Ngày
1 tháng 3, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên đuổi theo rất gắt
hai vua (Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng Đế Nhân Tông) phải
bỏ thuyền, xử dụng đường trên bộ đi đến Thủy-Chú
(không rõ nơi nào ngày nay), sau đó lấy thuyền ra cửa Nam-Triệu,
vượt biển Đại-Bàng (thuộc địa phận xã Đại-Bàng, huyện
Nghi-Dương, tỉnh Hải-Dương) đi vào Thanh-Hóa. Như thế ta
thấy ở đây quân đội Đại Việt đang rơi vào thế tam đầu
thọ địch đúng như kế hoạch của kẻ địch dự trù là
các cánh quân của Thoát Hoan từ Thăng Long tiến về phối
hợp với các cánh quân của tướng Hữu thừa Khoan Triệt,
Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp Đát Nhi dẫn quân bằng
đường bộ và Lý tả thừa Ô Mã Nhi Bạt Đô (sau khi chiếm
xong bãi Tha-Mạc) bằng đường thủy; cánh quân của Toa Đô
giải quyết xong chiến trường Thanh, Nghệ cũng thẳng đường
tiến tới Thiên Trường. Để giải tỏa thế gọng kềm này
ta phải giải quyết ra sao?
Từ
Thiên Trường một cánh quân của ta rút về các lộ vùng đông
bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) để dụ địch rượt theo rồi
chờ cho Toa Đô dẫn quân ra khỏi Thanh Hóa thì ta mới vượt
biển Đại-Bàng như đã nói ở trên để vào chiếm lại Thanh
Hóa làm căn cứ đóng quân. Toa Đô vừa phải vất vả ngược
xuôi để rượt đuổi quân ta, rốt cuộc cũng chẳng được
gì lại mất đi cứ điểm vừa mới chiếm. Cương Mục Chính
Biên quyển VII có đoạn viết: «Lúc ấy quân Nguyên đuổi
theo riết, nhà vua phải mời thượng hoàng cùng ngự một chiếc
thuyền con, chạy ra nguồn Tam Trĩ, một mặt khác, sai người
kéo thuyền của vua vẫn ngự đi ra ngả núi Ngọc Sơn, để
đánh lừa quân Nguyên. Tướng Nguyên do thám biết được mưu
ấy, mới sai Hữu thừa là Khoan Triệt, Tả thừa là Lý Hằng
chia đường đuổi theo. Nhà vua phải đổi đi đường bộ
đến xã Thủy-Chú, rồi lại đi thuyền đến sông Nam-Triệu,
qua cửa biển Đại-Bàng vào Thanh Hóa».
Ngày
9 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), hai vua bị tướng Nguyên là Giảo-Kỳ
và Đường-Cổ-Đới đem chu-sư (hải quân) ra biển vây và
suýt bắt được các ngài. May thay nhờ tướng Nguyễn Cường
tận lực hộ giá mới có thể rút ra được về phía nguồn
Tam-Trĩ, đồng thời giả đưa thuyền rồng đi miền Ngọc-Sơn
(miền biển Thanh Hóa) để đánh lừa giặc. Quân thù tưởng
là thyền hai vua chúng đón bắt và tịch thu rất nhiều vàng
bạc cũng như nam nữ của ta.
Ở
đoạn này ta thấy rằng sau khi quân Đại Việt rút khỏi kinh
thành Thăng Long rồi liên tiếp xảy ra các trận đánh Tha Mạc,
Bình Than, A Lỗ, Đại Hoàng, Thanh Hóa thì hai vua và quân đội
Đại Việt gần như rơi vào thế bị động phải liên tục
di chuyển để tránh né sự truy đuổi của quân Nguyên theo
Cương Mục ghi «nhà vua phải chạy loạn long đong»; Việt
Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: «Nhân Tông kinh hãi,
Thượng hoàng đêm ngày lo sợ»; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
chép: «Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền
nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên…xa giá nhà vua phiêu bạt». Các vị
sử gia nói trên phê phán một vị đại anh hùng như Đức
Hoàng đế Trần Nhân Tông như vậy thì hơi vội vàng và thiếu
khách quan.
Hãy
xem tình hình quân thù ra sao, theo Nguyên Sử 13 tờ 8b8-10 ghi:
«Tháng 3 ngày Bính Tý Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm
quân. Lúc bấy giờ Trần Nhật Huyên trốn về hai xứ Thiên
Trường và Trường Yên, binh lực lại tập hợp. Hưng Đạo
Vương đem hơn ngàn chiến thuyền về nhóm Vạn-Kiếp, còn
Nguyễn Lộc thì ở Vĩnh Bình, mà quan quân đi xa lại đánh
lâu, treo lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và Đường Cổ
Đãi lại đến không đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi
đưòng thủy là nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo
đường bộ» -Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh Thát Việt
dịch.
