Hình:
Theo chiều kim đồng hồ, từ bên trái, phía trên: Freddie Mercury,
Đặng Tiểu Bình, Mahatma Gandhi, Lý Tiểu Long, Aung San Suu Kyi,
Lakshmi Mittal,
Gong
Li, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Salman Rushdie, Li Ka-shing và Mẹ Teresa.
Trong
sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những
vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt
kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng
kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp
phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập
niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên
trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt
xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho
xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân
là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này
–theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng
hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại
phim trường. Qua những cá nhân xuất chúng này, chúng tôi đã
viết nên câu chuyện về sự chuyển mình của một Á Châu
đói nghèo thành một trung tâm quyền lực, từ kẻ đi bắt
chước trở thành một khuôn mẫu để noi theo, từ một vùng
đất bị đô hộ trở thành kẻ dẫn đầu nền kinh tế thế
giới bước vào một kỷ nguyên mới. Từ Gandhi đến Rushdie,
từ Lý Tiểu Long đến Li Ka-shing, với số đặc biệt thường
niên này, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng đến những
nhân vật –nam và nữ- đã hình thành nên vận mệnh và thời
đại chúng ta.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma
Deepak
Chopra
Vị
lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, con người không thuộc
về đời sống thế gian nhưng đồng thời lại rất mực gắn
bó, dính líu mật thiết với thế gian này. Với sự tinh tế,
ngài dạy cho ta một bài học về nhẫn nhục, khiêm tốn và
từ bi.

Như
một định mệnh, các nhà lãnh đạo tinh thần lớn vừa là
ngọn hải đăng vừa là cột thu lôi. Đã không có ai đón
nhận cả hai vai trò này một cách nhuần nhuyễn hơn là Đức
Đạt Lai Lạt Ma. Là ngọn hải đăng, ngài đại diện cho tiếng
nói Phật giáo hầu như trên khắp thế giới vượt ra ngoài
cả khuôn khổ Á châu. Được chào đón hoan nghênh ở khắp
mọi nơi ngoại trừ chính quê hương mình, được tôn kính
vượt lên trên những giới hạn hẹp hòi của chủ nghĩa bè
phái, những cuộc thăm viếng của ngài thường quy tụ đông
đảo quần chúng. Những gì mà họ khao khát tìm cầu chính
là sự hiện diện của ngài và niềm an lạc mà ngài mang đến.
Ngài du hành vòng quanh thế giới để nhắc nhở chúng ta về
bản thân mình với những ý nghĩ, động cơ cao thượng hơn.
Tuy nhiên sự hiện diện của Đức
Đạt Lai Lạt Ma đồng thời cũng gần gũi và rất
mực thế gian. Ngài chẳng khác gì chiếc cột thu lôi cho Tây
Tạng, biểu tượng của một đất nước đang nằm dưới
ách thống trị của Bắc Kinh. Bao lâu mà sự bất công này
còn ngự trị, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ vẫn còn đấu tranh
vừa hoà bình lẫn sắc bén.
Hàng
thế kỷ qua, Phật giáo đã được truyền bá một cách lặng
lẽ hơn bất cứ tín ngưỡng hay triết thuyết nào. Trong cái
truyền thống trầm lặng đó, ngài đương kim Đạt Lai Lạt
Ma đã đứng một cách vững chãi. Đức Phật đã từng dạy
rằng, “Bất cứ ai trông thấy ta là trông thấy giáo
pháp, và bất cứ ai trông thấy giáo pháp là trông thấy ta.”
Bất cứ lúc nào có dịp may được kề cận Đức Đạt Lai
Lạt Ma, thành thực mà nói, tôi đều có cảm giác rằng mình
đang được sống trong giáo pháp –và đồng thời giáo pháp
cũng đang sống trong tôi. Với bóng dáng từ ái của Đức
Đạt Lai Lạt Ma, người ta cảm nhận sự buông xả mà không
phải là sự lãnh đạm, dửng dưng. Đây là sự buông xả
được khai sinh ra từ vô lượng nhẫn nhục. Nó được bắt
nguồn từ niềm tin sâu xa vào sức mạnh của ý thức. Tôi
chưa hề gặp người nào vừa dính líu sâu đậm vào cuộc
đời nhưng đồng thời lại không thực sự tin tưởng ở
nó như thế. Ngài cũng là người rất mực tinh tế -nếu như
ta phải dùng một danh từ như vậy để nói về một con người
quá đổi hồn nhiên. Chẳng hạn nếu bạn hỏi ý kiến ngài
về một vấn đề gì đó, thông thường ngài sẽ thốt lên:
“À. Cái này tốt hơn là tôi phải lắng nghe bạn thôi.”
Lập tức bạn cảm thấy một chút gì đó của cái ngã mạn
của mình tan biến đi, và tự trong sâu thẳm của tâm hồn,
sự khiêm tốn lớn dậy.
(Time,
số Apr. 20, 1959)
Như
thế đó, tôi trân trọng ngã nón chào Đức Đạt Lai Lạt
Ma như là một nhà lãnh đạo tinh thần có sức thu hút lớn
lao. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được ngài đã góp phần
thay đổi thế giới này –và cả chúng ta- đến mức nào,
bởi vì chúng ta sẽ không bao giờ nhận ra cho đến khi sự
đổi thay đã thực sự xảy ra. Ngài là một trái bom từ bi
nổ chậm, và đó chính là cỗi nguồn của sự vĩ đại của
ngài.
Deepak
Chopra, Tác giả, Giảng sư.
