MỤC
LỤC
Lời
nói đầu
Dẫn
nhập
Nhận
những giáo lý
PHẦN
MỘT: BẢN TÁNH CỦA GIẤC MỘNG
1
Giấc Mộng và Thực Tại
2
Kinh Nghiệm Khởi Lên Như Thế Nào
Vô
minh
Những
Hành Động và Kết Quả :
Nghiệp
và những Dấu vết của Nghiệp
Nghiệp
Tiêu Cực
Nghiệp
Tích Cực
Giải
thoát những Xúc Tình
Những
Che Ám của Thức
Những
Dấu Vết Nghiệp và Giấc Mộng
Sáu
Cõi của Sanh Tử Luân Hồi
Cõi
Địa Ngục
Cõi
Quỷ Đói
Cõi
Thú
Cõi
Người
Cõi
Bán-Thiên
Cõi
Thiên
Tại
sao là Xúc Tình ‘Tiêu Cực”
3
Thân Thể Năng Lực
Những
Kinh Mạch và Khí Prana
Những
Kinh Mạch (Tsa)
Khí
(Lung)
Khí
Nghiệp
Ba
Loại Khí Nghiệp
Khí
Trí Huệ
Hoạt
Động của Khí
Quân
Bình Khí
Khí
và Tâm Thức
Những
Luân Xa
Con
Ngựa Mù, Người Cỡi Què
4
Tóm Tắt : Những Giấc Mộng Khởi Lên
Như
Thế Nào
5
Những Hình Ảnh từ Tantra Mẹ
Việc
Dạy những Ẩn Dụ
PHẦN
HAI : NHỮNG LOẠI VÀ NHỮNG CÁCH SỬ DỤNG GIẤC MỘNG
1
Ba Loại Giấc Mộng
Những
Giấc Mộng Sanh Tử
Những
Giấc Mộng của sự Sáng Tỏ
Những
Giấc Mộng Tịnh Quang
2
Những Sử Dụng Giấc Mộng
Kinh
Nghiệm Trong Mộng
Hướng
Dẫn và những Khuyên Nhủ
Dự
Đoán
Những
Giáo Lý trong Giấc Mộng
3
Khám Phá sự Thực Hành Chošd
4
Hai Mức Độ của sự Thực Hành
PHẦN
BA: SỰ THỰC HÀNH YOGA GIẤC MỘNG
1
Cái Nhìn Thấy, Hành Động, Giấc Mộng, cái Chết
2
An Định : Samatha
Samatha
cưỡng bách
Samatha
tự nhiên
Samatha
tối hậu
Những
Chướng Ngại
Dao
động
Hôn
trầm
Giải
Đãi
3
Bốn Thực Hành Căn Bản
Một
: Thay Đổi những Dấu Vết Nghiệp
Hai
: Dẹp Bỏ Bám Nắm và Ghét Bỏ
Ba
: Làm Mạnh Ý Định
Bốn
: Trau Dồi Trí Nhớ và Nỗ Lực Hoan Hỷ
Kiên
Trì
4
Chuẩn Bị cho Ban Đêm
Chín
Hơi Thở Tịnh Hóa
Guru
Yoga
Thực
hành
Che
Chở
5
Thực Hành Chính
Đem
Tỉnh Giác vào Kinh Mạch Trung Ương
Tăng
Cường Sự Sáng Tỏ
Làm
Mạnh Sự Hiện Diện
Phát
Triển sự Không Sợ Hãi
Tư
Thế
Tập
Chú Tâm Thức
Trình
Tự
6
Sáng Sủa Minh Bạch
Phát
Triển tính Linh Hoạt Mềm Dẻo
7
Những Chướng Ngại
Mê
Vọng
Lỏng
Lẻo
Tự
Phóng Dật
Quên
Bốn
Chướng Ngại theo Shardza Rinpoche
8
Kiểm Soát và Tôn Trọng những Giấc Mộng
9
Những Thực Hành Đơn Giản
Tâm
Tỉnh Thức
Sửa
Soạn cho Đêm
10
Hội Nhập
PHẦN
BỐN: GIẤC NGỦ
1
Giấc Ngủ và Rơi Vào Giấc Ngủ
2
Ba Loại Giấc Ngủ
Giấc
Ngủ của Vô Minh
Giấc
Ngủ Sanh Tử
Giấc
Ngủ Tịnh Quang
3
Thực Hành Giấc Ngủ và Thực Hành Giấc Mộng
PHẦN
NĂM: SỰ THỰC HÀNH YOGA GIẤC NGỦ
1
Dakini Salgye Du Dalma
2
Thực Hành Sơ Bộ
3
Thực
Hành Giấc Ngủ
Đi
vào Giấc Ngủ
