Giờ
ra chơi lớp Tăng sinh khóa 5 (Học viện Phật Giáo Việt Nam),
học viên Thích Hạnh Bích loay hoay chuyển file ghi âm tiết
học Kinh Viễn Giác của giảng sư vào chiếc laptop đời mới
nhãn hiệu Dell...
Lời
giảng của giảng sư sau đó sẽ được Thầy gõ ra file word
vừa làm giáo trình, vừa là tài liệu cho các đệ tử tham
khảo. Gần 20% tăng sinh khóa 5 cũng sở hữu những chiếc máy
tính xách tay, máy ghi âm, ipod, di dộng đời mới như vậy.
Kỷ nguyên công nghệ hiện đại đã thổi một làn gió mới
vào những giảng đường tăng ni Phật giáo Việt Nam…
“Dặm
trường khó qua”
Tuy
nhiên, để bước qua cánh cổng của Học viện Phật Giáo
Việt Nam tọa lạc uy nghi, bề thế trên núi Sóc Sơn, học
viên phải trải qua rất nhiều cửa ải. Theo quy định của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thí sinh phải là một vị sư
thực thụ, tốt nghiệp trung cấp Phật học 4 năm ở các tỉnh
thành, có bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông mới đủ
điều kiện nộp hồ sơ dự tuyển.
Kỳ
thi được tổ chức 4 năm 1 lần với 3 môn chính: Giáo lý
căn bản, Văn học sử Phật giáo và một trong ba ngoại ngữ:
Tiếng Anh, tiếng Trung Quốc hiện đại và Hán Cổ.
Đại
đức Thích Minh Tiến-Thư ký điều hành Học viện giải thích:
"Đào tạo những chức sắc tôn giáo mang một đặc thù riêng
nên chúng tôi phải có những quy định gắt gao như vậy. Khóa
V vừa rồi (2006-2010) có gần 500 thí sinh cũng chỉ sàng lọc
được 290 tăng ni sinh đại học và 50 cao đẳng đến từ
34 tỉnh thành trong cả nước". Thầy Tiến cho biết thêm: “Bước
vào chính khóa, chương trình học tập và thi cử của sinh
viên còn “gian nan” gấp trăm lần sinh viên các trường thường”.
Thảo
nào, khi bước vào phòng 106 - nhà A2 của các tăng ni sinh, chúng
tôi thấy không khí dịu mát, trong lành của núi rừng Sóc
Sơn như mất hẳn. Thay vào đó là sự sôi sục của học viên
giữa thời khắc “nước sôi lửa bỏng" nhất của kỳ thi.
Trong
ký túc xá của các ni sinh - Ảnh: Phương Việt Trì
Ni
sinh T.D.H (chùa Yên Phụ - Bắc Ninh) bơ phờ đưa tôi xem lịch
trình dày đặc của một sinh viên khóa V: 4 giờ dậy, 4h30:
niệm kinh Phật, 5h30: tập thể thao, 7h lên lớp, 11h tan học,
12h ăn cơm trưa, 13h lên học tiếng Anh, tiếng Trung, 16h lên
chùa Tụng kinh; 19h tham gia Câu lạc bộ Thư pháp, 21h học ôn
tiếng Trung, tiếng Anh, 23h đi ngủ và sáng sớm hôm sau lại
4h dậy theo quy định của học viện…
Một
học kỳ của sinh viên các trường đại học chỉ phải học
từ 6 đến 9 môn thì sinh viên Học viện Phật giáo phải “ôm”
17 đến 19 môn, từ môn ít nhất 45 tiết đến môn nhiều nhất
là 90 tiết.
Thời
khóa biểu của sinh viên năm thứ 2: “Kinh NiKaYa: 75 tiết;
Kinh A Hàm: 60 tiết; Ba la đề mộc xoa giới: 90 tiết; Kinh Lăng
Nghiêm: 75 tiết; Cổ Ngữ: 75 tiết; Anh Văn: 75 tiết; Logic học:
60 tiết; Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam: 45 tiết; Chủ
nghĩa Xã hội: 45 tiết; Xã hội học đại cương: 45 tiết…”.
Khó
khăn nhất với học viên ở đây, như ni sinh Thích Diệu Huyền
tâm sự: “Các thầy ở chùa từ nhỏ, quanh năm suốt tháng
chỉ tiếp xúc với kinh Phật thì làm gì biết đến giá trị
thặng dư, quy luật thị trường, đô thị hóa, nội hàm, ngoại
biên…Vì thế, họ rất “nhọc nhằn” khi tiếp xúc với
các môn “ngoại điển” như triết học, kinh tế chính trị,
logic, xã hội học…”.
