về ganh
ghét giảm sút. Không có hành động mới nào để tăng cường
nó. Giải thoát xúc tình theo cách này sẽ cắt đứt nghiệp
tận gốc của nó. Đó cũng giống như chúng ta đốt những
hạt giống nghiệp trước khi chúng có cơ hội lớn lên thành
những rắc rối trong đời chúng ta.
Bạn
có thể hỏi tại sao tốt hơn là giải thoát xúc tình thay
vì phát sanh nghiệp tích cực. Câu trả lời là mọi dấu vết
nghiệp đều bó buộc, giới hạn chúng ta vào những bản sắc
riêng biệt. Mục đích của con đường là giải thoát toàn
triệt khỏi mọi sự bị quy định, bị điều kiện hóa. Điều
này không có nghĩa một khi người ta được giải thoát, những
tính cách tích cực như lòng bi không hiện diện. Chúng có
mặt. Nhưng khi chúng ta không còn bị những khuynh hướng nghiệp
sai sử, chúng ta có thể thấy hoàn cảnh chúng ta rõ ràng và
đáp ứng một cách tự nhiên và thích đáng, hơn là bị đẩy
vào một hướng này hay đưa vào một hướng khác. Lòng bi
tương đối khởi lên từ những khuynh hướng nghiệp tích
cực thì rất tốt, nhưng tốt hơn là lòng bi tuyệt đối khởi
lên không từ nỗ lực và hoàn hảo trong đó cá nhân được
giải thoát khỏi sự bị điều kiện hóa theo nghiệp. Nó thì
rỗng rang hơn và bao trùm hơn, hiệu quả hơn và thoát khỏi
những mê lầm của nhị nguyên.
Dù
cho phép xúc tình tự giải thoát là cách đáp ứng tốt nhất,
cũng khó mà làm trước khi sự thực hành của chúng ta được
phát triển và vững chắc. Nhưng dù sự thực hành của chúng
ta mới bắt đầu, tất cả chúng ta có thể quyết định dừng
lại một lúc khi xúc tình sanh khởi, rà xét lại trong chúng
ta, và chọn lựa hành động một cách khéo léo thiện xảo
đến mức tốt nhất có thể được. Chúng ta đều có thể
học làm cùn nhụt sức mạnh của xung động, của những thói
quen nghiệp. Chúng ta có thể dùng một tiến trình ý niệm,
nhắc nhở chúng ta rằng xúc tình chúng ta đang kinh nghiệm
chỉ là quả của những dấu vết nghiệp trước kia. Bấy
giờ chúng ta có thể thư giãn, buông xả sự đồng hóa của
chúng ta với xúc tình hay quan điểm, và bỏ đi sự phòng thủ
bảo vệ của mình. Khi nút thắt của xúc tình nới lỏng,
bản sắc cá tính trở nên thư giãn và khoáng đạt hơn, rỗng
rang hơn. Chúng ta có thể chọn lựa một đáp ứng tích cực
hơn, gieo trồng những hạt giống nghiệp tích cực. Lại nữa,
quan trọng là làm điều này mà không dồn nén xúc tình. Chúng
ta nên thư giãn khi chúng ta phát sanh lòng bi, không phải đè
nén một cách cứng ngắc sự giận dữ trong thân thể chúng
ta khi cố gắng nghĩ những tư tưởng tốt đẹp.
Hành
trình tâm linh không chỉ làm lợi lạc tương lai xa xôi hay
đời sắp tới của chúng ta. Khi chúng ta thực hành huấn luyện
mình phản ứng tích cực hơn với những hoàn cảnh, chúng
ta thay đổi những dấu vết nghiệp của chúng ta và phát triển
những phẩm tính, chúng tạo thành những thay đổi tích cực
trong những cuộc đời mà chúng ta đang sống ngay từ bây giờ.
Khi chúng ta thấy rõ ràng hơn rằng mỗi kinh nghiệm, dù nhỏ
nhặt và riêng tư, đều có một kết quả, chúng ta có thể
dùng cái hiểu này để thay đổi những cuộc đời và những
giấc mộng của chúng ta.
NHỮNG
CHE ÁM CỦA THỨC
Những
dấu vết nghiệp ở lại với chúng ta như những tàn dư tâm
lý của những hành động được thực hiện với bám nắm
hay ghét bỏ. Chúng là những che ám của thức được cất
giữ trong thức nền tảng của cá thể, trong kunzhi namshe*,
(thức a lại da). Dù người ta nói nó là một kho chứa, thức
a lại da thực ra tương đương với sự che ám của thức :
khi không có những che ám của thức thì cũng không có thức
a lại da. Nó không phải là một vật hay một nơi chốn ; nó
là động lực làm nền cho sự cấu tạo của kinh nghiệm nhị
nguyên. Nó là không bản chất như một tập hợp những thói
quen và cũng đầy uy lực như những thói quen cho phép ngôn
ngữ có ý nghĩa, những hình sắc phân thành những đối tượng,
và hiện hữu xuất hiện với chúng ta như cái gì có ý nghĩa
mà chúng ta có thể điều khiển và hiểu biết.
Ẩn
dụ thông thường cho thức a lại da là một nhà kho hay nơi
chứa giữ không thể phá hủy được. Chúng ta có thể nghĩ
thức a lại da chứa giữ một tổng hợp những khuôn mẫu
hay giản đồ. Nó là một ngữ pháp của kinh nghiệm bị tác
động trong phạm vi lớn hay nhỏ bởi mỗi hành động chúng
ta làm bên ngoài hay bên trong, thân xác hay ý thức. Bao giờ
những khuynh hướng thói quen hiện hữu trong tâm thức của
cá nhân thì thức a lại da có hiện hữu. Khi người ta chết
và thân thể tan rã, thức a lại da không hư hoại. Những dấu
vết nghiệp tiếp tục trong thức cho đến khi nào chúng được
tịnh hóa. Khi chúng hoàn toàn được tịnh hóa, không có thức
a lại da nữa và cá nhân ấy là một đức Phật.
NHỮNG
DẤU VẾT NGHIỆP VÀ GIẤC MỘNG
Tất
cả kinh nghiệm sanh tử được tạo thành bởi những dấu
vết nghiệp. Tính khí, tư tưởng, xúc tình, hình ảnh tâm
thức, tri giác, phản ứng bản năng, “lương tri”, và ngay
cả cảm thức về bản thân chúng ta đều bị những công
việc của nghiệp cai trị, điều khiển. Thí dụ, bạn có
thể thức dậy với một cảm giác buồn chán. Bạn có bữa
ăn sáng, mọi sự có vẻ tốt cả, nhưng có một cảm thức
buồn chán không biết từ đâu. Trong trường hợp này chúng
ta nói nghiệp gì đó đã chín. Những nguyên nhân và điều
kiện (nhân và duyên) đã cùng chung nhau theo một cách để
buồn chán biểu lộ. Có hàng trăm lý do để cơn buồn chán
này xảy ra trong buổi sáng đặc biệt này, và nó có thể
biểu lộ trong muôn ngàn cách. Nó cũng có thể biểu lộ trong
đêm như một giấc mộng.
Trong
giấc mộng, những dấu vết nghiệp biểu lộ trong thức không
bị ràng buộc bởi tâm thức lý tính. Chúng ta có thể nghĩ
về tiến trình như vầy : suốt ngày thức soi sáng các giác
quan và chúng ta kinh nghiệm thế giới, đan dệt những kinh
nghiệm tâm thức và giác quan thành một toàn thể có ý nghĩa
của đời sống chúng ta. Vào ban đêm thức rút khỏi những
giác quan và ở trong cái nền tảng. Nếu chúng ta đã phát
triển một thực hành mạnh mẽ về sự hiện diện với nhiều
kinh nghiệm về bản tánh trống không sáng rỡ của tâm thức,
bấy giờ chúng ta sẽ biết và ở trong tánh tỉnh giác thuần
khiết, trong vắt này. Nhưng đối với hầu hết chúng ta, thức
làm hiển lộ những che ám, những dấu vết nghiệp và những
cái ấy biểu lộ thành một giấc mộng.
Những
dấu vết nghiệp giống như những tấm ảnh chúng ta chụp
từ mỗi kinh nghiệm. Mỗi một phản ứng nắm lấy hay ghét
bỏ với mỗi một kinh nghiệm – với những kỷ niệm, cảm
giác, tri giác giác quan, hay những tư tưởng – thì giống
như chụp một tấm ảnh. Trong phòng tối của giấc ngủ, chúng
ta chiếu phim. Những hình ảnh được chiếu trong một đêm
sẽ được xác định bằng điều kiện phụ vừa mới gặp.
Một số hình ảnh hay dấu vết cháy hằn sâu trong chúng ta
bởi những phản ứng mạnh mẽ, trong khi những cái khác có
từ những kinh nghiệm trên bề mặt, chỉ để lại một chất
cặn mờ nhạt. Thức của chúng ta như ánh sáng của một máy
chiếu, làm hiển lộ dấu vết đã được kích thích và chúng
biểu lộ như những hình ảnh và những kinh nghiệm của giấc
mộng. Chúng ta kết hợp chúng thành một cuộn phim, tâm thức
chúng ta làm cho nó thành có ý nghĩa, đưa đến một câu chuyện
kể tạo thành từ những khuynh hướng bị quy định và những
bản sắc thói quen : đó là giấc mộng.