4
Tiglé
5
Tiến Bộ
6
Những Chướng Ngại
7
Những Thực Hành Hỗ Trợ
Đạo
Sư
Dakini
Hành
xử
Cầu
Nguyện
Làm
Tan Biến
Triển
Nở và Thu Rút
8
Hội Nhập
Hội
Nhập của Tịnh Quang với Ba Độc
Hội
Nhập với Những Chu Kỳ Thời Gian
Thống
Nhất Bên Ngoài
Thống
Nhất Bên Trong
Thống
Nhất Bí Mật
Ba
Sự Thống Nhất : Kết Luận
9
Sự Tương Tục
PHẦN
SÁU: NHỮNG BỔ SUNG
1
Bối Cảnh
2
Tâm thức và Rigpa
Tâm
thức Ý niệm
Tánh
giác bất nhị : Rigpa
Rigpa
Nền Tảng và Rigpa Con Đường
3
Nền Tảng : Kunzhi
Tâm
thức và vật chất
4
Biết
5
Nhận biết tánh Sáng Tỏ và tánh Không
Quân
Bình
Phân
Biện
6
Cái Ngã
7
Nghịch Lý của cái Ngã Vô Tự Tánh
Những
Lời Cuối
PHỤ
LỤC : PHÁC HỌA VỀ NHỮNG THỰC HÀNH YOGA GIẤC MỘNG
Thuật
Ngữ
Cuốn
sách này được đề tặng cho Namkhai Norbu Rinpoche, ngài đã
là một nguồn cảm hứng lớn lao trong đời tôi,
cả
trong cách tôi chỉ dạy cho những người khác
lẫn
trong sự thực hành của chính tôi.
Lời
nói đầu
Một
câu nói nổi tiếng ở Tây Tạng, “Người ta cần giải thích
dòng phái và lịch sử để cắt đứt nghi ngờ về sự chính
thống của giáo lý và sự trao truyền.” Bởi thế, tôi bắt
đầu cuốn sách này với một câu chuyện ngắn về cuộc đời
tôi.
Tôi
sinh ra vừa sau khi cha mẹ tôi đi khỏi Tây Tạng. Những điều
kiện sống khó khăn và cha mẹ tôi gởi tôi vào một trường
nội trú Thiên Chúa giáo, nơi họ hy vọng tôi được chăm
sóc. Cha tôi là một lama* Phật giáo, mẹ tôi là một người
thực hành đạo Bošn*. Một thời gian sau, cha tôi qua đời.
Cuối cùng mẹ tôi tái hôn với một người là lama đạo Bošn.
Cả ông và mẹ tôi đều muốn tôi sống trong nền văn hóa
của tôi, và khi tôi mười tuổi, tôi được nhận vào tu viện
chánh của đạo Bošn ở Dolanji, Ấn Độ, và thọ giới thành
một nhà sư.
Sau
khi sống ở tu viện một thời gian, tôi được Lopon (Thầy
trụ trì) Sangye Tenzin Rinpoche công nhận là tái sanh của Khyungtul
Rinpoche, một học giả, vị thầy, tác giả và thiền sư nổi
tiếng. Vị ấy được biết tiếng như một nhà chiêm tinh
bậc thầy và nổi tiếng ở miền tây Tây Tạng và miền bắc
Ấn Độ như một vị thuần hóa những ma quỷ và hồn linh
hoang dã. Vị ấy cũng được quần chúng công nhận như là
một nhà chữa bệnh với những khả năng huyền thuật. Một
trong những người đỡ đầu của vị ấy là vua xứ Himachal
ở bắc Ấn Độ. Nhà vua này và bà vợ, không có con, đã
thỉnh Khyungtul Rinpoche chữa cho họ, và ngài đã làm được.