Ngoài
cách nhờ giảng viên tóm tắt nội dung chính, tổ chức nhóm
giải đáp thắc mắc, không ít học viên ở đây phải “lách
luật” để qua kỳ thi môn “ngoại điển”. Lúc này, “phao
ruột mèo”, bản chép tay phôtô sẽ được “luồn” vào
phòng thi mặc dù bản thân mỗi học viên cảm thấy day dứt
vì đã vi phạm một trong những giới luật quan trọng nhất:
Không gian dối.
Tăng
sinh Thích Minh Giác cho biết, mặc dù thấm nhuần tinh thần
Phật giáo từ nhỏ, nhưng việc học tập các môn “nội điển”
liên quan đến Phật giáo cũng không phải dễ dàng. Đặc biệt
những môn Kinh và Luật trong giáo lý Phật giáo.
Trong
hệ thống kinh điển của Phật giáo có tới 84.000 pháp môn
tu hành, nhưng chung quy lại không ngoài 3 hệ thống Kinh, Luật,
Luận ( Kinh- do Đức Phật nói ra, Luật: Giới luật, Luận:
do các vị tổ sư dựa vào Kinh và Luật để viết ra). Riêng
một câu kinh đã có hàng trăm cách lý giải, cắt nghĩa khác
nhau học viên cần phải lĩnh hội. Cả nghìn bộ kinh luận
như vậy cũng đủ làm học viên phải “toát mồ hôi” mỗi
khi nghiên cứu, học thuộc. Nhưng có lẽ với người học
ở đây những “nhọc nhằn” thi cử chỉ giống như một
vết lõm nhỏ trên con đường chông gai đến với đức Phật.
Như tăng sư Thích Minh Giác tâm sự: Khi đã bước chân vào
đây, hầu hết mọi người đều mang khát khao học tập, nghiên
cứu để trở thành những nhà tu hành cống hiến cho Phật
học và dân tộc.
Trong
giảng đường - Ảnh: Phương Việt Trì
250 và 348
giới luật một ngày
Gần
10 năm làm công tác quản lý kiêm thầy chủ nhiệm, đại đức
Thích Minh Tiến đã bao lần nuốt nước mắt vào trong khi phải
ký giấy cảnh cáo, kỷ luật, thông báo về tỉnh hội, sư
trưởng và chính cha mẹ học viên.
Có
thể chỉ là ngủ dậy muộn, trễ nải trong tu hành, ra vào
trường sai quy định, quan hệ tăng - ni không trong sáng, quay
cóp, nghỉ học không lý do…Nhưng khi đã chọn cho mình con
đường tu hành, rèn luyện, đào tạo thành chức sắc, mỗi
tăng ni sinh phải nghiêm khắc sàng lọc, loại bỏ những điều
xấu còn rơi rớt trong con người mình.
Thầy
hiểu, suy cho cùng, học viên ở đây đều là những con người
bình thường, lại trẻ tuổi, vì thế không thể tránh khỏi
những bồng bột, nông nổi trong suy nghĩ, hành động. Quy luật
giữa cái thiện - ác, tốt - xấu lại rất mong manh, chỉ cần
một khoảnh khắc chệch hướng cũng dễ rơi vào cái ác:
“Quan
trọng nhất là sự hối cải của con người chứ chúng tôi
không nặng về vấn đề kỷ luật. Kỷ luật chỉ là biện
pháp giáo dục cuối cùng, thậm chí kỷ luật xong các thầy
vẫn mở đường cho tăng sinh sám hối”.
Các
hòa thượng, đại đức ở đây đều hiểu, họ đang giáo
dục một con người chứ không phải một cái cây, một đồ
vật. Vì thế, phương pháp giáo dục chính là để mọi người
thành tâm sửa đổi. “Vừa dạy vừa dỗ, vừa uốn nắn,
nhắc nhở, vừa khuyên bảo, chia sẻ bằng các kênh bạn bè,
giảng sư, thầy phụ trách, sư trưởng, gia đình…như “mưa
dầm thấm lâu” sẽ giúp học viên chuyển đổi tâm tích
của mình.” Thầy Thích Minh Tiến chia sẻ.
Tăng
sinh Thích Mạnh Đức tâm sự: Dù môi trường rèn luyện ở
đây “khắc nghiệt” không khác quân đội nhưng tất cả
các tăng ni sinh đều rất hài lòng và tuân thủ chấp hành.