Cùng
tiến trình này tiếp tục xảy ra khi chúng ta thức, tạo ra
cái chúng ta thường nghĩ như là “kinh nghiệm của chúng ta”.
Trong giấc mộng những động lực thì dễ hiểu hơn, bởi
vì chúng có thể được quan sát ngoài những giới hạn của
thế giới vật chất và tâm thức lý tính. Suốt ngày, dù
vẫn dấn thân vào cùng tiến trình tạo thành giấc mộng,
chúng ta phóng chiếu cái hoạt động bên trong này của tâm
thức lên thế giới và nghĩ rằng những kinh nghiệm của chúng
ta là “thực” và ở ngoài tâm thức của riêng chúng ta.
Trong
yoga giấc mộng, sự hiểu biết về nghiệp được dùng để
huấn luyện tâm thức phản ứng khác khi đối với kinh nghiệm,
đưa đến những dấu vết nghiệp mới và từ chúng những
giấc mộng sanh ra dễ hướng hơn vào hành trình tâm linh. Điều
này không phải là sức mạnh cưỡng ép, ý thức dành quyền
áp bức vô thức. Yoga giấc mộng lại dựa vào tỉnh giác
và quán chiếu được tăng cường để cho phép chúng ta có
những chọn lựa tích cực trong đời sống. Hiểu cơ cấu
năng động của kinh nghiệm và những hậu quả của những
hành động đưa tới sự nhận biết rằng mỗi kinh nghiệm
bất kỳ loại nào đều là một cơ hội cho thực hành tâm
linh.
Thực
hành giấc mộng cũng cho chúng ta một phương pháp đốt cháy
những hạt giống của nghiệp tương lai trong giấc mộng. Nếu
chúng ta an trụ trong tánh tỉnh giác suốt một giấc mộng,
chúng ta có thể cho phép những dấu vết nghiệp tự giải
thoát khi chúng khởi lên và chúng sẽ không tiếp tục biểu
lộ như những trạng thái tiêu cực trong đời sống chúng
ta nữa. Như trong đời sống lúc thức, điều này sẽ chỉ
xảy ra nếu chúng ta có thể ở trong tỉnh giác bất nhị của
rigpa*, tịnh quang của tâm thức. Nếu chúng ta không thể làm
điều đó, chúng ta còn có thể phát triển những khuynh hướng
để chọn lựa thái độ tích cực ngay trong những giấc mộng
cho đến khi chúng ta có thể vượt khỏi những yêu chuộng
và nhị nguyên.
Cuối
cùng, khi chúng ta tịnh hóa những che ám đến độ không có
gì còn lại, không có phim, không có những ảnh hưởng nghiệp
được che dấu, những cái làm nên màu sắc và hình dáng cho
ánh sáng của tâm thức chúng ta. Bởi vì những dấu vết nghiệp
là những gốc rễ của giấc mộng, khi chúng hoàn toàn cạn
kiệt thì chỉ còn lại ánh sáng thanh tịnh của tánh tỉnh
giác : không phim, không câu chuyện, không người mộng và không
giấc mộng, chỉ có bản tánh nền tảng sáng ngời là thực
tại tuyệt đối. Đây là tại sao giác ngộ là sự chấm dứt
của những giấc mộng và được gọi là “tỉnh thức”.
SÁU
CÕI CỦA SANH TỬ LUÂN HỒI
Theo
những giáo lý, có sáu cõi (loka*) của hiện hữu trong đó
tất cả những chúng sanh bị mê lầm đang sống. Đó là những
cõi của chư thiên, bán-thiên, người, thú, quỷ đói và địa
ngục. Một cách căn bản, những cõi ấy là sáu chiều kích
của tâm thức, sáu chiều kích của kinh nghiệm có thể có
được. Chúng biểu lộ trong cá nhân chúng ta như là sáu xúc
tình tiêu cực, sáu phiền não : Sân, tham, vô minh, ghen ghét,
kiêu mạn và phóng dật thích thú. (Phóng dật thích thú là
trạng thái xúc tình khi năm xúc tình kia hiện diện trong mức
độ cân bằng, hòa hợp quân bình). Tuy nhiên sáu cõi không
chỉ là những phạm trù của những kinh nghiệm xúc tình mà
cũng là những cõi thực có mà chúng sanh sanh ra trong đó, như
chúng ta được sanh vào cõi người hay một con sư tử sanh
vào cõi thú.
Mỗi
cõi có thể được nghĩ như một dòng tương tục của kinh
nghiệm. Chẳng hạn cõi địa ngục tạo lập trong dãy từ
kinh nghiệm xúc tình bên trong là giận dữ và thù ghét, cho
đến những thái độ tính khí cắm rễ trong giận dữ như
chiến đấu và chiến tranh, đến những thể chế, thành kiến
và thiên chấp xây dựng trên thù ghét như quân đội, thù
ghét chủng tộc, và không khoan dung, đến cõi thực trong đó
chúng sanh địa ngục sống. Một cái tên cho toàn bộ chiều
kích kinh nghiệm này, từ xúc tình cá nhân đến chỗ có thật,
là “địa ngục.”
Giống
như những giấc mộng, những cõi là những biểu lộ của
những dấu vết nghiệp, nhưng trong trường hợp các cõi, những
dấu vết nghiệp là tập thể, cộng nghiệp hơn là biệt nghiệp.
Bởi vì nghiệp là tập thể, những chúng sanh trong mỗi cõi
chia xẻ những kinh nghiệm tương tự trong một thế giới đồng
cảm, như khi chúng ta chia xẻ những kinh nghiệm tương tự
với những người khác. Cộng nghiệp tạo ra những thân thể
và giác quan và khả năng tinh thần cho phép cá thể tham dự
chia xẻ những tiềm năng và phạm trù của kinh nghiệm trong
khi lại làm cho các loại kinh nghiệm khác không thể có được.
Chẳng hạn, những con chó đều có thể nghe những âm thanh
mà con người không nghe được, và những con người kinh nghiệm
ngôn ngữ theo một cách mà loài chó không thể.
Dù
những cõi có vẽ phân biệt và cứng đặc, như thế giới
của chúng ta đối với chúng ta, chúng thật sự là như mộng
và không có bản chất. Chúng thâm nhập lẫn nhau và chúng
ta đều nối kết với mỗi cõi. Chúng ta có những hạt giống
của sự tái sanh vào các cõi khác trong chúng ta, và khi chúng
ta kinh nghiệm những xúc tình khác chúng ta tham dự vào một
số những tính cách và khổ đau đặc trưng của những cõi
khác. Chẳng hạn khi chúng ta bị giam nhốt trong kiêu hãnh tự
quy hay trong ghen ghét giận dữ, chúng ta kinh nghiệm cái gì
thuộc về tính cách của cõi bán thiên.
Đôi
khi những cá nhân có một sự trổi bật về một chiều kích
trong sự cấu tạo của nó : nhiều tính thú vật hơn, hay nhiều
tính quỷ đói hơn, hay nhiều tính chư thiên hơn. Nó trổi
bật như một nét thống trị của tính cách họ, và có thể
được nhận ra trong cách họ nói năng, đi đứng và trong những
mối quan hệ của họ. Chúng ta có thể biết người luôn luôn
hình như bị mắc vào cõi quỷ đói : họ không bao giờ thấy
đủ, họ luôn luôn đói khát hơn nữa mọi thứ – thêm nữa
bạn bè, môi trường, cuộc sống – nhưng chẳng bao giờ thỏa
mãn. Hay có lẽ chúng ta biết người nào có vẻ giống như
một chúng sanh địa ngục : giận dữ, thô bạo, điên dại,
rối loạn. Thường hơn, người ta có những phương diện của
mọi chiều kích trong con người cá thể của họ.
Vì
những chiều kích của thức như vậy biểu lộ trong những
xúc tình, thì việc chúng là phổ quát như thế nào trở nên
rõ ràng. Chẳng hạn, mỗi văn hóa đều biết sự ghen tỵ.
Hình thức xuất hiện của ghen tỵ có thể biến đổi bởi
vì sự diễn tả xúc tình là một phương tiện thông tin, một
ngôn ngữ bằng cử chỉ, cả hai đều do sinh học và văn hóa
quyết định, và văn hóa thì sai khác. Nhưng cảm xúc ghen tỵ
là như nhau ở bất kỳ nơi đâu. Trong Phật giáo cũng như
đạo Bošn, tính phổ quát này được giải thích bằng và
liên hệ với sự hiện hữu của các cõi.
Sáu
xúc tình tiêu cực không tạo thành một danh sách đầy đủ
các phiền não, nhưng vô ích khi nói rằng tại sao không có
cõi nào cho buồn bã và sợ hãi. Sợ hãi có thể xảy ra trong
bất kỳ cõi nào, cũng như buồn bã hay giận dữ hay ghen tỵ
hay tình thương. Dù những xúc tình tiêu cực là những kinh
nghiệm cảm xúc mà chúng ta có, và là những kinh nghiệm cảm
xúc đặc trưng của các cõi, chúng cũng là những chủ âm
tiêu biểu cho toàn thể chiều kích của kinh nghiệm, dòng tương
tục từ kinh nghiệm xúc tình cá thể đến những cõi có thực.