Đứa con ấy bây giờ là Thủ Tướng của Himachal Pradesh, Virbhardur.
Khi
tôi được mười ba tuổi, bổn sư từ ái của tôi, Lopon Sangye
Tenzin, một người hiểu biết và chứng đắc sâu rộng, sửa
soạn dạy một trong những giáo lý quan trọng và bí truyền
nhất của cổ phái Nyingma và của đạo Bošn : Đại Toàn Thiện
(Dzogchen), dòng khẩu truyền Zhang Zhung (Zhang Zhung Nyan Gyud*).
Dù tôi còn nhỏ, cha ghẻ của tôi viếng thăm Lopon Rinpoche
và xin cho tôi được chấp nhận học giáo lý, điều này sẽ
diễn ra mỗi ngày trong suốt ba năm. Lopon từ ái chấp thuận,
nhưng yêu cầu tôi, cùng với những học trò đến sau khác,
phải kể cho ngài nghe một giấc mộng đêm hôm trước khi
khóa học bắt đầu, để ngài xác định sự sẵn sàng của
chúng tôi.
Một
số học trò không nhớ giấc mộng nào, điều đó được
xem là một dấu hiệu của chướng ngại. Lopon bắt họ phải
bắt đầu với những thực hành tịnh hóa thích hợp và hỗn
khóa học cho tới khi mỗi học trò đều có một giấc mộng.
Những giấc mộng của những học trò khác được xem là những
chỉ dẫn rằng họ cần làm những thực hành riêng biệt để
tự sửa soạn học giáo lý – chẳng hạn, làm những thực
hành để mạnh thêm sự nối kết với những hộ pháp.
Tôi
mơ thấy một chiếc xe buýt chạy vòng quanh nhà của thầy
tôi, dù thực ra không có con đường nào ở đấy cả. Trong
giấc mộng, người lái xe buýt là bạn của tôi và tôi đứng
cạnh nó, phân phát những cái vé cho những người trên xe.
Những chiếc vé là những mảnh giấy có viết chữ A Tây Tạng
lên đó. Lúc ấy là năm thứ hai hay thứ ba của tôi ở Dolanji,
khi tôi mười ba tuổi, và khi ấy tôi chưa biết chữ A là
một biểu hiện ý nghĩa chính yếu của những giáo lý Đại
Toàn Thiện. Thầy tôi không hề nói gì về giấc mộng, đó
là cách làm của thầy. Ngài bình luận chút ít về điều
gì là tốt, nhưng tôi thì vui vẻ vì được chấp nhận học
những giáo lý.
Trong
những truyền thống Tây Tạng, thường là những giấc mộng
của học trò được vị thầy dùng để xác định có thích
hợp hay không cho học trò nhận một giáo lý riêng biệt. Dầu
cho việc này xảy ra trước khi tôi bắt đầu nghiên cứu và
thực hành yoga giấc mộng, thì sự cố ấy cũng là sự bắt
đầu quan tâm thích thú của tôi với những giấc mộng. Nó
gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi giấc mộng được đánh
giá trong văn hóa Tây Tạng là lớn lao thế nào và thông tin
từ vô thức thường có giá trị hơn thông tin từ ý thức
như thế nào.
Sau
ba năm học, gồm nhiều cuộc nhập thất thiền định với
đồng bạn cũng như nhiều cuộc nhập thất một mình, tôi
vào Trường Lý Luận thuộc Tu viện. Chương trình học thường
kéo dài chín đến mười ba năm. Chúng tôi được học những
môn như văn phạm, Sankrit, thơ, chiêm tinh, nghệ thuật và cũng
học những môn riêng : ngữ nguyên học, vũ trụ học, kinh
(sutra*), tantra* và Đại Toàn Thiện. Trong sự tu hành ở tu
viện, tôi được trình bày cho một số giáo lý và trao truyền
về giấc mộng, cái quan trọng nhất căn cứ trên những bản
văn của Zhang Zhung Nyan Gyud, Tantra Mẹ và của Shardza Rinpoche.