Một ngày, ngoài việc học tập, học viên phải hành trì lễ
niệm (tụng kinh, niệm Phật) sáng sớm, trưa, chiều tối.
Một
buổi kỷ niệm sinh nhật của các tăng sinh
Các
tăng sinh và ni sinh ở hai khu tách biệt và chỉ gặp gỡ ở
những nơi công cộng như giảng đường, câu lạc bộ, nhà
ăn…Sau 21h30, nếu có học viên qua lại khu nhà ở của nhau
sẽ bị kỷ luật cảnh cáo. Học viên muốn ra ngoài phải
có bản đồng ý qua ba chữ ký, trong đó ghi chính xác giờ
đi, giờ về.
Ni
sinh Thích Diệu Huyền cho biết thêm: “Ăn uống cũng phải
đúng nghi thức, trước khi ăn làm lễ tri ân công đức quốc
gia, dân tộc, Phật pháp đã tạo dựng cơ ngơi. Trong ứng
xử thì phải giữ đúng quan hệ bổn đạo trên dưới để
trau dồi giới đức.” Một ngày, tăng sinh phải học và tự
răn 250 điều giới luật, ni sinh là 348 điều.
Giọt nước
mắt cho đời
Trên
chính giữa bức tường trong phòng ở tăng sinh Thích Minh Giác
treo một bức tranh: “Lục hòa cộng trụ” gồm 6 điều răn:
Thân hòa đồng trụ (Sống hòa hợp về thân thể), Khẩu hòa
vô tranh (Hòa nhã tiếng nói), Kiến hòa đồng diệt (Mâu thuẫn
vứt bỏ), Lợi hòa đồng quân (Vật phẩm chia chung), Kiến
hòa đồng giải (Cùng chia sẻ ý kiến)…Đã hai năm nay, khi
có tranh cãi, mâu thuẫn nhỏ cả 6 tăng sinh không ai bảo ai
lại nhìn lên bức tranh này để giữ lại hòa khí cho cả
phòng.
340
học viên đến từ 34 tỉnh thành khác nhau, mỗi người một
tính nết, một hoàn cảnh sống nhưng chưa bao giờ trong học
viện xảy ra một xô xát, cãi vã nhỏ. Ni sinh Thích Diệu Huyền
(phòng 106-A2) tâm sự: “Quanh năm suốt tháng chúi đầu vào
học tập, rèn luyện, thời gian rảnh lại tụng kinh, niệm
Phật. Ăn uống thì chỉ đạm bạc hai bữa cơm chay, hoa quả...nên
học viên cũng chẳng có ham muốn, hiềm tị về vật chất
hay tình cảm để mà mâu thuẫn.
Ngược
lại, các đồng sư hết mực yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ
khó khăn với nhau. Có nhiều tăng ni từ miền Trung, miền Nam
ra đây hoàn cảnh khó khăn, chúng tôi lại tằn tiện, gom góp
giúp đỡ có chỉ là quả chuối, bát xôi... những khi đói
lòng”. Một số học viên đã tốt nghiệp các trường Đại
học Khoa học Xã hội nhân văn, Học viện Quan hệ Quốc tế,
Đại học Ngoại ngữ… lại “phụ đạo” các môn “ngoại
điển” giúp những học viên khác.
Hàng
năm, đến lễ Phật đản, mùa Vu Lan… tăng ni sinh lại quây
quần thành từng nhóm, sôi nổi dựng một vở kịch, tập
một bài hát góp vui. Mùa Vu Lan năm ngoái, khi nghe tiếng hát
của ni sinh Thích Diệu Huyền: “Mẹ hiền ơi mùa Vu lan đã
về, người ta vui cùng đời, hoa hồng đỏ thắm trên môi,
còn mình tôi lang thang nhặt cành hoa trắng. Tháng bảy ngày
trăng mùa hiếu vu lan, hoa hồng cài áo rất hồng tươi. Nay
hoa trắng trắng màu xót thương, mẹ ơi đau đớn khôn lường…”
cả hội trường đã lặng đi. Những giọt lệ lặng lẽ lăn
trên gương mặt họ như những nỗi đau đời vẫn chưa thể
hóa giải trên con đường chân tu!
Phương
Việt Trì
(Vietimes.com.vn)
Những
giảng đường Tăng Ni, Phương Việt Trì
08-02-2007
10:23:46