Và những chiều kích này mỗi cái đều bao trùm những khả
tính rộng lớn của kinh nghiệm, gồm cả kinh nghiệm khác
nhau.
Sáu
phẩm tính của tâm thức được gọi là những con đường
bởi vì chúng dẫn đến nơi nào đó : chúng đưa chúng ta đến
những nơi chốn để tái sanh cũng như vào những lãnh vực
khác nhau của kinh nghiệm trong cuộc đời này. Khi một chúng
sanh đồng hóa với một trong những xúc tình tiêu cực, hay
bị chúng đánh bẫy bắt, và kết quả xảy ra. Đây là cách
nghiệp tác động. Thí dụ, để được sanh làm một con người,
chúng ta phải đã dấn thân mạnh mẽ vào những giới luật
trong những đời trước. Ngay trong văn hóa quần chúng điều
này được diễn tả trong nhận xét rằng cho đến bao giờ
tình thương và sự quan tâm cho những người khác trưởng
thành mà một người mới được xem là “tính người trọn
vẹn.”
Nếu
chúng ta sống một cuộc đời mang tính chất của những xúc
tình tiêu cực thù ghét hay giận dữ, chúng ta kinh nghiệm một
kết quả khác : chúng ta tái sanh vào địa ngục. Điều này
xảy ra thực sự, một người có thể tái sanh trong cõi địa
ngục, cũng như về mặt tâm lý. Nối kết mình với chiều
kích thù hận tạo ra những kinh nghiệm mà thậm chí ngay trong
đời này chúng ta gọi là “địa ngục.”
Dầu
những cõi có vẻ như hoang đường với người ở Tây phương,
sự biểu lộ của sáu cõi có thể được nhận thấy trong
chính kinh nghiệm, những giấc mơ và đời sống lúc thức,
và trong cuộc sống của những người gần chúng ta. Chẳng
hạn, đôi khi chúng ta cảm thấy mất mình. Chúng ta biết làm
thế nào tiếp tục thói thường hàng ngày của mình, nhưng
ý nghĩa thì trốn tránh chúng ta. Ý nghĩa đi đâu mất, không
phải qua sự giải thoát, mà qua sự thiếu thấu hiểu. Chúng
ta có những giấc mộng ở trong bùn, hay trong một chỗ tối,
hay trên một đường phố không có dấu hiệu. Chúng ta vào
một văn phòng không có lối ra, hay cảm thấy bối rối không
biết đi hướng nào. Đây có thể là một biểu lộ của vô
minh, cõi thú. (Cái vô minh này không giống như vô minh bẩm
sinh, nó là một sự mờ đục, một thiếu vắng thông minh.)
Chúng
ta kinh nghiệm cái gì của cõi thiên khi chúng ta mất mình trong
phóng dật thích thú, hưởng thụ những thời kỳ mù sương
của lạc thú và hạnh phúc. Nhưng những thời kỳ này cuối
cùng rồi cũng hết. Và khi chúng còn, tỉnh giác của chúng
ta phải bị bó chặt. Chúng ta phải ở trong một loại bề
mặt cạn cợt và không nhìn khá sâu vào hoàn cảnh chung quanh
chúng ta, không biết đến những khổ đau quanh ta. Hưởng thụ
những thời kỳ thích thú trong cuộc đời của chúng ta thì
cũng tốt thôi, nhưng nếu chúng ta không thực hành, không tiếp
tục giải thoát chúng ta khỏi những cá tánh bản sắc bó
hẹp và sai lầm, cuối cùng chúng ta sẽ đi qua thời kỳ thích
thú và rơi vào một trạng thái khó khăn hơn, không chuẩn
bị, nơi chúng ta có khả năng mất mình trong một loại khổ
đau. Vào cuối một buổi tiệc hay một ngày rất thích thú
thường có một loại hụt hẫng hay thất vọng trên đường
về nhà. Hay sau một kỳ nghỉ cuối tuần hạnh phúc chúng
ta có thể cảm thấy buồn chán khi trở lại công việc.
Tất
cả chúng ta đều có những thời kỳ kinh nghiệm các cõi khác
nhau : hạnh phúc của cõi thiên, cơn đau của tham muốn khi
thấy cái gì cảm thấy cần phải có, sự nhục nhã của lòng
kiêu mạn bị thương, những cơn đau nhói của ghen tỵ, tính
địa ngục của cay đắng và thù hận, sự mờ đục và mê
mờ của vô minh. Chúng ta di chuyển từ kinh nghiệm của một
cõi này đến cõi khác dễ dàng và thường xuyên. Chúng ta
thay đổi những chiều kích của kinh nghiệm và thế giới
bên ngoài hình như cũng phải thay đổi đối với chúng ta.
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Cũng như thế, những
chúng sanh trong những cõi khác nối kết với mọi cõi ; cả
hai, một con mèo và một a-tu-la bán thiên cũng kinh nghiệm giận
dữ, ghen tỵ, đói khát...
Trong
cuộc sống như mộng của chúng ta, chúng ta cũng kinh nghiệm
sáu cõi. Như sáu xúc tình xác định phẩm tính của kinh nghiệm
ban ngày, chúng tạo thành cảm giác và nội dung của những
giấc mộng. Những giấc mộng thì vô số khác biệt nhưng
mọi giấc mộng do nghiệp đều nối kết với một hay nhiều
trong sáu chiều kích.
Dưới
đây là một diễn tả về sáu cõi. Theo truyền thống, những
cõi được trình bày như những diễn tả nơi chốn và chúng
sanh ở đó. Những địa ngục chẳng hạn, có mười tám cái,
chín địa ngục nóng và chín địa ngục lạnh. Tất cả những
chi tiết của những diễn tả truyền thống là có ý nghĩa,
nhưng ở đây chúng ta tập chú vào những kinh nghiệm của
các cõi ngay tại đây, trong đời sống này. Chúng ta nối kết
với mỗi chiều kích của kinh nghiệm một cách năng động
qua một trung tâm năng lực (chakra*) trong thân thể. Nơi chốn
được kê ra dưới đây. Những luân xa (chakra) là quan trọng
trong nhiều thực hành khác nhau và giữ một giai trò quan trọng
trong yoga giấc mộng.
Cõi
Địa Ngục
Giận
dữ là xúc tình hạt giống của cõi địa ngục. Khi những
dấu vết nghiệp của giận dữ biểu lộ, có nhiều diễn
tả như ghét bỏ, căng thẳng, phẩn nộ, chỉ trích, tranh luận
và bạo động. Khi giận dữ đánh bại chúng ta, chúng ta mất
tự chủ và tỉnh giác. Khi chúng ta bị mắc vào thù hận,
bạo động và giận dữ, chúng ta tham dự vào cõi địa ngục.
CÕI
Thiên
(Devas)
Bán
thiên (Asuras)
Người
Thú
Quỷ
đói (Pretas)
Địa
ngục |
XÚC
TÌNH CHỦ ĐẠO
Phóng
dật thích thú
Đố
kỵ
Ghen
tỵ
Vô
minh
Tham
lam
Thù
hận |
LUÂN
XA
Đỉnh
đầu
Cổ
họng
Tim
Rốn
Cơ
quan sinh dục
Lòng
bàn chân |
Trung
tâm năng lực của giận dữ là trong bàn chân. Cái đối trị
cho giận chỉ là tình thương trong sạch vô điều kiện, nó
khởi từ vô ngã.
Theo
truyền thống, những địa ngục được nói là gồm chín địa
ngục nóng và chín địa ngục lạnh. Những chúng sanh sống
ở đó chịu khổ vô hạn, bị hành hạ đến chết và tức
thời sống lại, cứ thế trở đi trở lại mãi.
Cõi
Quỷ Đói
Tham
lam là xúc tình hạt giống của cõi quỷ đói (preta). Tham lam
khởi lên như một cảm giác cần thiết quá độ không thể
đáp ứng được. Thử thỏa mãn tham lam thì giống như khát
mà uống nước muối. Khi mất mình trong tham lam chúng ta tìm
kiếm bên ngoài hơn là bên trong để thỏa mãn, tuy nhiên chúng
ta không bao giờ tìm thấy đủ để lấp đầy sự trống không
mà chúng ta muốn trốn thoát. Cơn đói thực sự chúng ta cảm
thấy là sự đói khát hiểu biết về bản tánh chân thật
của chúng ta.
Tham
lam phối hợp với tham muốn tình dục ; trung tâm năng lực
của nó trong thân thể là luân xa phía sau bộ phận sinh dục.
Rộng lượng, bố thí, sự cho đi rộng rãi cái mà những người
khác cần, cởi mở nút thắt cứng cõi của tham.
Những
quỷ đói theo truyền thống được hình dung là những chúng
sanh với cái bụng khổng lồ, đói khát và miệng và cổ họng
thì nhỏ xíu. Một số ở nơi những miền hàng trăm năm không
có một ngụm nước. Những quỷ đói khác có thể tìm thấy
đồ ăn và thức uống, tuy nhiên nếu lại nuốt một miếng
qua miệng, thức ăn bùng cháy thành ngọn lửa trong bao tử
và gây rất đau đớn. Có nhiều loại khổ đau cho quỷ đói,
nhưng tất cả đều từ tính keo kiệt và chống lại sự rộng
lượng của những người khác.
Cõi
Thú
Vô
minh là hạt giống của cõi thú. Nó được kinh nghiệm như
một cảm giác bị lạc mất, mờ đục, bất định hay không
tỉnh táo rõ biết. Nhiều người kinh nghiệm một sự tối
tăm và buồn rầu cắm rễ trong vô minh này ; họ cảm thấy
một nhu cầu nhưng thậm chí không biết mình muốn cái gì
hay làm cái gì để mãn nguyện.
Luân
xa phối hợp với vô minh là ở trung tâm của thân, ngang mức
với rốn. Trí huệ được tìm thấy khi chúng ta xoay vào bên
trong và đi đến chỗ hiểu biết bản tánh chân thật của
chúng ta là sự đối trị của vô minh.
Chúng
sanh trong cõi thú bị bóng tối của vô minh ngự trị. Thú
vật sống trong sợ hãi, sợ thú khác và người. Những con
thú lớn cũng bị hành hạ bởi côn trùng đào vào da và ở
trong thịt. Thú nuôi thì bị vắt sữa, chở nặng, bị thiến,
xỏ mũi, không có cách thoát. Thú vật cảm thấy khổ và sướng,
nhưng chúng bị vô minh ngự trị không thể nhìn vào thân phận
của chúng để tìm bản tánh chân thật của chúng.
Cõi
Người
Ghen
tỵ là xúc tình gốc rễ của cõi người. Khi bị ghen tỵ
chiếm hữu, chúng ta muốn bám lấy và rút về mình cái chúng
ta có : một ý tưởng, một sở hữu, một tương quan. Chúng
ta thấy nguồn của hạnh phúc là cái gì ở ngoài chúng ta,
điều này đưa chúng ta đến bám luyến mạnh mẽ hơn vào
đối tượng của tham muốn.
Ghen
tỵ liên hệ với trung tâm tim trong thân thể. Cái đối trị
cho ghen tỵ là sự mở rộng lòng mình, cái rỗng rang khi chúng
ta nối kết với bản tính chân thật của chúng ta.
Chúng
ta dễ dàng quan sát sự khổ đau của cõi mình. Chúng ta kinh
nghiệm sanh, già, bệnh, chết. Chúng ta phiền muộn vì biến
dịch thường trực, những nỗ lực giữ gìn cái chúng ta muốn
cuối cùng đều thất bại. Thay vì tùy hỷ với những hạnh
phúc của những người khác, chúng ta thường làm mồi cho
đố kỵ và ghen tỵ. Dù sự tái sanh làm người được xem
là may mắn nhất vì con người có dịp nghe và thực hành giáo
pháp, nhưng chỉ có một số nhỏ tìm thấy và lợi dụng được
cơ hội vĩ đại này.
Cõi
Bán-Thiên
Kiêu
mạn là phiền não chính của cõi bán thiên (a-tu-la). Kiêu mạn
là một cảm giác nối kết với sự thành công và thường
là cục bộ, gây chiến. Có một phương diện ẩn dấu của
kiêu mạn là khi chúng ta tin rằng mình tệ hơn những người
khác trong một khả năng hay nét đặc biệt nào đó, một thứ
tự quy tiêu cực tách lìa chúng ta với người khác.
Kiêu
mạn phối hợp với luân xa cổ họng. Kiêu mạn thường biểu
lộ trong hành động phẫn nộ, và cái đối trị của nó là
thanh bình vĩ đại và khiêm hạ bao la khi chúng ta ở trong bản
tính chân thật của chúng ta.
Những
bán thiên a-tu-la hưởng thụ lạc thú và sự dồi dào nhưng
họ có khuynh hướng đố kỵ và hung nộ. Họ thường đánh
nhau, nhưng khổ đau lớn nhất của họ là khi họ tuyên chiến
với chư thiên, những người hưởng thụ sự dồi dào còn
hơn loài bán thiên. Những thiên thì nhiều quyền lực hơn
bán thiên và rất khó giết. Họ luôn luôn thắng trận, và
những bán thiên chịu sự hủy hoại của lòng kiêu hãnh và
đố kỵ bị thương, và điều này lại dẫn họ đến chiến
tranh vô vọng trở đi trở lại.
Cõi
Thiên
Phóng
dật thích thú là hạt giống của cõi thiên. Trong cõi thiên,
năm phiền não tiêu cực cũng hiện diện, quân bình như năm
giọng hòa âm của một dàn nhạc. Những thiên bị mất mình
trong một cảm thức say sưa của niềm vui lười biếng và
lạc thú tự quy. Họ hưởng thụ sung túc và tiện nghi lớn
lao trong đời sống kéo dài cả một kiếp. Mọi nhu cầu có
vẻ được thỏa mãn và mọi tham muốn được đáp ứng. Cũng
đúng như đối với một số cá nhân và xã hội, chư thiên
bị mắc vào lạc thú và sự theo đuổi lạc thú. Họ không
có cảm thức về thực tại bên dưới kinh nghiệm của họ.
Mất tăm trong những tiêu khiển và lạc thú vô nghĩa, họ
bị phóng dật và không trở lại con đường giải thoát.
Nhưng
hoàn cảnh cuối cùng rồi thay đổi khi những nguyên nhân nghiệp
cho sự hiện hữu ở cõi thiên cạn kiệt. Khi cái chết cuối
cùng rồi cũng đến gần, họ bị bạn bè và đồng nghiệp
bỏ rơi, vì những thiên này không thể đối mặt với bằng
chứng về bản chất phải chết của họ. Với thiên nhãn,
vị thiên này thấy những điều kiện của cõi khổ mà mình
bị sanh vào, và ngay trước khi chết khổ đau của đời tới
đã bắt đầu.
Cõi
thiên phối hợp với luân xa đỉnh đầu. Cái đối trị với
niềm vui ích kỷ của chư thiên là lòng bi trùm khắp khởi
lên một cách tự nhiên qua tỉnh giác về thực tại nền tảng
của bản ngã và thế giới.
TẠI
SAO LÀ XÚC TÌNH “TIÊU CỰC” ?
Nhiều
người ở Tây phương không thoải mái khi nghe những xúc tình
được đặt tên là tiêu cực, nhưng không phải rằng những
xúc tình tự nó là tiêu cực. Mọi xúc tình, tình cảm giúp
duy trì và cần thiết cho kinh nghiệm trọn vẹn của con người,
gồm những xúc tình tham luyến, giận dữ, kiêu mạn, ghen tỵ...
Không có những xúc tình chúng ta sẽ không sống trọn vẹn
đầy đủ.
Tuy
nhiên những xúc tình là tiêu cực tới một chừng mực mà
chúng ta bị giam nhốt trong chúng và mất sự tiếp xúc với
những phương diện sâu xa hơn của chúng ta. Chúng là tiêu
cực nếu chúng ta phản ứng với chúng bằng bám nắm và ghét
bỏ, bởi vì bấy giờ chúng ta chịu một sự bó hẹp của
thức và tính cách cá nhân. Bấy giờ chúng ta gieo những hạt
giống của những thân phận tiêu cực tương lai, chúng nhốt
chúng ta trong những cõi khổ, nơi khó mà tiến hành hành trình
tâm linh. Và kết quả này là tiêu cực khi được so sánh với
một nhân cách rộng mở hơn và đặc biệt khi so sánh với
sự giải thoát khỏi mọi nhân cách giả tạo và trói buộc.
Bởi thế quan trọng là phải nghĩ đến những cõi không chỉ
như những xúc tình mà như sáu chiều kích của thức và kinh
nghiệm.
Có
những khác biệt văn hóa về xúc tình. Chẳng hạn sợ hãi
và buồn rầu ít được nói đến trong kinh điển, tuy nhiên
hầu hết sanh tử đều nhuốm màu cả hai cái đó. Và ý niệm
tự giận ghét thì ngoại lai xa lạ với người Tây Tạng,
họ không có từ ngữ để diễn tả nó. Khi tôi đến Phần
Lan, nhiều người nói với tôi về sự chán nản ; điều này
rất ngược với Ý, nơi tôi vừa ở đó và người ta nói
rất ít đến chán nản. Khí hậu, tôn giáo, truyền thống
và hệ thống niềm tin điều kiện hóa chúng ta và ảnh hưởng
vào kinh nghiệm của chúng ta. Nhưng cái cơ cấu tiềm ẩn làm
chúng ta mắc kẹt – nắm và bỏ, phóng chiếu và sự tương
tác nhị nguyên với cái chúng ta phóng chiếu – thì như nhau
ở bất kỳ đâu. Đây là cái tiêu cực trong xúc tình.