Tôi
đã làm tốt trong việc tu hành và khi mười chín tuổi, tôi
được mời bắt đầu dạy cho người. Cùng khoảng thời gian
đó tôi viết và xuất bản một tóm tắt tiểu sử của Đức
Shenrab Miwoche*, vị sáng lập đạo Bošn. Về sau tôi trở thành
hiệu trưởng Trường Lý Luận và giữ chức vụ này trong
bốn năm, và đã rất say mê trong việc hình thành và phát
triển trường. Năm 1986, tôi nhận cấp bậc Geshe, cấp bậc
cao nhất trong giáo dục tu viện của Tây Tạng.
Năm
1989, nhận lời mời của Hội Đại Toàn Thiện của Namkhai
Norbu Rinpoche ở Ý, tôi du lịch qua Tây phương. Dù tôi không
có chương trình giảng dạy, tôi được những thành viên của
hội mời giảng. Một hôm tôi phân phối những mảnh giấy
có viết chữ A Tây Tạng trên đó. Đúng vào lúc ấy giấc
mộng từ mười lăm năm trước, trong đó tôi phân phát cũng
tờ giấy như vậy cho người trên xe buýt trở lại với tôi.
Chuyện này như thể đánh vào đầu tôi.
Tôi
ở lại Tây phương và năm 1991 được học bổng của Rockefeller
Fellowship để nghiên cứu tại Đại học Rice. Năm 1993, tôi
xuất bản cuốn sách đầu tiên của tôi ở Tây phương, Những
Kỳ Diệu của Tâm Tự Nhiên (lời đề tựa của Đức Dalai
Lama), trong đó tôi cố gắng trình bày những giáo lý Đại
Toàn Thiện (Dzogchen) trong một cách thức trong sáng và giản
dị. Năm 1994 tôi được cho một trợ cấp từ Quỹ Quốc Gia
cho những Khoa Học Nhân Văn để theo đuổi nghiên cứu về
những phương diện luận lý và triết lý của truyền thống
Bošn, hợp tác với giáo sư Anna Klein, Trưởng khoa nghiên cứu
Tôn giáo, ở Đại Học Rice.
Như
thế mặt học giả của tôi đã tiếp tục biểu hiện, tuy
nhiên thực hành luôn luôn quan trọng hơn, và suốt cả thời
gian này tôi đã chuyên chú vào giấc mộng và thực hành giấc
mộng. Sự lưu tâm của tôi không chỉ về lý thuyết. Tôi
đã tin sự minh triết của những giấc mộng, bị ảnh hưởng
từ thời nhỏ tuổi bởi những kinh nghiệm giấc mộng của
những vị thầy của tôi và của mẹ tôi và bởi sự sử
dụng những giấc mộng trong truyền thống Bošn, và tôi đã
thực hành yoga giấc mộng một cách mãnh liệt suốt mười
năm qua. Mỗi đêm khi tôi vào giường, tôi cảm thấy tự do.
Sự bận rộn của ban ngày chấm dứt. Một số đêm sự thực
hành thành công và một số đêm thì không, và như thế cho
đến khi sự thực hành rất tiến bộ. Tuy nhiên, gần như
tôi đi ngủ mỗi đêm với ý định hoàn thành thực hành giấc
mộng. Chính từ kinh nghiệm riêng của tôi với sự thực hành,
cũng như từ ba bản văn tôi dẫn ra ở trên, mà những giáo
lý trong sách này có được.
Những
Yoga Tây Tạng về Giấc Mộng và Giấc Ngủ sinh ra từ những
chỉ dạy miệng tôi đã đưa ra ở California và New Mexico vài
năm trước. Nhiều cái không chính thức nhưng góp phần vào
những giáo lý đã được giữ. Những chữ có đánh dấu hoa
thị trong lần đầu xuất hiện có thể được tìm thấy trong
thuật ngữ cuốn sách.
Yoga
giấc mộng là một chỗ nương dựa hàng đầu trong việc phát
triển sự thực hành của tôi và cái ấy đã đúng cho nhiều,
rất nhiều đạo sư và yogi* của Tây Tạng. Thí dụ, tôi luôn
luôn có ấn tượng với câu chuyện của Shardza Rinpoche, một
đạo sư vĩ đại Tây Tạng, khi chết vào năm 1934, đã đạt
được thân thể ánh sáng (jalus*), một dấu hiệu chứng đắc
hoàn toàn. Trong đời ngài, ngài có nhiều học trò thành tựu,
viết nhiều bản văn quan trọng, và làm việc cho lợi lạc
của xứ sở ngài sống. Khó mà tưởng tượng làm thế nào
ngài đã có năng xuất như vậy trong đời sống bên ngoài,
hoàn tất nhiều nhiệm vụ và những kế hoạch lâu dài vì
lợi lạc của những người khác, và còn có thể hoàn thành
sự chứng đắc như vậy qua thực hành tâm linh. Ngài có thể
làm như thế bởi vì ngài không phải là một người viết
sách trong một phần của ngày, một vị thầy trong một phần
khác, và một hành giả trong một vài giờ còn lại. Tất cả
cuộc đời ngài là thực hành, dù ngồi thiền định, viết,
dạy hay ngủ. Ngài viết rằng thực hành giấc mộng là quan
trọng trung tâm trong hành trình tâm linh của ngài và không
thể thiếu cho sự chứng đắc của ngài. Điều này cũng có
thể là đúng với chúng ta.
Dẫn
nhập
Chúng
ta tiêu dùng một phần ba cuộc đời mình để ngủ. Bất kể
chúng ta làm gì, những hành động của chúng ta là thiện hay
bất thiện, dù chúng ta là những kẻ sát nhân hay những bậc
thánh, tu sĩ hay kẻ phóng đãng, mỗi ngày đều chấm dứt
như nhau. Chúng ta nhắm mắt và tan biến vào bóng tối. Chúng
ta làm như vậy không có gì sợ hãi, ngay cả khi mọi sự mà
chúng ta biết như là “cái tôi” biến mất. Sau một khoảng
thời gian ngắn, những hình ảnh khởi lên và cảm thức về
bản ngã cũng khởi lên với chúng. Chúng ta lại hiện hữu
trong cái thế giới có vẻ vô biên của giấc mộng. Mỗi đêm
chúng ta tham dự vào những cái huyền diệu sâu thẳm nhất
ấy, chuyển từ một chiều kích của kinh nghiệm qua một chiều
kích khác, mất cảm thức về cái ngã và lại tìm thấy nó,
và tuy nhiên chúng ta coi mọi sự đó là dĩ nhiên. Chúng ta
thức dậy buổi sáng và tiếp tục trong cuộc đời “thực”,
nhưng trong một nghĩa nào, chúng ta vẫn đang tiếp tục ngủ
và mộng. Những giáo lý nói với chúng ta rằng chúng ta có
thể tiếp tục mãi mãi ở trong trạng thái mộng mị hư vọng
này, ngày qua đêm, hay thức dậy với chân lý, với sự thật.
Khi
chúng ta dấn thân vào những yoga giấc mộng và yoga giấc ngủ,
chúng ta trở nên thành phần của một dòng phái dài. Qua nhiều
thế kỷ, những người đàn ông và đàn bà đã từng làm
cùng những thực hành này, đương đầu với những nghi ngờ
và chướng ngại như chúng ta, và đã nhận được những lợi
lạc mà chúng ta có thể có. Nhiều lama cao cấp và nhiều yogi
thành tựu đã lấy yoga giấc ngủ và yoga giấc mộng làm những
thực hành hàng đầu, và qua chúng đã đạt đến chứng ngộ.
Suy nghĩ về lịch sử này và nhớ lại những người đã hiến
trọn đời mình cho những giáo lý – những tổ tiên tâm linh
của chúng ta, họ truyền lại cho chúng ta những quả của
sự thực hành của họ qua những giáo lý này – sẽ làm phát
sanh niềm tin và biết ơn vào truyền thống.
Một
số vị thầy Tây Tạng có thể cho là lạ lùng khi tôi dạy
những thực hành này cho người Tây phương, những người
chưa làm những thực hành sơ khởi nhất định hay chưa có
những hiểu biết nhất định. Theo truyền thống những giáo
lý được giữ gìn như những lời dạy bí mật, vừa như
một biểu hiện của sự tôn kính vừa như một sự bảo vệ
khỏi bị pha lỗng vì hiểu sai của những hành giả chưa được
chuẩn bị. Chúng không bao giờ được dạy công khai hay ban
cho một cách thoải mái, mà được giữ gìn cho những cá nhân
đã sửa soạn để nhận lãnh chúng.
Những
thực hành vẫn hiệu quả và giá trị như bao giờ, nhưng những
điều kiện hoàn cảnh trong thế giới đã thay đổi, và thế
nên tôi đang cố gắng làm một cái gì khác. Tôi hy vọng rằng
bằng cách dạy cái gì có hiệu quả, một cách công khai và
đơn giản, truyền thống sẽ được bảo tồn tốt hơn và
nhiều người hơn sẽ có thể được lợi lạc từ đó. Nhưng
quan trọng là phải tôn trọng những giáo lý, cả trong việc
bảo vệ chúng lẫn trong việc làm tiến thêm sự thực hành
của chúng ta. Xin hãy cố gắng nhận sự trao truyền trực
tiếp những giáo lý này từ một vị thầy chính thức. Là
tốt khi đọc những yoga này, nhưng tốt hơn nếu nhận sự
trao truyền bằng miệng, nó tạo ra một nối kết mạnh mẽ
hơn với dòng phái. Cũng như sẽ dễ dàng đương đầu với
những chướng ngại trên con đường khi có một vị thầy
kinh nghiệm có thể nhận dạy chúng và giúp đỡ cởi dẹp
chúng. Đây là một điểm quan trọng chớ nên quên.
Cuộc
đời làm người của chúng ta là quý giá. Chúng ta có thân
tâm nguyên vẹn, với đầy đủ tiềm năng. Chúng ta có thể
đã gặp những vị thầy và đã nhận những giáo lý, và chúng
ta có cuộc đời tự do để theo con đường tâm linh. Chúng
ta biết sự thực hành là thiết yếu cho hành trình tâm linh
cũng như cho nguyện vọng giúp đỡ những người khác của
chúng ta. Chúng ta cũng biết cuộc đời qua nhanh và cái chết
thì chắc chắn, tuy nhiên trong cuộc sống bận rộn chúng ta
thấy khó thực hành nhiều như chúng ta muốn. Có lẽ chúng
ta thiền định một hay hai giờ một ngày, nhưng lại để
hai mươi hai giờ kia tiêu mất trong phóng dật và lắc lư trên
những ngọn sóng của sanh tử*. Thế mà luôn luôn có thì giờ
để ngủ ; một phần ba cuộc đời chúng ta tiêu xài vào giấc
ngủ có thể dùng để cho thực hành.
Một
chủ đề chính của cuốn sách này là qua thực hành chúng
ta có thể trau dồi tỉnh giác lớn lao hơn suốt mỗi khoảnh
khắc của đời sống. Nếu chúng ta làm thế, tự do và linh
hoạt mềm dẻo liên tục tăng trưởng và chúng ta ít bị sự
cai trị bởi những lo toan và phóng dật thói quen. Chúng ta
khai triển một sự hiện diện vững chắc và sống động
cho phép chúng ta chọn lựa khéo léo thiện xảo hơn những
đáp ứng với bất cứ cái gì sanh khởi, những đáp ứng
làm lợi lạc tốt nhất cho những người khác và chính cuộc
hành trình tâm linh của chúng ta. Cuối cùng chúng ta khai triển
một sự liên tục của tỉnh giác cho phép chúng ta duy trì
tỉnh giác trọn vẹn trong giấc mộng cũng như trong đời sống
lúc thức. Bấy giờ chúng ta có thể đáp ứng với những
hiện tượng mộng theo những cách sáng tạo và tích cực và
có thể hoàn thành những thực hành khác nhau trong trạng thái
mộng. Khi chúng ta hoàn toàn phát triển khả năng này, chúng
ta sẽ tìm thấy rằng chúng ta sống cuộc đời thức và mộng
với thoải mái, tiện dụng, sáng tỏ và hân thưởng lớn
hơn, và chúng ta cũng sẽ tự chuẩn bị để đạt đến giải
thoát trong trạng thái trung ấm (bardo*) sau cái chết.
Những
giáo lý cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp để cải thiện
phẩm tính của đời sống bình thường. Điều ấy tốt, vì
cuộc đời này thì quan trọng và xứng đáng. Nhưng luôn luôn
sự sử dụng tối hậu những yoga này dẫn chúng ta đến giải
thoát. Vì mục đích đó, cuốn sách này sẽ được hiểu như
là một cẩm nang thực hành, một hướng dẫn vào những yoga
của những truyền thống Phật giáo và Bošn Tây Tạng, chúng
dùng những giấc mộng để đạt đến giải thoát khỏi mộng
tưởng điên đảo của đời sống bình thường và dùng giấc
ngủ để tỉnh dậy khỏi vô minh. Dùng cuốn sách theo lối
này, bạn nên có một mối liên hệ nối kết với một vị
thầy đạo hạnh. Bấy giờ, để làm vững chắc ổn định
tâm thức, hãy làm những thực hành an định (samatha, TT : zhiné*)
trong Phần Ba. Khi bạn cảm thấy sẵn sàng, hãy bắt đầu
những thực hành sơ bộ và tiêu tốn một số thì giờ với
chúng, hội nhập chúng vào đời sống bạn. Rồi hãy bắt
đầu những thực hành căn bản.
Không
có gì phải hấp tấp. Chúng ta đã lang thang, lặn lội trong
những ảo tưởng của sanh tử từ thời vô thủy. Chỉ đọc
cuốn sách khác về tâm linh và rồi quên nó thì chỉ thay đổi
chút ít trong đời sống. Nhưng nếu chúng ta theo những thực
hành này đến chỗ cuối cùng của chúng, chúng ta sẽ tỉnh
dậy với bản tánh bổn nguyên của chúng ta, nó là tự thân
giác ngộ.
Nếu
chúng ta không thể giữ hiện diện trong giấc ngủ, nếu chúng
ta mất mình mỗi đêm, chúng ta có cơ may nào để tỉnh thức
khi cái chết đến ? Nếu chúng ta đi vào những giấc mộng
của chúng ta và tương tác với những hình ảnh của tâm thức
như thể chúng là thực, chúng ta không nên hy vọng được
tự do trong trạng thái sau cái chết. Hãy nhìn vào kinh nghiệm
của bạn trong những giấc mộng để biết bạn sẽ sống
như thế nào trong cái chết. Hãy nhìn vào kinh nghiệm của
bạn khi ngủ để khám phá bạn có được tỉnh thức hay chưa.
NHẬN
NHỮNG GIÁO LÝ
Cách
tốt nhất để nhận những giáo lý tâm linh truyền miệng
hay được viết ra là “nghe, tóm kết và kinh nghiệm”, đó
là, hiểu một cách trí thức cái được nói, tóm kết ý nghĩa
của nó, và áp dụng nó trong thực hành. Nếu sự học được
tiếp cận theo lối này, tiến trình học là liên tục và không
ngừng, nhưng nếu nó dừng lại ở mức độ trí thức, nó
có thể trở thành một rào cản cho thực hành.
Khi
nghe hay nhận những giáo lý, người học trò tốt thì giống
như một bức tường phủ keo : hạt cỏ ném vào đó đều
dính vào đó. Một học trò dở thì giống như một bức tường
khô : cái gì ném vào cũng rơi tuột xuống sàn. Khi những giáo
lý đã nhận được, chúng cần phải không bị mất đi hay
phung phí. Học trò cần phải giữ lại những giáo lý trong
tâm thức mình, và làm việc với chúng. Những giáo lý không
được thâm nhập với hiểu biết thì giống như những hạt
cỏ ném vào bức tường khô ; chúng rớt xuống sàn và bị
quên lãng.
Đi
đến những kết luận về ý nghĩa của những giáo lý thì
giống như bật đèn trong một phòng tối : cái bị che dấu
trở nên sáng rõ. Nó là kinh nghiệm “a ha !” khi bậc công
tắc lên và mọi sự được hiểu ra. Nó khác với cái hiểu
ý niệm giản đơn ở chỗ nó là cái gì chúng ta biết hơn
là cái gì chúng ta chỉ nghe. Thí dụ, nghe nói về những cái
gối vàng và đỏ trong một buồng thì giống như có một cái
hiểu trí thức về chúng, nhưng nếu chúng ta vào buồng khi
tối, chúng ta không thể nói cái gối nào là màu gì. Tóm kết
ý nghĩa thì giống như bật đèn lên : bấy giờ chúng ta trực
tiếp biết màu đỏ và màu vàng. Giáo lý không còn là cái
gì chúng ta chỉ có thể lập lại, nó là phần của chúng
ta.
“Áp
dụng trong thực hành” nghĩa là chuyển cái đã được hiểu
một cách ý niệm – cái đã nhận được, suy nghĩ và làm
thành ý nghĩa – thành ra kinh nghiệm trực tiếp. Tiến trình
này tương tự với việc nếm muối. Muối có thể được
nói đến, bản chất hóa học của nó được hiểu và vân
vân, nhưng kinh nghiệm trực tiếp chỉ có khi nó được nếm.
Kinh nghiệm ấy không thể nắm bắt một cách trí thức và
không thể truyền đạt bằng lời. Nếu chúng ta cố gắng
giải thích nó cho ai đó chưa hề nếm muối, họ sẽ không
hiểu cái mà chúng ta đã kinh nghiệm. Nhưng khi chúng ta nói
về nó cho người đã có kinh nghiệm, bấy giờ cả hai bên
đều biết chuyện ấy là gì. Cũng như thế với những giáo
lý. Cách nghiên cứu chúng là thế này : nghe hay đọc chúng,
nghĩ về chúng, tóm kết ý nghĩa, và tìm thấy ý nghĩa trong
kinh nghiệm trực tiếp.
Ở
Tây Tạng những da thuộc mới được phơi dưới ánh mặt
trời và chà với bơ cho mềm hơn. Hành giả cũng như tấm
da mới, bền và cứng với những quan điểm chật hẹp và
ý niệm khô cứng. Giáo pháp thì giống như bơ, được chà
qua thực hành, và mặt trời như kinh nghiệm trực tiếp ; khi
cả hai được áp dụng hành giả trở nên mềm và dễ uốn
nắn. Nhưng bơ cũng được cất trong các bao bằng da. Khi bơ
được để trong một cái bao vài năm, da của cái bao trở
thành cứng như gỗ và không biết bao nhiêu bơ mới để có
thể làm mềm nó. Người nào để nhiều năm nghiên cứu những
giáo lý, trở thành nhiều trí thức mà ít kinh nghiệm thực
hành, thì giống da thuộc cứng ngắc ấy. Những giáo lý có
thể làm mềm tấm da cứng của vô minh và sự bị quy định,
nhưng khi chúng được cất vào trí óc và không được chà
xát vào hành giả với thực hành và làm ấm với kinh nghiệm
trực tiếp, người ấy có thể trở nên khô cứng trong cái
hiểu trí thức. Bấy giờ những giáo lý mới sẽ không làm
mềm dịu y, không thấm vào và thay đổi y. Chúng ta phải coi
chừng không chất chứa những giáo lý như chỉ là cái hiểu
ý niệm vì sợ rằng cái hiểu ý niệm trở thành một cản
ngại cho trí huệ. Những giáo lý không phải là những ý tưởng
để sưu tập, mà là con đường để đi theo.