Như
vậy thì quá rõ ràng, theo Nguyên Sử thì quân Mông-cổ cũng
đang rơi vào thế bị động. Thế bị động đó là chúng
phải đối phó với nghĩa quân của ta quấy rối trong hậu
phương của địch. Bằng chứng là phản thần Trần-Kiện
trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt lại được quân ta
cho đi chầu âm phủ; để đối phó với những hoạt động
tiêu thổ kháng chiến của quân ta, chúng bắt buộc phải xin
thêm quân xây dựng thêm nhiều đồn bót để gia tăng phòng
thủ cũng như kiểm soát những vùng đã chiếm được. Nếu
thật sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị
động thì cần gì phải xin thêm viện binh như thế? Sau khi
hóa giải thế gọng kềm mà chúng muốn tạo ra để vây hãm
quân ta phải quy phục, thì nay chính đoàn quân xâm lược lại
bị rơi vào thế trận mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo
Vương đã sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông. Đó là rút
lui, phòng thủ và phản công chiến lược. Hiện tại ta ở
giai đoạn nhì là phòng thủ chiến lược để chuẩn bị bước
qua giai đoạn ba là phản công chiến lược.
Chưa
hết, tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đã gặp sức
phản kháng rất quyết liệt của quân dân ta. Ngày 9 tháng
3 năm 1285, tướng Nguyên là Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ
(thuộc Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên
đánh địch, trong đó có dân chúng Hương Yên Duyên (xã Quảng
Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chỉ huy của ông Lê
Mạnh tước là Đại Toát đã chống cự quyết liệt khiến
chúng không biết đường chống đỡ, rút lui cũng không được
tiến tới cũng chẳng xong, cuối cùng vì quân ta có có kẻ
phản bội nên giặc Nguyên mới thoát được và chúng còn
đốt phá nhà cửa của ông. Sự kiện này không thấy ghi trong
sử nhưng nhờ công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi
lại rằng: «Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương
này. Ông đem người trong hương chận giặc ở bến Cổ Bút.
Hai bên đánh nhau giặc cơ hồ không rút chạy được. Nhưng
vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông
bị đốt phá» (Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập
II quyển thượng trang 648).
Trong
lúc này Hưng Đạo Vương được lịnh đem hơn 1000 chiến thuyền
về Vạn-Kiếp là nơi trước đây đã rút lui, còn tướng
Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình tạo thế gọng kềm đối với
quân thù. Vì thế cả ba cánh quân của chúng do Thoát Hoan,
Ô Mã Nhi và Toa Đô đều nằm ở giữa vòng vây mà Đức Hoàng
đế Trần và Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể từ
sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng.
Với
tài dụng binh như thần của Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông
như thế, quân đội Đại Việt đang ở thế bị bao vây cả
ba hướng, thế mà quân ta đã lật ngược được thế cờ
trong những lúc nguy cấp nhất, khiến kẻ thù rơi vào giữa
vòng vây của quân ta, như Nguyên sử nói «quan quân đi xa đánh
lâu, lại treo lơ lửng ở giữa». Thế mà không hiểu vì sao,
ngoài tác giả một số quyển sử như Cương Mục, Toàn Thư,
Việt Nam Sử Lược, có cái nhìn hơi tiêu cực về Đức Hoàng
đế Trần Nhân Tông về giai đoạn này thì có những người
khác lại đi xa hơn như trong quyển Histoire du Viet Nam des origines
à 1858 do Lê Thành Khôi là tác giả được nhà Sudestasie xuất
bản năm 1987 tại Paris. Trong quyển này ông Lê Thành Khôi viết
như sau ở trang 186: «Nhân Tông, bord d’un sampan léger,
était descendu Hai-dong (Quang-Yên). Il fit mander Hung-dao et
l’interrogea, sucieux: «La puissance de l’ennemi semble telle que
je crains qu’une guerre prolongée n’entraîre pour le peuple d’immenses
destructions. Ne vaut-il pas mieux nous rendre pour l’en sauver ?» Le
généralissime répondit: «Ces paroles manifestent les sentiments d’humanité
de Votre Majesté, mais les Temples Dynastiques et les Dieux du Sol et
des Moissons, que de viendraient-ils alors? Si vous voulez vous rendre,
faites d’abord trancher ma tête!». Nghĩa là: «Vua Nhân Tông đi
thuyền nhẹ xuống Hải-Đông (Quảng-Yên). Ngài cho vời Hưng-Đạo-Vương
đến hỏi: «Thế giặc dữ dội như thế e rằng cuộc chiến
sẽ kéo dài gây tàn hại cho dân chúng, thôi thì để trẫm
đầu hàng giặc để cho dân chúng bớt khổ». Hưng-Đạo-Vương
trả lời: «Đức ngài nói câu đó thật là vị vua có lòng
thương dân, nhưng rồi sơn hà xã tắc sẽ ra sao? Nếu bệ
hạ muốn hàng giặc thì xin chém đầu thần trước đã».