Nếu
chúng ta thực sự hiểu và kinh nghiệm bản tính trống không
của hiện hữu, bấy giờ không có bám nắm và bởi thế không
có hình thức thô hơn của xúc tình, nhưng nếu không biết
(vô minh) về bản tánh chân thực của những hiện tượng,
chúng ta bám nắm những phóng chiếu của tâm thức như thể
chúng là thực. Chúng ta phát triển một tương quan nhị nguyên
với những vọng tưởng, cảm thấy giận dữ hay tham lam hay
những phản ứng khác khi liên hệ với chúng. Trong thực tại
tuyệt đối không có thực thể tách biệt nào là đích cho
sự giận dữ của chúng ta, hay là đối tượng cho bất kỳ
xúc tình nào. Chúng ta tự tạo ra câu chuyện, những phóng
chiếu và những phản ứng với những phóng chiếu đó.
Thường
ở Tây phương, cái hiểu về những xúc tình được dùng theo
lối tâm lý học để cố gắng cải thiện cuộc sống, con
người trong sanh tử. Điều này là tốt. Tuy nhiên hệ thống
Tây Tạng có một mục đích khác và tập trung hơn vào sự
thấu hiểu những xúc tình để chúng ta có thể tự do khỏi
sự trói buộc và những quan điểm sai lầm mà chúng ta bám
chấp qua sự bám luyến thuộc xúc tình. Lại nữa, điều này
không có nghĩa những xúc tình tự chúng là tiêu cực, nhưng
chúng là tiêu cực trong mức độ mà chúng ta trói buộc vào
chúng hay tự do với chúng.
3
Thân Thể Năng Lực
Mọi
kinh nghiệm thức hay mộng đều có một căn cứ năng lực.
Cái năng lực sống này, cái sinh lực này được gọi là lung*
trong tiếng Tây Tạng nhưng ở Tây phương được biết nhiều
hơn là danh từ Sankrit, prana*. Cơ cấu làm nền cho mọi kinh
nghiệm là một sự phối hợp chính xác của nhiều điều
kiện và nguyên nhân khác nhau. Nếu chúng ta có thể hiểu tại
sao và như thế nào một kinh nghiệm xảy ra và nhận biết
những động cơ tâm lý sinh lý và năng lực của nó, bấy
giờ chúng ta có thể tạo ra những kinh nghiệm này hay biến
đổi chúng. Điều này cho phép chúng ta phát sinh những kinh
nghiệm nâng đỡ cho thực hành tâm linh và tránh những kinh
nghiệm có hại.
NHỮNG
KINH MẠCH VÀ KHÍ PRANA
Trong
đời sống hàng ngày chúng ta có nhiều tư thế thân thể khác
nhau mà không nghĩ đến những hiệu quả của chúng. Khi chúng
ta muốn thư giãn và nói chuyện với bạn bè chúng ta đến
một phòng có những cái ghế hay ghế bành. Điều này tăng
cường kinh nghiệm an tĩnh và thư giãn và thuận lợi dễ dàng
cho sự nói chuyện. Nhưng khi chúng ta đang hoạt động trong
những thảo luận công việc chúng ta đến một văn phòng nơi
có những cái ghế giữ cho chúng ta thẳng lưng hơn và kém
thư giãn hơn. Điều này hỗ trợ hơn cho công việc và những
nỗ lực sáng tạo. Nếu muốn nghỉ ngơi trong yên lặng chúng
ta có thể đến một cổng vòm và ngồi trong một loại ghế
khác để hưởng được phong cảnh và luồng gió. Khi mệt
chúng ta vào phòng ngủ và dùng một tư thế hoàn toàn khác
để khơi dẫn giấc ngủ.
Tương
tự, chúng ta dùng nhiều tư thế thiền định khác nhau để
thay đổi dòng chảy của khí trong thân bằng cách tác động
những kinh mạch* (tsa*), chúng là những đường dẫn năng lực
trong thân thể, và để mở những điểm tập trung năng lực,
những luân xa. Làm điều này gợi ra những loại kinh nghiệm
khác nhau. Nó cũng là căn cứ cho những cử động yoga. Hướng
dẫn một cách có ý thức năng lực trong thân thể chúng ta
cho phép một phát triển dễ và nhanh trong thực hành thiền
định hơn là nó xảy ra khi chúng ta chỉ dựa vào tâm thức.
Không dùng hiểu biết về khí và sự chuyển động của khí
trong thân thể, tâm thức có thể trở nên mắc lầy trong những
tiến trình riêng của nó.
Những
kinh mạch, khí và những luân xa được tham gia vào cái chết
cũng như đời sống. Hầu hết những kinh nghiệm huyền bí
cũng như những kinh nghiệm trong trạng thái trung ấm sau khi
chết có từ sự mở và đóng các điểm năng lực. Nhiều
cuốn sách kể về những hiện tượng kinh nghiệm cận tử
chứa đựng những diễn tả về những ánh sáng và những
nhìn thấy mà người ta kinh nghiệm khi họ bắt đầu tiến
trình cái chết. Theo truyền thống Tây Tạng, những hiện tượng
này liên hệ với chuyển động của khí. Những kinh mạch
phối hợp với những nguyên tố (các đại) khác nhau ; trong
sự tan rã của các nguyên tố vào lúc chết, vì những kinh
mạch hư hoại, năng lực được giải phóng biểu lộ thành
kinh nghiệm như ánh sáng và màu sắc. Những giáo lý đi vào
chi tiết, ánh sáng nào liên hệ với sự tan rã của kinh mạch
nào, ở nơi nào trong thân thể, và liên quan với xúc tình
nào.
Có
khác biệt đáng kể trong việc những ánh sáng này xuất hiện
với người ta như thế nào lúc chết, bởi vì chúng liên hệ
với xúc tình tiêu cực lẫn những phương diện trí huệ tích
cực của thức. Người trung bình kinh nghiệm những xúc tình
khi chết, và xúc tình trổi bật xác định những màu sắc
và ánh sáng xuất hiện. Ban đầu, thường chỉ có một kinh
nghiệm về những ánh sáng màu trong đó một màu là chính,
nhưng cũng có trường hợp vài màu nổi trội hay có một phối
hợp nhiều màu. Bấy giờ ánh sáng bắt đầu tạo thành những
hình ảnh khác nhau, như trong giấc mộng : những nhà cửa,
lâu đài, mạn đà la, người, hóa thần, hay mọi vật khác.
Khi chúng ta chết, chúng ta có thể cho những cái nhìn thấy
như vậy như là thực thể thuộc sanh tử, trong trường hợp
này chúng ta bị những phản ứng của chúng ta đối với chúng
chế ngự và đi về sự tái sanh kế tiếp, hay như là những
kinh nghiệm thiền định, điều này cho phép chúng ta cơ hội
giải thoát hay ít ra khả năng ảnh hưởng bằng ý thức vào
sự tái sanh tới của chúng ta trong một chiều hướng tích
cực.
NHỮNG
KINH MẠCH (TSA)
Có
nhiều loại kinh mạch trong thân thể. Chúng ta biết những
kinh mạch thô hơn nhờ nghiên cứu y học về giải phẫu, trong
đó chúng ta học về những mạch máu, sự tuần hoàn của
bạch huyết, hệ thống mạng thần kinh... Cũng có những kinh
mạch, như được nhận biết trong châm cứu, là những ống
dẫn cho những hình thức thô đặc hơn của khí. Trong yoga
giấc mộng chúng ta quan tâm tới một năng lực tâm thức còn
tinh tế hơn nằm dưới cả trí huệ lẫn xúc tình phiền não.
Những kinh mạch chứa dẫn loại năng lực rất tinh tế này
không thể định vị trong chiều kích vật lý nhưng chúng ta
có thể trở nên tỉnh biết về chúng.
Có
ba kinh mạch gốc. Sáu luân xa chính thì ở trên và trong chúng.
Từ sáu luân xa này, ba trăm sáu mươi kinh mạch nhánh tỏa
khắp thân thể. Ba kinh mạch gốc ở đàn bà là kinh mạch
màu đỏ bên phải của thân, kinh mạch màu trắng ở bên trái,
và kinh mạch trung ương màu xanh. Ở đàn ông kinh mạch phải
màu trắng và kinh mạch trái màu đỏ. Ba kinh mạch gốc nối
với nhau khoảng bốn inch (một inche : 25,4 mm) dưới rốn. Hai
kinh mạch hai bên, đường kính cỡ bằng cây bút chì, đi thẳng
lên hai bên và ở trước xương sống, qua não, cong lại dưới
xương sọ ở đỉnh đầu và mở ra hai lỗ mũi. Kinh mạch
trung ương đứng thẳng giữa chúng, trước xương sống, đường
kính khoảng cây mía và hơi rộng ra từ vùng tim đến đỉnh
đầu, và chấm dứt ở đó.
Kinh
mạch trắng (bên phải đối với đàn ông và bên trái đối
với đàn bà) là kinh mạch qua đó những năng lực của những
xúc tình tiêu cực di chuyển. Đôi khi kinh mạch được xem
là kinh mạch của phương tiện, phương pháp. Kinh mạch đỏ
(bên trái đối với đàn ông và bên phải đối với đàn
bà) là ống dẫn của những năng lực tích cực hay trí huệ.
Bởi thế, trong thực hành giấc mộng, đàn ông ngủ bên phía
phải và đàn bà ngủ bên phía trái để đặt sức ép lên
kinh mạch trắng và như thế đóng bớt nó lại trong khi mở
rộng kinh mạch đỏ trí huệ. Điều này cho những kinh nghiệm
giấc mộng tốt hơn, bao gồm một kinh nghiệm xúc tình tích
cực và sự sáng tỏ lớn hơn.
Kinh
mạch màu xanh trung ương là kinh mạch của bất nhị. Chính
trong kinh mạch trung ương mà năng lực của tánh giác bổn
nguyên (rigpa) di chuyển. Thực hành giấc mộng cuối cùng đem
ý thức và khí vào kinh mạch trung ương, nơi nó vượt khỏi
cả kinh nghiệm tiêu cực và tích cực. Khi điều này xảy
ra, hành giả chứng ngộ sự hợp nhất của mọi nhị nguyên
bề ngoài. Thông thường khi người ta có những kinh nghiệm
huyền bí, những kinh nghiệm lớn của lạc hay tánh không hay
sáng tỏ hay rigpa, chúng đều đặt nền trong kinh mạch trung
ương về mặt năng lực.
KHÍ
(LUNG, PRANA)
Mộng
là một tiến trình năng động. Khác với những hình ảnh
tĩnh của phim mà chúng ta dùng như một thí dụ, những hình
ảnh của giấc mộng thì trôi chảy : chúng chuyển động,
người nói, âm thanh rung vang, cảm giác sống động. Nội dung
của giấc mộng được tạo thành bởi tâm thức, nhưng nền
tảng của sự sống động của giấc mộng là khí. Chữ dịch
nghĩa đen theo Tây Tạng danh từ prana, lung, là “gió”, nhưng
gọi nó là sức mạnh sinh khí thì có nhiều nghĩa diễn tả
hơn.
Khí
là năng lực nền tảng của mọi kinh nghiệm, của mọi đời
sống. Ở Đông phương, người ta thực hành những tư thế
yoga và những thực tập thở khác nhau để làm mạnh và tinh
lọc sức mạnh sinh khí hầu làm cân bằng thân và tâm. Một
số giáo lý bí truyền Tây Tạng diễn tả hai loại khí khác
nhau : khí nghiệp và khí trí huệ.
Khí
Nghiệp
Khí
nghiệp (khí thuộc nghiệp) là căn cứ năng lực của những
dấu vết nghiệp, những dấu vết nghiệp này là kết quả
của mọi hành động tích cực, tiêu cực và trung tính. Khi
những dấu vết nghiệp được sống động bởi những nguyên
nhân phụ thích hợp, khí nghiệp bồi bổ năng lực cho chúng
và cho phép chúng có một hiệu quả trong tâm, thân và những
giấc mộng. Khí nghiệp là sinh lực của cả hai năng lực
tích cực và tiêu cực trong cả hai kinh mạch trên.
Khi
tâm thức không vững chắc, phóng dật hay không tập chú, khí
nghiệp chuyển động. Chẳng hạn khi một xúc tình khởi và
tâm thức không có sự kiểm soát nó, khí nghiệp chở tâm
thức đến bất kỳ chỗ nào nó muốn. Sự chú ý của chúng
ta di chuyển đây đó, bị thúc đẩy bởi ghét bỏ và tham
muốn.
Khai
triển sự vững chắc nội tâm là cần thiết trên con đường
tâm linh, để làm cho tâm thức mạnh mẽ, hiện diện và tập
chú. Bấy giờ, dù khi những lực lượng của những xúc tình
tiêu cực khởi lên, chúng ta không bị cuốn vào phóng dật
bởi những khí nghiệp. Trong yoga giấc mộng, một khi chúng
ta đã phát triển khả năng có những giấc mộng sáng sủa
minh bạch, chúng ta phải vững chắc đủ trong hiện diện để
ổn định những giấc mơ do sự chuyển động của khí nghiệp
tạo ra và để phát triển sự kiểm soát đối với giấc
mộng. Cho đến khi sự thực hành được phát triển, những
người nằm mộng đôi khi kiểm soát giấc mộng và đôi khi
giấc mộng kiểm soát người nằm mộng.
Dù
một số nhà tâm lý học Tây phương tin rằng người nằm
mộng không nên kiểm soát giấc mộng, theo những giáo lý Tây
Tạng đây là một quan điểm sai lầm. Người nằm mộng mà
minh bạch tỉnh táo để kiểm soát giấc mộng thì tốt hơn
người nằm mộng bị mộng. Cũng đúng như thế với những
tư tưởng : người tư tưởng kiểm soát những tư tưởng
thì tốt hơn để cho những tư tưởng kiểm soát người tư
tưởng.
Ba
Loại Khí Nghiệp
Một
số bản văn yoga Tây Tạng diễn tả ba loại khí nghiệp :
khí mềm mại, khí thô và khí trung tính. Khí mềm mại để
chỉ khí trí huệ thiện, nó lưu chuyển qua kinh mạch trí huệ
màu đỏ. Khí thô để chỉ khí của xúc tình tiêu cực, nó
lưu chuyển qua kinh mạch màu trắng. Trong sự xếp loại này,
cả hai khí trí huệ thiện và khí xúc tình đều là khí thuộc
nghiệp.
Khí
trung tính là không thiện cũng không ác, nhưng nó vẫn là khí
nghiệp. Nó ở khắp thân thể. Kinh nghiệm về khí trung tính
đưa hành giả đến kinh nghiệm về khí bổn nguyên tự nhiên,
nó không phải là khí nghiệp mà là năng lực của rigpa bất
nhị trú trong kinh mạch trung ương.
Khí
Trí Huệ
Khí
trí huệ (ye-lung), không phải là khí nghiệp. Không nên lầm
lẫn nó với khí nghiệp trí huệ thiện nói ở trên.
Trong
khoảnh khắc đầu tiên của bất kỳ kinh nghiệm nào, trước
khi một phản ứng xảy ra, lúc ấy chỉ có tri giác thanh tịnh.
Khí tham dự vào kinh nghiệm thanh tịnh này là khí trí huệ
bổn nguyên, năng lực làm nền cho cái kinh nghiệm trước khi
và tự do khỏi bám lấy và ghét bỏ. Kinh nghiệm thanh tịnh
này không để lại một dấu vết và không là nguyên nhân
của giấc mộng nào. Khí trí huệ lưu chuyển trong kinh mạch
trung ương và là năng lực của rigpa. Khoảnh khắc này là
rất ngắn ngủi, một tia chớp của kinh nghiệm thanh tịnh
thuần khiết về cái mà chúng ta thường không thức giác.
Chính trong khoảnh khắc này mà phản ứng bám lấy và ghét
bỏ của chúng ta khởi lên, và sự khởi lên đó chúng ta lại
nghĩ là phản ứng của chúng ta.
Hoạt
Động của Khí
Vị
thầy Tây Tạng Longchenpa nói trong một bản văn rằng có 21.600
chuyển động của khí trong chỉ một ngày. Dầu có theo nghĩa
đen hay không, nhận xét này chỉ ra hoạt động khổng lồ
của khí và tư tưởng xảy ra mỗi ngày.
QUÂN
BÌNH KHÍ
Đây
là một thực hành đơn giản để quân bình khí : Đàn ông
dùng ngón tay trái đeo nhẫn để bịt lỗ mũi bên trái và
thở mạnh ra qua lỗ mũi phải. Hãy tưởng tượng rằng mọi
căng thẳng và xúc tình tiêu cực trôi ra ngoài theo hơi thở
ra. Rồi bịt lỗ mũi phải với ngón tay đeo nhẫn phải và
thở vào thật sâu, thật nhẹ và êm, qua lỗ mũi trái. Sau
khi thở vào hãy để cho tất cả không khí, khí prana, thấm
khắp toàn thân bạn khi bạn giữ lại trong hơi thở trong một
thời gian ngắn. Rồi nhẹ nhàng thở ra và ở yên trong một
trạng thái bình an.
Đàn
bà thì làm ngược lại. Bắt đầu bằng bịt lỗ mũi phải
với ngón tay đeo nhẫn phải và thở ra mạnh qua lỗ mũi trái,
làm trống không phổi. Rồi bịt lỗ mũi trái với ngón tay
đeo nhẫn trái, thở vào êm nhẹ và sâu qua lỗ mũi phải,
hít vào khí trí huệ bình an. Hãy ở yên trong sự bình an thấm
khắp thân thể. Rồi nhẹ nhàng thở ra và ở yên trong một
trạng thái bình an.
Lập
lại nhiều lần điều này sẽ làm quân bình năng lực. Khí
xúc tình thô bị thở ra khỏi kinh mạch trắng và khí trí
huệ phúc lạc được thở vào qua kinh mạch đỏ. Hãy để
cho khí trung tính tràn khắp toàn thân. An trụ trong sự bình
an này.
KHÍ
VÀ TÂM THỨC
Mọi
giấc mộng đều liên hệ với một hay vài cõi trong sáu cõi.
Sự nối kết về năng lực giữa tâm thức và cõi được
tạo thành qua những nơi chốn đặc biệt trong thân. Điều
ấy như thế nào ? Chúng ta nói rằng thức thì vượt khỏi
hình dạng, màu sắc, thời gian, xúc chạm, thế thì làm sao
nó có thể nối kết với nơi chốn ? Tâm thức nền tảng
thì vượt khỏi phân biệt như vậy, nhưng những phẩm tính
khởi lên trong thức thì bị ảnh hưởng bởi những hiện
tượng của kinh nghiệm.
Chúng
ta có thể tự mình nhìn vào câu trả lời này. Hãy đi đến
một nới nào yên bình, một ngôi chùa đẹp đẽ, một hang
động xanh tươi, hay một con suối nhỏ. Khi chúng ta đi vào
một nơi như thế, thì như thể một ban phước đã được
nhận. Phẩm tính của kinh nghiệm được ảnh hưởng bởi
vì môi trường vật chất ảnh hưởng trạng thái tâm thức.
Điều này cũng đúng với những ảnh hưởng tiêu cực. Khi
thăm viếng một nơi chốn đã có những cuộc thảm sát, chúng
ta trở nên không thoải mái ; chúng ta nói chỗ ấy có “năng
lực xấu.”
Những
Kinh Mạch
Điều
y như vậy cũng đúng ở bên trong, trong thân thể chúng ta.
Khi chúng ta nói về việc đem tâm thức đến một luân xa,
chẳng hạn luân xa tim, chúng ta muốn nói điều gì ? Tâm thức
ở một chỗ nào có nghĩa là gì ? Tâm thức không phải là
cái gì có thể được cho ở theo nghĩa nó không thể được
chứa đựng trong một vùng nhỏ. Khi chúng ta “đặt” tâm
thức ở đâu đó, chúng ta đang đặt sự chú ý của chúng
ta : chúng ta tạo ra những hình ảnh trong tâm thức chúng ta
hay hướng sự chú ý đến một đối tượng cảm giác. Khi
chúng ta tập chú tâm thức vào một cái gì, đối tượng để
tập chú ảnh hưởng vào phẩm tính của tâm thức và có những
sự thay đổi tương ứng trong thân thể.
Nguyên
lý này làm nền cho những thực hành chữa bệnh sử dụng
năng lực tinh thần. Quán tưởng dẫn chúng ta đến những
đổi thay trong thân thể chúng ta. Sự nghiên cứu của Tây
phương đang chứng minh chân lý của tuyên bố này, và y học
Tây phương bây giờ đang dùng sức mạnh quán tưởng thậm
chí đối với những bệnh trầm trọng như ung thư. Truyền
thống Bošn về chữa bệnh thường dùng sự quán tưởng những
nguyên tố : lửa, nước và gió. Hơn là nhằm vào những triệu
chứng của bệnh, người Tây Tạng thường tìm cách tịnh
hóa sự bị điều kiện hóa tiềm ẩn của tâm thức, những
xúc tình tiêu cực và những dấu vết nghiệp chúng được
tin là đã tạo ra những nguồn gốc của bệnh.
Thí
dụ chúng ta có thể quán tưởng lửa mạnh để đáp lại
một bệnh. Chúng ta quán tưởng những hình tam giác đỏ và
cố gắng kinh nghiệm sức nóng qua tưởng tượng – mãnh liệt
như sanh ra từ một núi lửa – chạy qua thân thể chúng ta
như những sóng lửa. Chúng ta có thể làm một thực tập thở
đặc biệt để phát sinh thêm sức nóng. Theo cách này, chúng
ta dùng tâm thức và những hình ảnh của nó để ảnh hưởng
vào thân thể, những xúc tình và năng lực. Và có một kết
quả dù cho chúng ta không đụng chạm gì đến thế giới bên
ngoài. Cũng như y học Tây phương dùng sự chữa trị bằng
phóng xạ để đốt cháy tế bào ung thư, chúng tôi dùng lửa
bên trong để đốt cháy những dấu vết nghiệp. Để cho sự
thực hành có hiệu quả, ý định phải rõ ràng trong sáng
càng tốt. Đó không chỉ là một tiến trình máy móc, mà là
một tiến trình dùng sự hiểu biết về nghiệp, tâm thức
và khí để hỗ trợ việc chữa lành. Sự thực hành này có
ưu thế là giải quyết nguyên nhân của bệnh hơn là những
triệu chứng, và khỏi bị những hiệu ứng phụ. Dĩ nhiên,
cũng tốt khi lợi dụng được y học Tây phương khi có thể.
Hơn là tự giới hạn mình trong một hệ thống riêng biệt,
tốt hơn là dùng bất cứ cái gì ích lợi.
NHỮNG
LUÂN XA
Trong
thực hành giấc mộng, chúng ta hướng sự chú ý của chúng
ta vào những vùng khác nhau trong thân : những luân xa ở cổ
họng, giữa hai lông mày, tim và luân xa bí mật nằm sau bộ
phận sinh dục. Một luân xa là một bánh xe của năng lực,
một tổ hợp những nối kết. Những kinh mạch của năng lực
gặp gỡ ở những nơi đặc biệt trong thân ; những sự tiếp
hợp của những kinh mạch tạo thành những khuôn mẫu năng
lực là những luân xa. Những luân xa chính yếu là chỗ nơi
nhiều kinh mạch nối nhau.
Những
luân xa không thực sự giống những hình vẽ về chúng, những
hoa sen mở và đóng, có một số cánh nhất định và một
màu sắc nhất định. Những hình ảnh như vậy chỉ là những
nâng đỡ tượng trưng dành cho tâm thức – như những bản
đồ – chúng ta dùng để giúp tập chú vào những khuôn mẫu
của năng lực hiện hữu ở nơi những luân xa. Những luân
xa vốn được khám phá qua thực hành, qua những chứng nghiệm
của các hành giả khác nhau. Khi những hành giả này ban đầu
có những kinh nghiệm về các luân xa, không có ngôn ngữ có
thể diễn tả những khám phá của họ cho những người chưa
có cùng những kinh nghiệm tương tự. Những hình ảnh được
tạo ra, chúng có thể được dùng như những ẩn dụ thuộc
thị giác để người khác có thể liên hệ với chúng. Những
hình ảnh hoa sen khác nhau chẳng hạn gợi ra rằng năng lực
xung quanh một luân xa triển nở và thu lại như sự mở và
đóng của một bông hoa. Một luân xa được cảm thấy khác
với luân xa khác và những khác biệt này được tượng trưng
bằng những màu khác nhau. Những kinh nghiệm tập trung khác
biệt và những phức tạp của năng lực trong những luân xa
sai khác được tượng trưng bằng con số khác nhau các cánh
hoa. Những ẩn dụ về thị giác này trở thành ngôn ngữ được
dùng để nói đến những kinh nghiệm về những trung tâm năng
lực trong thân thể. Khi một hành giả sơ cơ quán tưởng đúng
số cánh hoa ở đúng chỗ trong thân, với màu sắc đúng, bấy
giờ sức mạnh của tâm thức tác dụng lên điểm năng lực
đặc biệt ấy và bị ảnh hưởng bởi điều ấy. Khi điều
này xảy ra, chúng ta nói rằng tâm thức và khí được hợp
nhất trong luân xa.
CON
NGỰA MÙ, NGƯỜI CỠI QUÈ
Ban
đêm khi chúng ta đi ngủ, thường thường chúng ta làm như
thế với ít cảm thức về cái gì đang xảy ra. Chúng ta chỉ
cảm thấy mệt mỏi, nhắm mắt và trôi dạt đâu mất. Chúng
ta có thể có một ý niệm về giấc ngủ – máu trong não,
kích thích tố, hay thứ gì như vậy – nhưng tiến trình thực
sự của việc rơi vào giấc ngủ cũng là bí mật và chưa
được khám phá.
Truyền
thống Tây Tạng giải thích tiến trình rơi vào giấc ngủ
khi dùng một ẩn dụ cho tâm thức và khí. Thường thì khí
được so sánh với một con ngựa mù và tâm thức với một
người không thể đi. Nếu riêng rẽ, chúng chẳng làm được
gì cả, nhưng hợp với nhau chúng tạo thành một đơn vị
có công dụng. Khi con ngựa và người cỡi hợp chung với nhau,
chúng bắt đầu chạy, thường với một ít kiểm soát về
chỗ chúng đi. Chúng ta biết điều này từ chính kinh nghiệm
của mình : chúng ta có thể “đặt” tâm thức vào một luân
xa bằng cách đem chú ý vào chỗ ấy, nhưng không dễ giữ
tâm thức trong một chỗ nào. Tâm thức luôn luôn động, sự
chú ý của chúng ta đi đây đi kia. Bình thường, trong chúng
sanh thuộc sanh tử, con ngựa và người cỡi chạy một cách
mù lòa qua một trong sáu chiều kích của thức, một trong sáu
trạng thái phiền não.
Chẳng
hạn, khi chúng ta rơi vào giấc ngủ, tỉnh giác về thế giới
giác quan bị mất. Tâm thức bị đem đi đây đó trên con ngựa
mù của khí nghiệp cho đến khi nó tập chú được vào một
luân xa đặc biệt nơi đó nó bị ảnh hưởng bởi một chiều
kích đặc biệt của thức. Có thể bạn có một tranh cãi
với người bạn đời và tình huống đó (điều kiện phụ)
làm kích hoạt một dấu vết nghiệp phối hợp với luân xa
tim, điều này đẩy tâm thức bạn vào chỗ ấy trong thân
thể. Hoạt động từ đó của tâm thức và khí biểu lộ
trong những hình ảnh và câu chuyện đặc biệt của giấc
mộng.
Tâm
thức không phải được dẫn một cách ngẫu nhiên đến luân
xa này hay luân xa kia, mà hơn nữa được kéo đến những nơi
chốn trong thân thể và những hoàn cảnh trong đời sống cần
sự chú ý và chữa lành. Trong thí dụ trên, chính là luân
xa tim kêu gọi sự trợ giúp. Dấu vết làm phiền nhiễu sẽ
được chữa lành bằng cách biểu lộ trong giấc mộng và
nhờ đó bị cạn kiệt. Tuy nhiên, trừ phi sự biểu lộ xảy
ra khi người nằm mộng đang tập trung và tỉnh thức, còn
không những phản ứng với giấc mộng đó sẽ bị quy định
bởi những khuynh hướng nghiệp theo thói quen và sẽ tạo thêm
những hạt giống nghiệp nữa.
Chúng
ta có thể nghĩ đến một máy điện toán như một so sánh.
Những luân xa thì giống như những hộc lưu trữ khác nhau.
Hãy bật lệnh “Khí và tâm thức”, và rồi mở hộp lưu
trữ luân xa tim. Thông tin trong hộp lưu trữ – những dấu
vết nghiệp phối hợp với luân xa tim – được trình bày
trên màn hình của tỉnh giác. Điều này giống như sự biểu
lộ của giấc mộng.
Bấy
giờ có lẽ một hoàn cảnh trong giấc mộng moi ra một đáp
ứng khác làm kích hoạt một xúc tình khác. Lúc này giấc
mộng trở thành nguyên nhân phụ cho phép một dấu vết nghiệp
khác biểu lộ. Giờ đây tâm thức du hành xuống trung tâm
rốn và đi vào một cõi kinh nghiệm khác. Tính cách của giấc
mộng thay đổi. Bạn không ghen tỵ nữa ; thay vào đó bạn
ở trên một con đường không có dấu hiệu hay một nơi tối
tăm. Bạn lạc mất mình. Bạn cố gắng đi đến một nơi
nào nhưng bạn không tìm ra đường. Bạn đang ở trong cõi
thú, chiều kích nối kết nhất với vô minh.
Một
cách căn bản, đấy là nội dung của giấc mộng được tạo
thành như thế nào. Tâm thức và khí được kéo đến những
luân xa khác nhau trong thân thể ; bị ảnh hưởng bởi những
dấu vết nghiệp phối hợp, những kinh nghiệm thuộc nhiều
loại chiều kích khởi lên trong tâm thức như tính cách và
nội dung của giấc mộng. Chúng ta có thể dùng cái hiểu này
để nhìn vào những giấc mộng của chúng ta một cách khác
hơn, để nhận xét xúc tình nào và cõi nào đang nối kết
với giấc mộng. Cũng ích lợi để hiểu rằng mỗi giấc
mộng cho chúng ta một cơ hội dành cho sự chữa lành và thực
hành tâm linh.
Cuối
cùng chúng ta muốn ổn định tâm thức và khí trong kinh mạch
trung ương hơn là cho phép tâm thức bị kéo đến một luân
xa riêng biệt. Kinh mạch trung ương là căn cứ năng lực của
những kinh nghiệm về rigpa, và những thực hành mà chúng ta
làm trong yoga giấc mộng là đem tâm thức và khí vào kinh mạch
trung ương. Khi điều này xảy ra, chúng ta ở trong tỉnh giác
trong sáng và hiện diện mạnh mẽ. Mộng trong kinh mạch trung
ương là mộng mà thoát khỏi những ảnh hưởng mạnh mẽ
của xúc tình tiêu cực. Nó là một tình huống quân bình cho
phép những giấc mộng của hiểu biết và sự sáng tỏ biểu
lộ.
4
Tóm Tắt : Những Giấc Mộng Khởi Lên Như Thế Nào
Trước
khi chứng ngộ, bản tánh chân thật của cá nhân bị che ám
bởi vô minh gốc rễ, vô minh này làm cho tâm thức ý niệm
sanh ra. Bị mắc bẫy vào cái nhìn thấy nhị nguyên, tâm thức
ý niệm phân chia sự nhất thể không dấu vết chia cắt của
kinh nghiệm thành những thực thể ý niệm và rồi liên hệ
với những phóng chiếu tâm trí này như thể chúng hiện hữu
một cách bẩm sinh là những chúng sanh và sự vật riêng biệt.
Cái nhị nguyên hàng đầu ban sơ phân chia kinh nghiệm thành
ta và người, tôi và cái khác, và từ sự đồng hóa chỉ
với một mặt của kinh nghiệm, cái ngã, những quý chuộng
phát triển. Điều này đưa đến sự khởi sanh của ghét bỏ
và tham luyến, nó trở nên căn cứ cho những hành động cả
vật chất lẫn tâm thức. Những hành động này (karma : nghiệp)
để lại những dấu vết trong tâm thức cá nhân như những
khuynh hướng bị điều kiện hóa, đưa đến nhiều hơn bám
lấy và ghét bỏ, điều này dẫn đến những dấu vết nghiệp
mới, và cứ thế. Đây là vòng tự triển chuyển kéo dài
không dứt của nghiệp.
Trong
giấc ngủ tâm thức rút khỏi thế giới giác quan. Những dấu
vết nghiệp được kích thích bởi những nguyên nhân phụ
cần thiết cho sự biểu lộ của chúng có một sức mạnh
hay năng lực, đó là khí nghiệp. Giống như con ngựa và người
cỡi trong ẩn dụ, tâm thức “cỡi” khí nghiệp đến trung
tâm năng lực liên hệ với dấu vết nghiệp đã được làm
cho sinh động. Đó là cái thức trở nên tập chú vào một
luân xa riêng biệt.
Trong
trò chơi với nhau này của tâm thức, năng lực và ý nghĩa,
thức làm biểu lộ và bị ảnh hưởng bởi những dấu vết
nghiệp và những phẩm tính của cõi phối hợp. Khí nghiệp
là năng lực của giấc mộng, cái sinh lực, trong khi tâm thức
dệt những biểu lộ đặc biệt của những dấu vết nghiệp
– màu sắc, ánh sáng, những xúc tình và hình ảnh – thành
câu chuyện có ý nghĩa là giấc mộng. Đây là tiến trình
tạo thành giấc mộng sanh tử.
5
Những Hình Ảnh từ Tantra Mẹ
Trong
những giáo lý Đại Toàn Thiện (Dzogchen), chủ đề luôn luôn
là chúng ta có nhận biết hay không bản tánh chân thật của
chúng ta và có hiểu hay không rằng những phản chiếu của
bản tánh ấy biểu lộ như kinh nghiệm. Giấc mộng là một
phản chiếu của tự tâm chúng ta. Điều này dễ tin sau khi
chúng ta tỉnh dậy, như chư Phật biết – sau khi các ngài
giác ngộ rằng những thực thể và đối tượng của sanh
tử là như huyễn. Và cũng như dùng sự thực hành để nhận
biết bản chất huyễn của giấc mộng khi ngủ, chúng ta phải
thực hành để chứng ngộ bản chất huyễn của đời sống
lúc thức. Với một hiểu biết nào đó về những giấc mộng
khởi lên như thế nào, sẽ dễ hiểu hơn “huyễn” và “vô
tự tánh” có nghĩa là gì, và điều quan trọng là cũng dễ
áp dụng cái hiểu này vào kinh nghiệm của chúng ta hơn. Tiến
trình theo đó kinh nghiệm khởi lên thì như nhau trong mộng
cũng như lúc thức. Thế giới là giấc mộng, thầy dạy và
giáo lý là một giấc mộng, kết quả của sự thực hành
của chúng ta là một giấc mộng ; không có nơi nào mà giấc
mộng bị phá vỡ cho đến khi nào chúng ta được giải thoát
vào tánh giác rigpa thanh tịnh. Cho đến khi đó, chúng ta tiếp
tục mộng thành chính chúng ta và những cuộc đời của chúng
ta trong cả hai chiều kích giấc mộng và thế giới “vật
chất.”
Không
biết làm thế nào làm việc với tư tưởng có nghĩa là người
ta bị những tư tưởng kiểm soát, cai trị. Biết làm thế
nào làm việc với tư tưởng nghĩa là tư tưởng được đem
vào tỉnh giác và được sử dụng hoặc cho những mục tiêu
tích cực và hành động đức hạnh hay được giải thoát
vào trong tinh túy trống không của nó. Đây là cách tư tưởng
được dùng trong con đường như thế nào. Cùng cách đó, chúng
ta có thể đem mê lầm vọng tưởng, khổ đau và bất kỳ
kinh nghiệm nào vào con đường. Nhưng để làm thế, chúng
ta phải hiểu rằng tinh túy, bản tánh của tất cả mọi cái
khởi sanh là trống không. Khi chúng ta làm được như vậy,
bấy giờ mỗi một khoảnh khắc của đời sống là tự do,
giải thoát và mọi kinh nghiệm là thực hành tâm linh : mọi
âm thanh là thần chú, mọi hình sắc là