Thích
Nhất Hạnh
Vị
tăng sĩ Phật giáo đã góp phần vào việc chấm dứt
nỗi
khổ đau của cuộc chiến Việt Nam
By
Pankaj Mishra (*)
ILLUSTRATION
FOR TIME BY ROBERT ANDREW PARKER
Ngày
11 tháng 6 năm 1963, một tăng sĩ Phật giáo có tên là Thích
Quảng Đức đã nổi lửa tự thiêu trên đường
phố Sàigòn để phản đối lại chế độ áp bức kỳ thị
của Miền Nam Việt Nam do Mỹ hỗ trợ. Hình ảnh của vị
tăng sĩ ngồi an lạc trong thiền định với ngọn lửa quấn
lấy thân mình đã trở thành hình ảnh đầu tiên trong số
những hình ảnh liên quan đến cuộc chiến Việt Nam , một
cuộc chiến lâu dài đã từng làm nhức nhối lương tâm nhân
loại. Trong vài năm tiếp theo sau đó, hơn ba mươi tăng sĩ
khác đã cống hiến xác thân mình trong cùng một kiểu cách
nhằm phản đối lại cuộc chiến vô nghĩa và tàn bạo tại
Việt Nam .
Những
nỗi khổ đau lớn lao và kéo dài tại Đông Dương cùng với
nỗ lực nhằm xoa dịu nó của những người Phật tử trong
những năm đó có thể nay đã chìm vào quên lãng, tuy nhiên
Thích
Nhất Hạnh, người tăng sĩ Việt nam, vị thiền
sư với triết thuyết “Phật giáo dấn thân” đã gây
cảm hứng cho những nỗ lực này vẫn còn đó với chúng ta.
Là một trong những nhà tư tưởng và hoạt động tôn giáo
quan trọng nhất trong thời đại này, Thầy Nhất Hạnh, bằng
kinh nghiệm cá nhân của chính mình, đã thấu hiểu tại sao
những ý thức hệ, và phong trào quần chúng thế tục -những
chủ nghĩa quốc gia, phát xít, cộng sản và thực dân- đã
gây ra những thảm họa bạo lực không lường trước được
của thế kỷ hai mươi. Bài học của Thầy đã được bắt
đầu khá sớm với một vài chiến trường đẫm máu như ở
Việt Nam, nơi mà người Pháp rồi đến người Mỹ đánh nhau
với người quốc gia và cộng sản VN. Thế nên mặc dầu thuộc
một truyền thống vốn chuộng sự tĩnh lặng, Thầy Nhất
Hạnh đã không thể ngồi yên mà không bị lôi cuốn vào cuộc
chiến vây quanh. Thầy có thể thấy được cái nhu cầu
khẩn thiết để đưa tinh thần từ bi -một giáo điều quan
trọng của Phật giáo- vào một nền văn hoá đang gia tăng
cường độ bạo lực. Thầy tin rằng, chiến tranh chỉ có
thể chấm dứt bằng cách dập tắt những tình cảm vọng
động -sợ hãi, tức giận, khinh miệt, trả thù- như luôn
luôn chế dầu vào lửa.
Năm
1965, sau một vụ tự thiêu khác của Phật giáo, Thầy Nhất
Hạnh đã viết cho Mục sư Martin Luther King Jr., vị lãnh tụ
tranh đấu dân quyền của Mỹ rằng, “những tăng sĩ
tự thiêu không hề nhằm đến mục đích tiêu diệt những
kẻ áp bức mà chỉ muốn họ thay đổi chính sách. Kẻ thù
của họ không phải là con người. Kẻ thù của họ là bất
khoan dung, là cực đoan, độc tài, là tham lam, thù hận và
kỳ thị- vốn sẵn có trong tâm của mỗi con người.”
Thầy Nhất Hạnh đã dẫn dắt Mục sư King, và nói rộng ra,
công luận Mỹ chống đối lại cuộc chiến Việt Nam . Những
năm cuối thập niên sáu mươi, trong khi sống lưu vong tại
Mỹ, Thầy Nhất Hạnh đã trở thành một trong những biểu
tượng của phong trào phản chiến. Những bài tham luận của
Thầy đã được đăng tải trên những tạp chí hàng đầu
của Mỹ, cụ thể như New York Review of Books, những bài
thơ của Thầy đã được hát lên như những ca khúc chống
chiến tranh, được đệm bằng đàn ghi-ta trong các khuôn viên
đại học Mỹ. Có thể nói mà không phóng đại rằng Thầy
Nhất Hạnh đã góp phần thúc đẩy Hoa Thịnh Đốn rút lui
khỏi cuộc chiến Việt Nam.
Thầy
Nhất Hạnh, bây giờ đã tám mươi và hiện đang sống trong
một thiền đường tại Pháp, đã và đang đóng một vai trò
quan trọng trong việc trao truyền một truyền thống tâm linh
Á châu đến với một quần chúng hiện đại đông đảo tại
phương Tây. Thầy đã từng viết rằng, “Đừng để
mình bị vướng mắc vào bất cứ giáo điều, học thuyết,
hay ý thức hệ nào, ngay cả Phật giáo. Tất cả các hệ thống
tư tưởng đều chỉ là những phương tiện hướng dẫn chứ
không phải là chân lý tuyệt đối.” Trong một thế
giới mà các nhà lãnh đạo chính trị từ Hoa Kỳ cho đến
Iran hiện đang lớn tiếng kêu gọi dân tộc mình tham dự vào
những cuộc chiến ý hệ mới, tiềm ẩn nguy cơ biến thế
kỷ này còn tàn bạo hơn cả thế kỷ trước, tất cả chúng
ta không thể không quan tâm sâu sắc đến cái tuệ giác của
Thầy Nhất Hạnh.
(*)
Tác
phẩm mới nhất của Pankaj Mishra là Temptations of the West:
How to be Modern in India, Pakistan, Tibet, and Beyond
Tâm
Hà Lê Công Đa
http://www.time.com/time/asia/2006/heroes/in_hanh.html