Việt
Sử Toàn Thư của ông Phạm Văn Sơn biên soạn ở trang 184
có mẩu đối thoại giữa Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông
và Hưng Đạo Vương khi hội hợp ở Hải-Đông trên một chiếc
thuyền nhẹ nội dung như sau: «Thế giặc lớn như vậy chống
với nó e dân sự sẽ tàn hại hay là hàng chúng nó để cứu
lấy dân?». Hưng Đạo Vương khẳng khái trả lời rằng: «Bệ
hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy nhưng Tôn Miếu và
Xã Tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu
tôi đi trước đã!»
Ngày
12/05/2003, bài Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận do
Bán Nguyệt San Ý Dân (Ydannews@aol.com)phổ biến trên diễn đàn
công luận (diendancongluan@yahoogroups.com) và diễn đàn chính
luận (chinhluan@yahoogroups.com) có đoạn viết như sau: «Năm
1284, khi giặc Mông Cổ đem đại quân tràn sang tấn công nước
ta lần thứ hai, khiến vua Trần Nhân Tôn phải lui binh về
Vạn Kiếp và nảy sinh ý định đầu hàng giặc để tránh
nhân dân phải đổ máu. Nguyên soái Trần Hưng Đạo, trong
vai trò thống lĩnh toàn quân đã dõng dạc thưa với nhà vua
rằng: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước
đã". Câu nói bất hủ nầy của Đức Trần Hưng Đạo đã
có sức mạnh vạn năng khiến vua Trần Nhân Tôn phải hủy
bỏ ý định đầu hàng giặc và ra công chống ngoại xâm,
đem lại thắng lợi cho dân Việt».
Việt
Sử Khảo Luận tập 2, tác giả Hoàng Cơ Thụy do Hội Văn
Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 dầy 410 trang. Ở trang 325 ghi
như sau: «Vua Thánh Tông đi thuyền nhỏ xuống Hải-Đông (Hải
Dương bấy giờ), cho vời Hưng Đạo Vương đến hỏi: Thế
giặc to như vậy, mà chống chọi với nó thì dân bị tàn
hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân ?» Hưng Đạo
tâu: «Bệ hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng mà tôn
miếu xã tắc thì sao. Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy
chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng». Ở đây tác giả
Hoàng Cơ Thụy đã chép nhầm một số sự kiện sau đây: 1/
Vua Trần Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, trong
suốt 20 năm này quân Mông-cổ không có đem quân sang đánh
Đại Việt, chỉ có căng thẳng ngoại giao giữa ta và nước
Tàu; 2/ Địa điểm Hải Đông mà tác giả Hoàng Cơ Thụy ghi
rằng vua Thánh Tông gặp Hưng Đạo Vương, nó đã xảy
ra vào cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì năm 1285, người làm
vua cũng như chỉ huy quân đội Đại Việt lúc đó là vua Nhân
Tông (vua Thánh Tông lúc này là Thượng hoàng). Đây là sự
lầm lẫn từ nhân vật (vua Thánh Tông); sự kiện (hay là trẫm
chịu hàng để cứu muôn dân… Nếu bệ hạ muốn hàng, xin
trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng); cho đến
địa điểm Hải-Đông, địa điểm này đã diễn ra cuộc
gặp giữa vua Nhân Tông và Hưng Đạo Vương trong cuộc kháng
Nguyên lần thứ nhì 1285. Theo Toàn Thư ở trang 173 ghi: «Thế
giặc rất mạnh, [vua] lại phải lui giữ sông Thiên Mạc (theo
Cương Mục là khúc sông Hồng chảy qua vùng bãi Mạn Trù,
nay thuộc xã Tân Châu, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng). Phụ
Trần theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người biết
được điều đó. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền thái úy
Nhật Hiệu hỏi kế sách (chống giặc). Nhật Hiệu đương
dựa mạn thuyền, cứ ngồi không đứng dậy nổi, chỉ lấy
ngón tay chấm nước viết hai chữ «nhập tống» (nghĩa là
bỏ chạy vào đất Tống) lên mạn thuyền…Vua lập tức dời
thuyền đến hỏi thái sư Trần Thủ Độ, Thủ Độ trả lời:
«Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác».
Cương Mục ở trang 209 cũng ghi như thế.
Quyển
Tiêu Sơn Tráng Sĩ của tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất
bản năm 1968, tại Sài Gòn, ở trang 263 ghi: «Vua Nhân-Tôn
nhà Trần nghe tin Hưng-Đạo-Vương bại trận chạy về Vạn-Kiếp,
liền ngồi thuyền xuống Hải-Đông, rồi vời Vương đến
bàn rằng: «Thế giặc to, mà mình chống với nó thì dân bị
tàn hại, hay là trẫm ra hàng để cứu muôn dân?». Hưng-Đạo
quỳ xuống kiếm dâng vua Nhân-Tôn rồi vươn cổ mà nói rằng:
«Bệ-hạ nói câu ấy thật nhân đức, nhưng còn đất nước
thì sao? Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hết chém đầu
tôi đã, rồi hãy hàng». Cương Mục ở trang 227 có ghi tới
sự kiện vua Nhân-Tông gặp Hưng-Ðạo-Vương ở Hải-Ðông
để bàn kế chống giặc cũng như hạ lịnh cho Hưng-Ðạo-Vương
tấn công giặc Nguyên, chứ không phải có ý đầu hàng như
tác giả Tiêu Sơn Tráng Sĩ đã nêu ra. Không rõ tác giả trích
đoạn này từ đâu ra, có phải là sự lẫn lộn giữa vua
Thái Tông và vua Nhân Tông hay chăng?
Đại
Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại
Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn, xuất bản 1998 tại
Hà Nội ghi ở trang 226 như sau về sự kiện này: «Thuyền
chủ tướng Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp.
Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã đi thuyền ra
gặp Quốc Công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn chưa ăn
sáng, người lính cận vệ nắn phần gạo xấu của mình dâng
lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống soái «Thế giặc như thế ta
phải hàng thôi». Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời:
«Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng». (đây ghi là trích
từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II trang 51, trang 81). Vua
Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, suốt thời
gian này đã không có một trận chiến nào với quân Mông-cổ
(do đích thân ngài chỉ huy); về việc dâng phần gạo xấu
là xảy ra với vua Nhân Tông (tức là thái tử của vua Thánh
Tông trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì 1258). Chúng tôi đã
xem lại trong Toàn Thư, Cương Mục phần Thánh Tông Hoàng Đế
thì không thấy có đoạn nào tương tự như trên.
Việt
Sử Mông Học của Ngô Đức Dung ghi ở trang 149: «Đến đời
Hốt-Tất-Liệt, Thế Tổ của nhà Nguyên diệt nhà Tống. Năm
Nguyên Phong đời Trần Thái Tôn quân Nguyên sang xâm lược,
đóng quân ở bờ tả ngạn sông Thao. Thái Tôn tự làm tướng
đánh giặc. Quân Nguyên phải rút. Đến năm đầu Thiệu Bảo
đời Nhân Tôn lại sai sứ đòi hỏi 6 việc năm trước. Vua
muốn hàng hỏi Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn tâu: «Nếu
Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi» vua mới
quyết chí chống giặc…». Ngoài ra ở các trang 147-157, tác
giả Ngô Đức Dung đã trình bày lẫn lộn giữa vua Trần Thái
Tông và Trần Nhân Tông; đồng thời các cuộc kháng Nguyên
lần thứ I, II, III.
Theo
chúng tôi tra cứu thì từ các quyển cổ sử như Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư do các sử thần Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên,
Ngô Sĩ Liên soạn năm 1697; Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục được soạn bởi Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
(1856-1881); An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc soạn năm 1335 được
Viện Đại Học Huế dịch và xuất bản năm 1961 đều không
có ghi sự kiện Hoàng đế Trần Nhân-Tông muốn đầu hàng
quân Mông-cổ khi hội họp với Hưng-Đạo-Vương ở Hải-Đông;
và không hiểu vì sao các tác giả Phạm Văn Sơn quyển Việt
Sử Toàn Thư, Lê Thành Khôi quyển Histoire du Viet Nam des
origines à 1858, tác giả Ý Dân với bài Khí Phách Của Vị
Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt San Ý Dân xuất bản,
Khái Hưng quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Việt Sử Mông Học của
Ngô Đức Dung lại gán cho Ðức Hoàng đế Trần Nhân-Tông
là người muốn đầu hàng quân giặc, đây là một sự kiện
không bao giờ có trong lịch sử, dứt khoát là một sự
hư cấu! Riêng tác giả Hoàng Cơ Thụy quyển Việt Sử Khảo
Luận tập 2, các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn,
Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn Đại Cương Lịch Sử Việt
Nam tập 1, thì lại nhầm lẫn tên người, địa điểm cũng
như sự kiện. Vì sự học hỏi của mọi tầng lớp người,
chúng tôi mạn phép ghi ra đây để chúng ta có thể rút được
một vài kinh nghiệm nhỏ (nhưng rất quan trọng) trong việc
biên soạn lịch sử nước nhà.
Rất
mong các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo. Đa tạ.
Trúc
Lâm Lê An Bình
(*)
Trích Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông, trọn đời chinh chiến-một
thủa thanh bình, do Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo .
Đọc
Thêm:
Nghiên
Cứu Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát