NHỮNG
ĐOÁ HOA THIỀN
禪
之 花
QUYỂN CHUNG
1930.-
Thô bạo quá.
Đường
Tuyên Tông khi chưa lên ngôi đã từng là sa di, tham học với
thiền sư Hương Nghiêm. Một hôm hai thầy trò đi chơi núi.
Hương Nghiêm ngâm :
Xuyên
mây chẳng thấy nhọc
Xa
đất mới thấy cao.
Tiểu
sa di đọc tiếp :
Khe
suối không giữ được
Lòng
biển lớn ba đào.
Thiền
sư mỉm cười :
-Chú
tiểu nhỏ này tương lai sẽ làm hoàng đế đây !
Về
sau tiểu sa di lại đến học với thiền sư Tế An, lúc đó
Hoàng Bá đang làm thủ tọa ở đó. Tiểu sa di thấy Hoàng
Bá lễ Phật liền hỏi :
-Chẳng
cầu Phật, chẳng cầu Pháp, chẳng cầu Tăng, trưởng lão
quỳ lạy là cầu cái gì ?
-Tôi
chẳng cầu Phật, chẳng cầu Pháp, chẳng cầu Tăng, chỉ quỳ
lạy thế thôi.
-Vì
sao quỳ lạy ?
Hoàng
Bá thấy tiểu sa di cố chấp bèn cho một tát tai. Sa di không
khai ngộ, tâm sân nổi lên oán trách :
-Thật
thô bạo quá !
-Đây
là đâu mà chú nói thô với tế ?
Nói
rồi lại cho thêm hai tát tai nữa.
Về
sau, sa di quả nhiên làm hoàng đế, nhưng vẫn không quên cái
thù bị đánh. Hoàng Bá qua đời Tuyên Tông ban hiệu là Thô
Hạnh Thiền Sư. Tể tướng Bùi Hưu là đệ tử nhập thất
của Hoàng Bá biết rõ chuyện này, bèn dâng sớ tâu hoàng
đế :
-Thiền
sư đã vì hoàng đế chặt đứt tam tế đó ! (Tam tế là một
thuật ngữ Phật giáo chỉ thời quá khứ, hiện tại, vị
lai, có khi cũng chỉ trong, ngoài, giữa).
Tuyên
Tông là một Phật tử biết phân phải quấy, do đó sửa hiệu
lại thành Đoạn Tế Thiền Sư.
(Thiền
Tư)
Người
nghiêm khắc với ta, thật ra là người quan tâm đến ta.
1931.-
Không có mắt.
Đơn
Hà là một đại thiền sư đời Đường. Một hôm có một
ông tăng đến tham vấn. Đơn Hà thấy mặt liền hỏi :
-Ông
từ đâu tới ?
-Con
từ dưới núi lên.
Đơn
Hà thấy ông tăng không chịu nói xuất xứ, giống như người
có tu nên muốn thử xem ông ta có phải là người sáng mắt
không, lại hỏi :
-Đức
Phật nói cho 100 người ác ăn chẳng bằng cho một người
thiện ăn. Cúng dường tam thế chư Phật chẳng bằng cho một
người vô niệm, vô trú, vô tu, vô chứng ăn.
Nói
tới đây Đơn Hà lại hỏi :
-Ông
đã ăn chưa ?
-Dạ
! đã ăn rồi.
-Người
nào cho ông ăn là kẻ không có mắt.
Ông
tăng không đáp được. Đơn Hà thở dài :
-Quả
là một gã vô tri !
(Thiền
Tư)
Thiền
giả không phải là người chỉ trình ra những lời thiền
ngoài miệng.
1932.-
Không thể nói dài, ngắn.
Có
một ông tăng muốn khảo nghiệm Mã Tổ, liền vẽ một vạch
dài, 3 vạch ngắn rồi hỏi Mã Tổ :
-Không
thể nói một dài, 3 ngắn, xin mời thầy nói .
Nói
rồi đứng sang một bên chờ Mã Tổ trả lời.
Mã
Tổ vạch trên mặt đất một vạch :
-Không
thể nói dài, ngắn.
Ông
tăng trợn mắt, há mồm, có chút tỉnh ngộ.
(Thiền
Tư)
Thiền
giả là người không chú trọng vào hình thức.
1933.-
Chúc tết.
Có
một năm vào ngày nguyên đán đang lúc mọi người đang vui
mừng đón xuân thì Nhất Hưu đến nghĩa địa, kiếm một
cái đầu lâu. Ông lấy gậy trúc xỏ vào đầu lâu mang đến
trước mọi nhà hô lớn :
-Mọi
người cẩn thận ! Mọi người phải cẩn thận !
Mọi
người đều cho là ông khùng, hễ ông đi tới nhà nào thì
nhà ấy đóng sầm cửa lại. Có người hỏi ông tại sao lại
làm như vậy, ông trả lời :
-Nếu
không có đầu lâu này thì đó chẳng phải là việc đáng
chúc mừng sao ?
(Danh
Thiền Bách Giảng)
Nhất
Hưu cảnh cáo mọi người chỉ chú trọng đến sanh mà lơ
là đến tử.
1934.-
Chờ thời.
Vinh
Tây là vị thiền sư Nhật Bản đến Trung Quốc du học 12
năm. Ông học với thiền sư Hư Am 5 năm được kế thừa Lâm
Tế tông rồi mới về nước. Về nước ông truyền bá Phật
pháp ở vùng Cửu Châu. Ông muốn đến kinh đô để truyền
pháp nhưng các tông phái cựu Phật giáo ở đó rất bất mãn
Vinh Tây đem về một tông phái mới, nên vận động triều
đình cấm ông không được truyền pháp ở kinh thành. Ông
chỉ đành quay lại Cửu Châu. Đến thời Mạc Phủ ông được
tín nhiệm và ủng hộ nên ông trở thành khai sơn tổ sư Kiến
Nhân Tự. Từ đó Lâm Tế tông mới được truyền bá ở kinh
đô. Chờ thời đối với Vinh Tây là chờ cơ hội.
(Danh
Thiền Bách Giảng)
Vinh
Tây cả đời gập nhiều trở ngại, nhưng ông chủ trương
chờ thời, kiên quyết nhẫn nại đợi cơ hội thực hành
lý tưởng.
1935.-
Chết thì chết.
Có
một ông lão hỏi thiền sư Bàn Khuê :
-Lão
sắp chết rồi, xin thiền sư chỉ cho con đường giác ngộ
để lão được an tâm.
-Cụ
không cần phải giác ngộ.
-Xin
hỏi tại sao ?
-Khi
chết đến thì chết.
(Danh
Thiền Bách Giảng)
Đó
cũng là ý của thiền sư Lương Khoan ; gập tai nạn thì thản
nhiên tiếp thụ, cái chết đến cũng thản nhiên đối diện,
đó là diệu pháp.
1936.-
Khổng ất dĩ.
Có
ông tăng hỏi Trần Tôn Túc :
-Thế
Tôn nói pháp 49 năm, cộng 300 pháp hội, cứu cánh là nói gì
?
-Ông
có thấy từ nhỏ học : “Thượng đại nhân, khổng
ất dĩ” * không ?
(Tứ
Lý Thiền)
Nhiều
ngưới học nhiều Phật pháp nhưng chẳng biết tu như thế
nào, nhiều tri thức nhưng không biết sinh hoạt. Chẳng cứ
là học Phật, học thiền hay bất cứ một môn học thế gian
nào phải trong sinh hoạt mình cảm thấy tốt đẹp, hạnh phúc.
Nếu học đến si khờ thì há chẳng nên bắt đầu lại từ
đầu sao ?
* Chú
Thích:
Nguyên
văn câu này như sau :
上
大 人 孔 乙 已 化 三 千
Thượng
đại nhân Khổng ất dĩ hóa tam thiên
七
十 士. 爾 小 生 八 九 子
thất
thập sĩ. Nhĩ tiểu sinh bát cửu tử
佳
作 仁 可 知 禮 也
giai
tác nhân khả tri lễ dã.
Ý
nói : Vị thánh nhân ngày trước (Khổng Tử) dạy ba ngàn học
trò được hơn 70 người tài giỏi. Lũ chúng bay, bây giờ
còn nhỏ lên tám, lên chín tuổi mà làm điều nhân như thế
khá là biết lễ vậy. (Chu Thiên dịch)
1937.-
Chẳng chịu đảm đương.
Chiêu
Đề Huệ Lương tham học với Thạch Đầu Hi Thiên hỏi :
-Phật
là gì ?
-Cái
ông này ! Ông không có Phật tánh.
-Con
không có Phật tánh, còn bọn xuẩn động hàm linh thì sao ?
-Bọn
chúng có Phật tánh.
-Vậy
vì sao con lại không có Phật tánh ?
-Vì
ông không chịu đảm đương.
(Tứ
Lý Thiền)
Trong
sinh hoạt có nhiều đạo lý rất rõ ràng mọi người đều
biết nhưng vì sao nhiều người vẫn đi lầm đường ?
1938.-
Không làm gì cả.
Một
lần, thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm ngồi thiền trên một
tảng đá. Thạch Đầu Hi Thiên trông thấy hỏi :
-Ông
làm gì ở đây ?
-Con
chẳng làm gì cả.
-Vậy
sao ? Ông chả đang ngồi không là gì ?
-Nói
ngồi không là nói có làm rồi.
(Tứ
Lý Thiền)
Vũ
trụ là gì ? Có phải là vô lượng, vô biên thế giới không
? Đối với bản thân vũ trụ, chúng ta chỉ nhận biết cục
bộ, giới hạn mà thôi. Sinh hoạt của các thiền sư cũng
là sinh hoạt của con người nhưng cảnh giới của họ thì
hoà cùng một nhịp với vũ trụ.
1939.-
Động Đình hồ đã đầy chưa ?
Dược
Sơn Duy Nghiễm hỏi một ông tăng mới đến :
-Ông
từ đâu tới ?
-Con
từ Hồ Nam lại.
-Nước
hồ Động Đình đã đầy chưa ?
-Dạ
! Còn chưa đầy.
-Từ
xưa đến giờ có nhiều trận mưa lắm mà sao hồ vẫn chưa
đầy ?
Ông
tăng đó không trả lời được.
(Tứ
Lý Thiền)
Đọc
sách cả vạn quyển chửa chắc tâm đã đầy. Đêm đến trăng
sao vằng vặc nhưng mắt vẫn chưa đầy . . . chỉ cần tâm
chúng ta trú ở “không, vô” thì có gì không dung nạp được
? Cái gì mà không sáng tạo được ? (Xem thêm công
án 300)
1940.-
Trâu đực sanh con.
Dược
Sơn Duy Nghiễm trong một pháp hội bảo đại chúng :
-Đối
với Thiền tôi có một câu nói có thể giúp các ông hiểu
rõ, nhưng phải đợi tới khi nào trâu đực sanh con thì tôi
mới nói.
Có
một ông tăng bước ra thưa :
-Chỉ
sợ trâu đực sanh con rồi, lão sư cũng không nói ra được.
(Tứ
Lý Thiền)
Không
thể dùng lời nói để thuyết minh về Thiền, cũng như trâu
đực không thể sanh con. Giả như vấn đề trâu đực có thể
sanh con có thể giải quyết được (Khoa học ngày nay có thể
tạo sanh từ một tế bào) thì ngôn ngữ cũng không thể giải
thích Thiền rõ ràng được. Hơn ngàn năm nay biết bao vị
thiền sư và có biết bao sách vở về Thiền, nhưng đã có
ai đưa ra được một định nghĩa nào chính xác về Thiền
chưa ? (Xem thêm công án 141)
1941.-
Đạt Ma chưa tới.
Có
ông tăng hỏi Dược Sơn Duy Nghiễm :
-Đạt
Ma tổ sư chưa tới Trung Quốc, Trung Quốc có ý
tổ sư không ?
-Đương
nhiên là có.
-Nếu
đã có vì sao tổ sư còn qua ?
-Chính
vì có nên tổ sư mới qua.
(Tứ
Lý Thiền)
Tôi
không rõ mặt mũi tôi thế nào, tôi mang gương ra soi liền
rõ. Chân lý sở dĩ có ở thế gian này vì chính bản thân
thế gian có chân lý.
1942.-
Không bị ngoại cảnh mê hoặc.
Có
ông tăng hỏi Dược Sơn Duy Nghiễm :
-Con
phải làm sao để khỏi bị ngoại cảnh mê hoặc ?
-Ngoại
cảnh là ngoại cảnh, nó mê hoặc ông ở chỗ nào ?
-Con
chưa hiểu rõ ý thầy.
-Ngoại
cảnh nào mê hoặc ông ? Chính là ông tự mê hoặc.
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
giống như dùng một lưỡi dao bén mà giải phẫu quan hệ chủ
khách. Chúng ta trong sinh hoạt thường cảm thấy gập khó khăn,
nhưng từ khi có nhân loại đến giờ có ai trong sinh hoạt
mà không gập khó khăn không ?
1943.-
Tâm con yên tĩnh.
Dược
Sơn Duy Nghiễm hỏi Cao sa di :
-Tôi
nghe nói thành Trường An rất náo nhiệt, ông có biết không
?
-Thành
Trường An rất náo nhiệt, nhưng tâm con thì an tĩnh.
-Ông
được cảnh giới này là do xem kinh hay do thỉnh ích ?
-Không
phải do xem kinh hay thỉnh ích.
-Có
nhiều người không xem kinh, cũng không thỉnh ích vì sao họ
không được ?
-Chỉ
vì họ không chịu đảm đương.
(Tứ
Lý Thiền)
Tâm
vốn tự đầy đủ lại có thể sanh ra vạn pháp, chỉ cần
chúng ta nắm lấy công năng này thì hà tất phải chịu ảnh
hưởng của các sản vật do nó sanh ra, đó cũng là nói mặt
trời há cần nắng chiếu sáng sao ?
1944.-
Đi hỏi cột đá.
Có
ông tăng hỏi Thạch Đầu Hi Thiên :
-Đạt
Ma tổ sư đến Trung Quốc để truyền gì ?
-Ông
hãy ra hỏi cây cột đá ngoài viện.
-Con
không hiểu ý thầy.
-Tôi
cũng chẳng hiểu.
(Tứ
Lý Thiền)
Nếu
ông gập một người tự xưng là khai ngộ hoặc đắc đạo
thì chớ tin lời hắn, nếu chẳng phải là lời nói láo thì
cũng là lời điên khùng.
1945.-
Thuỷ Không hoà thượng.
Thuỷ
Không hoà thượng là đệ tử của Thạch Đầu Hi Thiên. Một
hôm ông gập một ông tăng ở hành lang chùa bèn hỏi :
-Chính
lúc này nên làm gì ?
Ông
tăng này nhìn xuống chân rất lâu không đáp.
Thuỷ
Không lại hỏi :
-Ông
thấy cách trả lời này là đúng sao chớ ?
-Thực
là trên đầu còn ghép thêm đầu nữa.
Thuỷ
Không đánh ông một trận :
-Đi
đi ! Về sau ông chỉ làm loạn tâm trí mọi người.(Ông có
thể truyền pháp)
(Tứ
Lý Thiền)
Các
thiền sư gập nhau chẳng có gì để nói, họ dường như là
một. Các lời nói nếu có đều điên đảo. Đương nhiên
công án là để cho người học Thiền xem trong đó phải nhận
ý ngoài lời, chỉ tự mình thưởng thức vị Đạo.
1946.-
Tổ tổ tương truyền.
Có
ông tăng hỏi Đầu Tử Đại Dồng :
-Tổ
tổ tương truyền, không biết họ truyền lời gì ?
-Lão
tăng không hiểu vọng ngữ.
(Tứ
Lý Thiền)
Những
lời quỷ quyệt, quái đản không phải là chí nhân. Chí nhân
chỉ bình thường. Bất luận chư tổ truyền lời gì cũng
không thể trái ngược lại với sinh hoạt chính thường trong
xã hội và bản tánh của con người. Do đó đối với những
gì không thiết thực, những ảo tưởng, thần thoại, thiền
sư không khách khí (Lão tăng không hiểu vọng ngữ) chẳng
phải là tổ tổ tương truyền sao ?
1947.-
Như gà mái ấp trứng.
Có
ông tăng hỏi Thạch Đầu Đại Đồng :
-Nếu
con mang từng vấn đề ra hỏi, thầy đều có thể tuần tự
giải đáp, nhưng nếu cả ngàn vạn người đồng thời hỏi
thì thầy phải làm sao ?
-Tôi
sẽ như gà mẹ ấp trứng.
(Tứ
Lý Thiền)
Gà
mái ấp trứng dù là một quả hay nhiều quả, gà mẹ đều
tận tâm, tận lực ấp. Đó là tinh thần của gà mái, các
thiền sư cũng vậy. Vấn đề ông tăng nêu ra ông có thể
coi đó như là một quả trứng còn mình thì là gà mái mà
ấp quả trứng đó chẳng được sao ?
1948.-
Phật tánh như hư không.
Có
ông tăng hỏi Thạch Sương Khánh Chư :
-Con
nghe các thiền sư giảng Phật tánh như Hư Không vô lượng,
vô biên, vô hình, vô chất có phải thế không ?
-Đúng
thế ! Khi ông nằm thì có, khi ông ngồi thì không.
(Tứ
Lý Thiền)
Các
thiền sư thường hay nói ngược, do đó ta có thể hiểu khi
ngồi thì có Phật tánh, còn khi nằm thì không. Chẳng kể
nằm hay ngồi khi các ông có tâm tìm kiếm thì đã sai rồi.
1949.-
Tam tạng.
Có
ông tăng hỏi Đầu Tử Đại Đồng :
-Tam
tạng giáo điển : kinh, luật, luận còn có gì đặc biệt
ly kỳ không ?
-Có
chứ ! Đó chính là cái có thể diễn xuất ra kinh, luật, luận.
(Tứ
Lý Thiền)
Kinh
là ghi lời Phật nói, luật là những cấm giới Phật đặt
ra, luận là những giải thích về kinh và luật do các đại
bồ tát phát huy. Thiền nhận định Phật và tâm chúng sanh
không sai biệt. Phật là người tu thành cho nên tâm chúng sanh
là tâm Phật. Kinh, luật, luận là sản phẩm tinh thần của
con người, do đó tâm con người so với đại tạng kinh còn
đặc biệt, ly kỳ hơn vì nó chính là nguồn gốc của tam
tạng giáo điển.
1950.-
Vắng lặng không người.
Có
ông tăng hỏi Giáp Sơn Thiện Hội :
-Xin
thầy cho biết làm sao mới có thể đạt được cảnh giới
Niết Bàn vắng lặng là cảnh giới tối cao, rồi sau đó phải
làm gì ?
-Giống
như trong phòng ngủ lớn mà chẳng có người.
(Tứ
Lý Thiền)
Câu
hỏi của ông tăng đã rơi vào mâu thuẫn. Vắng lặng là vô
sự, có sự thì không phải là vắng lặng nữa. Niết Bàn
tuy là cảnh giới tối cao nhưng khi vào Niết Bàn thì Niết
Bàn không còn là Niết Bàn nữa.
1951.-
Chánh Tam.
Trong
thời Chiến Quốc ở Nhật Bản, đất nước chia làm 2 phe
Đông, Tây. Chánh Tam gia nhập vào phe Đông, theo tướng quân
Đức Xuyên xung phong trận mạc, do kinh nghiệm chiến trường
ông đào luyện được cái tâm siêu việt sanh tử. Sau chiến
tranh, ông thường tập ngồi thiền nhưng mãi đến năm 42 tuổi
ông mới chính thức xuất gia. Ông học qua cả Lâm Tế tông
và Tào Động tông, nhưng không theo hẳn một phái nào. Ông
chủ trương tu đạo phải bỏ hết danh lợi, phải như Nhân
Vương Bất Động Phật có một tâm kiên quyết, coi trọng
vấn đề sanh tử, phải tự mình thể hội xả thân cứu người
thì việc tu hành mới được viên mãn. Ông mất năm 77 tuổi.
Trước khi mất, một ông tăng hỏi ông :
-Đại
phu nói mạch thầy đã yếu, hiện thầy thấy sao ?
-Ông
đừng lo ! 30 năm trước tôi đã chết rồi.
(Danh
Thiền Bách Giảng)
Chánh
Tam cả đời chuyên dạy đệ tử phải coi trọng vấn đề
tử vong.
1952.-
Già rồi còn cầu Đạo.
Hoà
thượng Quan Sơn 51 tuổi nghe tiếng Tông Phong Diệu Siêu ở
Đại Đức Tự bèn lại tham học. Lúc đó Tông Phong chỉ mới
46 tuổi. Người tu đạo vì lòng cầu Đạo không kể tuổi
tác. Về sau Quan Sơn bái Tông Phong làm thầy, ở lại 3 năm
tu học, sau được Tông Phong ấn khả. Quan Sơn ngộ đạo rồi
đột nhiên không thấy tông tích đâu cả. Có người đồn
ông trở thành khất cái. Khi Tông Phong mất, triều đình cho
người tìm kiếm Quan Sơn để kế thừa tông pháp. Sau nhiều
lần từ chối không được Quan Sơn đành phải trụ trì Diệu
Tâm Tự. Có ông tăng hỏi :
-Con
muốn hỏi về việc lớn sanh tử, xin thầy chỉ dạy.
-Nơi
đây không có sanh tử.
Nói
rồi giơ gậy đánh đuổi ông tăng đó ra khỏi cửa.
Năm
84 tuổi, một hôm ông bảo đệ tử là Thọ Ông :
-Thọ
Ông ! Hôm nay tôi muốn ra ngoài.
Ông
ra ngoài đến vùng phụ cận Phong Thuỷ Tuyền đứng dưới
một gốc thông mà mất.
(Danh
Thiền Bách Giảng)
Câu
nơi đây không có sanh tử là nói thiền sư đã vượt qua sanh
tử rồi, không để vào mắt.
1953.-
Hồ Đồ gập Đạt Ma.
Có
ông tăng hỏi Tuyết Phong Nghĩa Tồn :
-Mắt
con vốn chính, gập thầy rồi trở thành tà phải làm sao ?
-Hồ
Đồ lại gập Đạt Ma.
-Mắt
con ở đâu ?
-Dù
ông có đánh mất con mắt hay tìm lại được thì cũng chẳng
liên quan gì đến tôi.
(Tứ
Lý Thiền)
Con
mắt là chỉ sự nhận thức. Có nhiều người không có đầu
óc, toàn trông cậy vào người khác. Cũng có người có đầu
óc nhưng chỉ làm được nửa ngày là lại bị người khác
đoạt mất đầu, ông có thấy thế không ? Điều cốt yếu
là phải nhận thức chính tâm mình. Đó là ông, không phải
là người khác.
1954.-
Ở bên bờ sông mà chết khát.
Tuyết
Phong Nghĩa Tồn thượng đường nói :
-Có
người ngồi bên mâm cơm mà chết đói, có người bên bờ
sông mà chết khát.
(Tứ
Lý Thiền)
Có
nhiều người sống trong ánh sáng của chân lý mà không thấy
ánh sáng. Có nhiều người không biết cách sinh hoạt nên bị
sinh hoạt đào thải.
1955.-
Tổ ý và giáo ý.
Có
ông tăng hỏi Tuyết Phong Nghĩa Tồn :
-Tổ
ý và giáo ý là cùng hay là khác ?
-Sấm
nổ vang trời động đất nhưng người ở trong phòng không
nghe được. Ông đi hành cước vì chuyện gì ?
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông đối với các giáo phái khác của Phật giáo dĩ nhiên
có nhiều mâu thuẫn. Tuyết Phong chỉ trích những người chấp
vào giáo điều mất cả trí phán đoán, giống như sấm nổ
mà không nghe được. Đó cũng là nói người học Phật nên
học theo Phật hay là theo giáo điều ?
1956.-
Dao phát ra tiếng.
Dược
Sơn Duy Nghiễm và Vân Nham Đàm Thạnh cùng đi chơi núi. Dao
đeo ở lưng Dược Sơn theo nhịp đi phát ra tiếng. Vân Nham
hỏi :
-Cái
gì gây ra tiếng đó ?
Dược
Sơn rút dao ra khỏi vỏ, làm bộ chém.
(Tứ
Lý Thiền)
Động
Sơn Lương Giới phê bình công án này :
-Các
ông có thấy Dược Sơn tổ sư rút dao ra muốn chém là vì
“cái đó” không ? Các ông phải hiểu rõ chuyện này, phải
thể hội ý này mới được.
1957.-
Toán mạng.
Dược
Sơn Duy Nghiễm hỏi một ông tăng :
-Nghe
nói ông biết toán mạng có phải không ?
-Không
dám.
-Ông
thử toán mạng cho tôi coi.
Ông
tăng không trả lời được.
(Tứ
Lý Thiền)
Mạng
vận là mối quan hệ giữa “ngã” và ngoại cảnh theo thời
gian. Cảnh giới của các thiền sư vượt lên thời gian và
mối quan hệ này, nên làm sao mà toán mạng được ?
1958.-
Chẳng sợ đường trơn.
Mã
Tổ Đạo Nhất hỏi Đơn Hà Thiên Nhiên :
-Ông
từ đâu tới ?
-Con
từ Thạch Đầu lại.
-Đường
Thạch Đầu trơn lắm, ông có bị té không ?
-Nếu
bị té thì con đã chẳng tới được đây.
(Tứ
Lý Thiền)
Đường
hiểm có người không dám đi, người đi được rất hiếm,
người đi được và trở về bình yên lại càng hiếm hơn.
1959.-
Xúc Mục Bồ Đề.
Thạch
Sương Khánh Chư rời khỏi Quy Sơn đến Đạo Ngô Tông Trí
tham học. Ông hỏi Đạo Ngô :
-Xin
hỏi thầy phải làm sao để đạt tới cảnh giới hễ mắt
chạm tới đâu thì đó đều là trí huệ bồ đề ?
Đạo
Ngô không thèm để ý đến ông, gọi :
-Tiểu
sa di.
-Dạ
!
-Chú
đi đổ thêm nước vào tịnh bình.
Rất
lâu Đạo Ngô mới hỏi lại Thạch Sương :
-Ông
vừa hỏi gì ?
Thạch
Sương vừa định hỏi lại thì Đạo Ngô bèn bỏ ra đi. Thạch
Sương có chút tỉnh ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Đạo
Ngô không dùng lời nói, chỉ hiện thân thuyết pháp, dùng
hành vi cử chỉ khiến Khánh Chư mắt chạm tới đâu thì đó
là Bồ Đề, là Đạo.
1960.-
Không nói cũng đánh.
Đức
Sơn Tuyên Giám trong một pháp hội nói :
-Đối
với Phật pháp mà nói, các ông muốn hỏi là sai, còn như
không hỏi thì dĩ nhiên là đã sai rồi.
Lúc
đó có một ông tăng bước ra lạy, Đức Sơn bèn đánh. Ông
tăng này thưa :
-Con
vừa mới lạy, chưa nói gì cả, sao thầy lại đánh ?
-Nếu
đợi ông mở miệng là đã sai lầm rồi, thì còn làm gì được
nữa.
(Tứ
Lý Thiền)
Đối
với Thiền nghĩ về nó không đúng. Không nghĩ về nó cũng
không đúng, phản đối cũng không đúng. Nếu các ông không
có đột phá mâu thuẫn này thì mới lãnh hội được diệu
thú. Cũng giống như qua sông đứng ở bờ bên này không được
phải lên thuyền từ từ mà qua, nhưng Thiền tông thì nói
bờ bên này cũng lại là bờ bên kia.
1961.-
Nơi đây không có chủ khách.
Có
ông tăng hỏi Giáp Sơn Thiện Hội :
-Con
phải làm sao mới có thể thành Phật ?
-Nơi
đây tôi không có quan hệ chủ khách.
-Vậy
bình thường thầy không giao tiếp với người nào sao ?
-Sao
lại không ? Bồ Tát Văn Thù xách nước cho tôi, Bồ Tát Phổ
Hiền hái hoa cho tôi, chỉ là họ chưa trở lại đây thôi.
(Tứ
Lý Thiền)
Phàm
thánh chỉ là tương đối, hỗ tương làm chủ khách. Không
có phàm thì không có Phật, không có Phật thì không có phàm.
Nếu đã không có chủ khách thì làm gì có Phật để nói
? Tôi là Bồ Tát, Bồ Tát là tôi do đó xách nước, hái hoa
đều là tôi làm.
1962.-
Ba năm không ăn.
Có
ông tăng hỏi Giáp Sơn Thiện Hội :
-Lịch
đại tổ sư đều giảng tổ ý, giáo ý, hòa thượng vì sao
lại nói không ?
-Bất
kể là 3 năm ông có ăn cơm hay không, nhưng hiện giờ ông
có đói bụng đâu ?
-Tuy
con không đói bụng nhưng sao con vẫn chưa hiểu
đạo lý này ?
-Đó
là vì ông cầu đạo, cầu ngộ, tự mình bị mê.
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông không đẩy vấn đề về quá khứ hay vị lai mà giải
quyết ngay trong hiện tại. Mê là chìm đắm trong quá khứ
hay vị lai, ngộ là hiểu rành rọt ở hiện tại.
1963.-
Cha mẹ ông ở dưới đám cỏ
rậm.
Có
ông tăng hỏi Thạch Thất Thiện Đạo :
-Thầy
có tới Ngũ Đài Sơn không ?
-Tôi
có tới.
-Thầy
có gập Bồ Tát Văn Thù không ?
-Tôi
có gập.
Ông
tăng rất khích động hỏi :
-Bồ
Tát Văn Thù nói gì với thầy ? Có dạy phép kỳ diệu gì
không ?
-Bồ
Tát Văn Thù bảo tôi : Cha mẹ ông đều nằm ở dưới đám
cỏ rậm.
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông vốn phản đối thần kỳ, nhận rằng đạo là bình thường.
Vì vậy đối với Phật, Bồ Tát đều đem tâm bình thường
mà đối đãi, không chút tham luyến nào . (Xem thêm công án
1201)
1964.-
Mắt không chứa bột vàng.
La
Hán Quế Khâm hỏi một ông tăng mới đến :
-Ông
từ đâu tới ?
-Tôi
từ phương Nam lại.
Huyền
Sa Sư Bị (sư phụ của La Hán Quế Khâm) hỏi :
-Ở
đó các lão hòa thượng dạy đại chúng ra sao ?
-Họ
dạy rằng : “Bột vàng tuy quý nhưng vào mắt thì sanh bệnh.
Quế
Khâm bảo :
-Chưa
chắc, cả ngọn núi Tu Di chẳng ở trong mắt ông sao ?
(Tứ
Lý Thiền)
Tâm
chúng ta không có gì cả thì có thể chứa đựng tất cả
mọi vật, điều đáng chú ý là đừng đứng ở một mặt.
Nói có là một mặt, nói không lại là một mặt khác. Nuốt
trọn vũ trụ cố nhiên là được chân lý, nhưng nếu chấp
vào chân lý thì chân lý sẽ trở thành một cái bao. Cảnh
giới Thiền khiến người ta khó lòng nắm bắt . (Xem thêm
công án 483)
1965.-
Một câu của La Hán.
Có
ông tăng hỏi La Hán Quế Khâm :
-Thế
nào là một câu của La Hán ? (Làm sao dùng một câu nói có
thể diễn tả toàn bộ lão sư ?)
-Nếu
tôi nói ra thì đã thành 2 câu rồi . (Cái “ngã” biểu thị
và cái “ngã” bản thân chẳng phải là 2 đó sao ?)
(Tứ
Lý Thiền)
Hình
tôi trong gương đối với tôi không khác nhưng không phải
là tôi, bóng trăng dưới nước không phải là mặt trăng trên
trời.
(Xem
thêm công án 257)
1966.-
Không lìa phòng này.
Đạo
Ngô Tông Trí tham học với Dược Sơn Duy Nghiễm, được pháp
rồi định đi. Một hôm Dược Sơn hỏi :
-Ông
định đi đâu ?
-Con
định đi chơi núi.
-Ông
không được rời phòng này, hãy trả lời mau.
-Con
giống như con quạ đầu bạc trắng như tuyết trên núi, như
cá lội tung tăng dưới suối.
(Tứ
Lý Thiền)
Không
rời phòng này là không ly khai tự kỷ. Cái gì là tự kỷ
của Đạo Ngô ? là quạ trên núi ? là cá trong suối ? Đương
nhiên còn nhiều sự vật khác nữa. Bất kể là trời, người
hợp nhất hoặc thiên địa vạn vật nhất thể, lìa khỏi
cảnh giới mà Đạo Ngô đã nói thì còn cảnh giới nào nữa
không ? (Xem thêm công án 1269)
1967.-
Tay không đến, tay không về.
Khi
Tuyết Phong Nghĩa Tồn ở Phúc Châu khai đường thuyết pháp,
có một ông tăng hỏi :
-Khi
trước thầy ở nơi Đức Sơn nhận được pháp gì mà về
?
-Tôi
tay không đến, về tay không.
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông nhận định rằng : Đạo sản sanh ra mọi sự mọi vật,
Đạo vốn là không, Tâm và Đạo cũng là một. Đối với
một vấn đề nếu không hiểu tâm cũng không thiếu gì, nếu
hiểu tâm cũng không thêm được một cái gì. Do đó Tuyết
Phong nói :”Tôi đến tay không, về tay không”. (Xem thêm công
án 760)
1968.-
Thạch Đầu rút dao.
Thạch
Thất Thiện Đạo khi tham học với Thạch Đầu Hi Thiên, một
hôm theo Thạch Đầu lên núi chơi, Thạch Đầu bảo :
-Ông
hãy chặt cái cây đằng trước che mất thị nhãn của chúng
ta.
Thạch
Đầu rút dao mang theo hướng mũi dao về phía Thạch Thất.
-Thiền
sư sao đưa con đầu này, đầu kia chứ !
-Ông
dùng đầu kia làm gì ?
Thạch
Thất hoát nhiên đại ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Các
vị thiền sư cao minh, nhất cử nhất động đều hàm chứa
thiền cơ. Người bình thường quen dùng đầu kia (cán dao),
không biết đến đầu này (lưỡi dao), chỉ biết khách thể
mà không biết đến chủ thể, thường bị sắc, thanh, hương
v . v. dẫn dắt đi mà sinh ra vui, buồn, khổ v . v . làm
sao có thể làm chủ được vui buồn ? Hãy thử bỏ đầu kia
xuống và dùng thử đầu này.
(Xem
thêm công án 1013)
1969.-
Ra cửa liền là cỏ.
Có
ông tăng đem lời của Động Sơn “Làm sao đi tới nơi vạn
dậm không tấc cỏ ?” thuật lại cho Thạch Sương Khánh Chư
nghe. Thạch Sương bảo :
-Ra
cửa liền là cỏ.
(Tứ
Lý Thiền)
Cỏ
dụ cho vọng niệm, phiền não. Chúng ta làm sao trong hoàn cảnh
phức tạp không khởi vọng niệm, phiền não ? Câu trả lời
của Thạch Sương là không trốn tránh hoàn cảnh phức tạp
gây ra vọng niệm, phiền não, mà là trong hoàn cảnh phức
tạp không khởi vọng niệm phiền não. (Xem thêm công án 668)
1970.-
Cái này là cái gì.
Thạch
sương Khánh Chư khi mới tham học với Quy Sơn Linh Hựu giữ
chức Thủ kho. Một hôm đang đong gạo, Quy Sơn đến coi bảo
:
-Ông
đừng làm hao tổn gạo cúng dường của thí chủ.
-Con
biết rồi, không dám làm hao đâu .
Quy
Sơn nhặt một hạt gạo vương trên đất, đưa ra hỏi :
-Ông
bảo không làm hao, vậy cái này là cái gì ?
Thạch
Sương im, không trả lời được.
(Tứ
Lý Thiền)
Công
án này biểu thị đối với một sự, một vật phải hết
sức trân trọng, nhưng điểm chính là câu hỏi là cái gì
? Đối với bất cứ vật gì, sự gì đều có mối liên hệ
“vật-ngã”, là cái gì ? là ngã ? là vật ? là phi ngã ?
phi vật ? Trong đó có linh cảm của Thiền.
(Xem
thêm công án 1042)
1971.-
Quán Âm ngàn mắt.
Đạo
Ngô hỏi Vân Nham :
-Quán
Âm ngàn mắt, ngàn tay ông coi mắt nào là chánh ?
-Thì
cũng như một người ngủ, đèn tắt lấy tay sờ cái gối
đầu.
-Tôi
rõ ý ông rồi.
-Còn
sư huynh thì sao ?
-Lúc
đó, người ấy toàn thân đều là mắt.
(Tứ
Lý Thiền)
Trong
sinh hoạt, trong công tác thứ nhất không nên phàn nàn điều
kiện ngoại cảnh, thứ 2 không nhận rằng mình không có năng
lực. Không biết rằng nội tại và ngoại tại là một thể.
Không có đèn thì dùng tay sờ, điều cốt yếu là làm sao
phát huy được tiềm năng để khắc phục khó khăn bên ngoài.
(Xem
thêm công án 185)
1972.-
Học được pháp nào ?
Đầu
Tử Đại Đồng hỏi Thúy Vi Vô Học :
-Con
không biết nhị tổ khi gập tổ Đạt Ma học được pháp
nào ?
Thúy
Vi hỏi ngược lại :
-Nay
ông gập tôi, ông học được pháp nào ?
Đầu
Tử ngay đó lãnh ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Pháp
vốn không pháp. Phật pháp chân chánh không có nội dung nào
cả, đồng thời lại bao hàm nội dung của vũ trụ. Nhị tổ
gập tổ Đạt Ma chả nhận được pháp nào cả, nhưng lãnh
ngộ được vô thượng pháp. Công án này diễn tả pháp không
có pháp cố định, sau đó sẽ hiểu phi pháp. Các ông có nghĩ
tới pháp không pháp chăng ?
1973.-
Long Thọ.
Long
Thọ là tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ. Có một lần
tổ thứ 13 là Ca Tì Ma La đến thăm Long Vương và được tặng
một báu vật. Long Thọ hỏi :
-Báu
vật này quý nhất thế gian, nó hữu hình hay vô hình ?
-Ông
chỉ hiểu hữu hình và vô hình chứ ông không hiểu báu vật
này không hữu hình cũng không vô hình và báu vật này cũng
không phải là báu vật.
Nghe
lời này Long Thọ đại ngộ.
(Zen
Light)
Công
án này đề cập tới tự tánh. Đức Phật có kể một câu
chuyện 2 người bạn gập nhau ở một quán trọ : một người
là phú ông, một người nghèo nàn. Phú ông muốn cho bạn một
sự kinh ngạc, nửa đêm ông lấy ra một viên ngọc khâu vào
bâu áo của người bạn nghèo, định bụng sáng ra sẽ cho
bạn biết. Sáng hôm sau khi phú ông tỉnh dậy thì người bạn
nghèo đã đi rồi. Ông cũng lên đường đi về một hướng
khác. Ít lâu sau người bạn nghèo gập nhiều khó khăn, có
đêm đi ngủ mà bụng đói cồn cào, ông ta chỉ ao ước có
một chút gì để đút vào bụng. Nhiều năm trôi qua, tình
cờ 2 người bạn lại gập lại nhau. Phú ông bèn kể cho bạn
biết mình đã làm gì đêm ấy. Người bạn nghèo ngạc nhiên,
và khi rạch bâu áo ra ông ta mừng rỡ tìm thấy viên ngọc.
Ông ta mang viên ngọc quý này trải qua bao ngày đói khổ và
thất vọng. Chúng ta cũng vậy, không cần phải ước một
điều gì vì điều ước đã được thực hiện. Viên ngọc
chính là chân ngã đã có sẵn trong ta.
1974.-
Bỏ đi thì không tốt.
Đạo
Ngô Tông Trí sắp viên tịch bảo chúng đệ tử :
-Trong
tâm tôi có một vật thường gây ra bệnh làm tôi không được
thoải mái. Có người nào có thể trừ nó đi cho tôi không
?
Thạch
Sương (đệ tử của Đạo Ngô) thủ tọa thưa :
-Tâm
và vật trong tâm sư phụ đều không tốt, nhưng nếu trừ
chúng đi thì cũng không tốt.
-Kiến
giải của ông đã vượt quá người thường. Lành thay ! Lành
thay !
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông nhận rằng vọng tưởng là không tốt, nhưng có ý tưởng
trừ vọng tưởng thì ý niệm đó cũng là vọng tưởng nốt,
bởi vì đối với Thiền tông thì thiện và ác là một. Đối
diện với thiện hoặc ác tâm ta không động, cứ để tùy
duyên thì mới được tự do chân chánh. Nếu thấy thiện thì
mừng, thấy ác thì giận : đó không phải là cảnh giới thiền.
Nhưng thấy thiện không mừng, thấy ác không giận cũng không
phải là cảnh giới thiền. Cảnh giới thiền là phải vượt
lên cả hai loại tình huống này.
1975.-
Bất sinh bất diệt.
Vân
Nham Đàm Thạnh có lần bị bệnh rất nghiêm trọng. Đạo
Ngô Tông Trí đến thăm, hỏi :
-Nếu
như lão đệ bỏ cái túi da thối này, về sau chúng ta sẽ
gập nhau ở đâu ?
-Chúng
ta sẽ gập nhau ở chỗ không sanh, không diệt.
-Câu
đáp của lão đệ chưa được đầy đủ lắm, tại sao không
nói chúng ta sẽ gập nhau tại nơi phi bất sanh, bất diệt
? Hơn nữa, chúng ta đâu cần gập nhau ?
(Tứ
Lý Thiền)
Sản
vật do vũ trụ sanh ra sẽ quay trở về vũ trụ. Ở hiện
tượng giới thấy có quá trình sanh diệt, nhưng ở bản thân
vũ trụ mà coi thì chỉ là một thể hai mặt. Đối với vũ
trụ thì không có sanh diệt.
(Xem
thêm công án 234)
1976.-
Siêu Phật, vượt tổ.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Xin
hỏi thầy thế nào là cảnh giới siêu Phật, vượt tổ ?
-Bánh
hồ.
(Tứ
Lý Thiền)
Cảnh
giới cao siêu nhất lại là cảnh giới đơn giản nhất, cảnh
giới xa xôi nhất lại là cảnh giới gần ngay bên cạnh.
(Xem
thêm công án 160)
1977.-
Phật cũng là bụi.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Con
đang quét bụi bỗng gập Phật thì phải làm sao ?
-Thì
ông coi Phật cũng là bụi, phải quét đi.
(Tứ
Lý Thiền)
Bụi
chỉ cho phiền não, đang quét bụi là chỉ đang tu hành. Kinh
Kim Cương nói : Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu
ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Khi ông
đang ở giai đoạn “kiến” là có một loại nhận thức
nào đó thì theo Thiền tông tất cả đều là bụi, là phiền
não, là cái thấy điên đảo phải quét đi hết. (Xem
thêm công án 1247)
1978.-
Nhất đại tạng giáo.
Một
hôm đại chúng đều đi phổ thỉnh kiếm củi. Vân Môn Văn
Yển giơ 1 thanh củi lên rồi ném xuống đất, bảo :
-Toàn
bộ kinh Phật chỉ là nói đạo lý này !
(Tứ
Lý Thiền)
Toàn
bộ giáo điển, sách vở của tất cả các thư viện trên
toàn thế giới nói về vấn đề gì ? Tất cả đều nói về
con người. Dù nói trời nói đất thì cũng chỉ để chứng
minh con người là thế nào.
1979.-
Phật tánh của hòa thượng.
Có
ông tăng hỏi Thành Đô Ứng Thiên :
-Ai
cũng có Phật tánh, còn Phật tánh của hòa thượng thì thế
nào ?
-Ông
gọi cái gì là Phật tánh ?
-Vậy
là hòa thượng không có Phật tánh ?
-Chính
là vậy, tôi khoái quá.
(Tứ
Lý Thiền)
Kinh
Kim Cương nói Phật pháp tức phi Phật pháp thì mới là Phật
pháp. Chân lý là để cho mọi người được tự do chứ không
phải là để bó buộc mọi người.
1980.-
Như mọt gập gỗ.
Quy
Sơn Linh Hựu cùng Bách Trượng lên núi lao động. Bách Trượng
hỏi :
-Ông
có mang theo lửa không ?
-Dạ
! Có mang theo.
-Ông
để ở đâu ?
Quy
Sơn nhặt một thanh củi lên thổi phù phù vào đó, rồi đưa
cho Bách Trượng. Bách Trượng bảo :
-Giống
như mọt gập gỗ.
(Tứ
Lý Thiền)
Những
lời nói và cử chỉ của cặp tình nhân chỉ có họ mới
hiểu, còn người ngoài thì vô phương.
1981.-
Đã lâu không mưa.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Xin
hỏi thiền sư thế nào là Ý tổ sư từ Tây sang ?
-Giống
như trời khô ráo, đã lâu không mưa.
(Tứ
Lý Thiền)
Đã
lâu không mưa, cây cỏ đều khô héo. Chúng ta phải quét đi
những tạp thảo, cành khô và ngay cả hoa còn tươi. Như vậy
thì còn gì ? Phần lớn cho rằng cỏ độc bỏ đi là phải
rồi, nhưng hoa tươi thì nên để lại. Nhưng theo Thiền tông
nếu đã trừ thì phải trừ hết thì mới có thể thấy được
khuôn mặt xưa nay. Cho nên đến cuối cùng Phật cũng phải
trừ nốt.
1982.-
Mặt trời chiếu sáng núi.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Thế
nào là ý Tổ sư từ Tây sang ?
-Ông
có thấy mặt trời chiếu sáng ngọn núi kia không ?
(Tứ
Lý Thiền)
Vũ
trụ vạn vật tồn tại một cách khách quan, chẳng vì những
nhận thức chủ quan của chúng ta mà biến đổi. Mục đích
của Thiền là từ nhận thức của chúng ta hoàn trả lại
bản tướng của vũ trụ. Bản thân của vũ trụ không vì
những nhận thức này mà thay đổi. Mặt trời chiếu sáng
núi thật rành rọt, còn chưa đủ rõ sao, mà còn hỏi ?
1983.-
Gia phong của Vân Môn.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Thế
nào là gia phong của hòa thượng ?
-Nếu
có vị tú tài nào đến thì ông báo cho tôi biết.
(Tứ
Lý Thiền)
Để
giải thích cho một người thế nào là hướng Nam thay vì dài
dòng kể lể chúng ta chỉ cho người ấy hướng Bắc đối
nghịch thì người ấy hiểu ngay. Vậy Vân Môn chỉ Nam hay
chỉ Bắc ?
(Xem
thêm công án 657)
1984.-
Que cứt khô.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Phật
là thế nào ?
-Que
cứt khô.
(Tứ
Lý Thiền)
Que
cứt khô (dùng như giấy vệ sinh ngày nay) chắc chẳng ai thèm,
do đó không khởi nên sự tranh chấp để chiếm hữu. Nếu
có thể dùng cái tâm này để đối đãi với vạn vật thì
đó chẳng phải là tâm Bồ Tát sao ? (Xem thêm công án 199)
1985.-
Ngày nào cũng là ngày đẹp trời.
Vân
Môn Văn Yển bảo đại chúng :
-Trước
ngày 15 tôi không hỏi các ông, còn sau ngày 15 ai trả lời
được ?
Mọi
người không trả lời được, do đó Vân Môn tự đáp :
-Ngày
nào cũng là ngày đẹp trời.
(Tứ
Lý Thiền)
Chuyện
lúc trước không ai có thể làm được, chuyện lúc sau cũng
không ai có thể làm được, chuyện có thể làm được là
chính lúc này. (Xem thêm công án 982)
1986.-
Người không mắt.
Có
người hỏi Đầu Tử Đại Đồng :
-Người
không có mắt làm sao bước tới ?
-Ông
ta đi khắp mười phương.
-Đã
không có mắt làm sao đi khắp mười phương được ?
-Lại
còn cần có mắt sao ?
(Tứ
Lý Thiền)
Chân
lý tuyệt đối phải dùng phương pháp tuyệt đối, dùng xe
hơi không thể chu du khắp thái dương hệ.
1987.-
Ông muốn bị tạt một chậu
nước bẩn nữa sao ?
Đầu
Tử Đại Đồng hỏi Thúy Vi Vô Học :
-Ý
tổ sư từ Tây sang là sao ? Xin hòa thượng giảng cho hậu
nhân.
Thúy
Vi đang đi, dừng bước bất động. Đầu Tử nhắc lại :
-Xin
hòa thượng nói cho con rõ.
-Chẳng
lẽ tôi lại tạt cho ông một chậu nước bẩn nữa ?
Đầu
Tử ngay đó lãnh ngộ, liền lạy tạ.
(Tứ
Lý Thiền)
Ý
tổ sư là rượu ngon, cũng là nước bẩn, là Thiền cơ thâm
thúy cũng là vô vị bình thường. Vì vậy có vị thiền sư
đã nói tổ sư từ Tây sang chẳng có ý gì cả, nhưng lãnh
hội được ý này rất khó vậy.
1988.-
Tượng Phật chưa đúc thành.
Có
ông tăng hỏi Đầu Tử Đại Đồng :
-Khi
tượng Phật chưa đúc thành, tượng Phật ở đâu ?
-Ông
đừng làm gì cả.
(Tứ
Lý Thiền)
Ý
ông tăng là khi đang tu hành thì tự tánh ở đâu ? Đầu Tử
bảo không làm gì cả, tự tánh chính ở nơi đó.
1989.-
Trời tối quá.
Đức
Sơn tham phỏng Long Đàm tới khuya. Long Đàm dục Đức Sơn
đi về, Đức Sơn bước ra thấy trời tối bèn quay lại thưa
:
-Trời
tối quá !
Long
Đàm thắp đèn đưa cho Đức Sơn, Đức Sơn vừa giơ tay nhận,
Long Đàm bèn thổi đèn tắt ngóm. Đức Sơn hoát nhiên đại
ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Trong
sinh hoạt hàng ngày có thể từ những sự việc bình thường
mà có thể thân thiết lãnh hội thiền ý, thì sự lãnh hội
này còn thật hơn là do sự suy luận. Cũng như người chỉ
học lý thuyết bơi lội chưa chắc đã dám xuống sông bơi
lội như những đứa trẻ nhà quê bơi lội chỉ nhờ kinh nghiệm.
1990.-
Phương tiện của cổ nhân.
Văn
Ích thiền sư được tăng tục suy cử làm phương trượng
Cửu Giang Sùng Thọ Viện. Khi khai đường thuyết pháp, Thủ
tọa thưa :
-Tăng,
tục mọi người đều đến cả rồi, thỉnh phương trượng
thuyết pháp cho đại chúng.
Văn
Ích đứng dậy im lặng hồi lâu :
-Đại
chúng đã tụ tập nơi đây, tôi không thể không nói vài lời
diễn thị phương tiện truyền giáo của lịch đại chư tổ
sư, đại chúng hãy lưu tâm.
Nói
rồi rời khỏi pháp đường.
(Tứ
Lý Thiền)
Vạn
sự, vạn vật đều hàm chứa ảo bí của vũ trụ. Ngôn ngữ
chỉ là phương tiện để truyền thông của con người. Sự
vật có thể đi vào ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ không tiến
vào được sự vật.
1991.-
Một giọt nước Tào Khê
Một
hôm Pháp Nhãn thượng đường thuyết pháp, có một ông tăng
bước ra hỏi:
-Xin
hỏi hòa thượng thế nào là một giọt nuớc Tào Khê?
(Hòa
thượng có thể dùng một tỷ dụ đơn giản mà diễn tả
toàn bộ chân lý của phật pháp không?)
-Là
một giọt nước Tào Khê!
Ông
tăng không hiểu thối lui, Đức Thiệu đang ngồi ở đấy
bỗng nhiên đại ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Cổ
triết có nói một giọt nước phản ánh cả Thái Dương.
Câu nói này và tắc công án trên là dị khúc đồng công.
Chỗ bất đồng là câu nói trên khiến người ta có thể dùng
trí mà lý giải nhưng ở thiền tông thì phải dùng tất cả
tinh thần và sinh mạng để lãnh hội. Đây là phương
pháp giáo dục của Pháp Nhãn Tông, tại cùng một câu nói
lật qua lật lại tìm ra cái ảo diệu vô cùng.
(xem
thêm công án 672)
1992.-
Núi Tu Di
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển:
-Khi
tu hành đạt tới cảnh giới không khởi một niệm thì có
sai không ?
-Núi
Tu Di. (sai, lớn như núi Tu Di).
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông cho rằng không khởi một niệm là đại bệnh. Bình
thường người đang bị phiền não thì cần được giải thoát,
nhưng người cứ trú ở trong cảnh thanh tịnh thiếu động
lực hướng thượng. Phiền não và trí tuệ không thể
phân ra. Không khởi một niệm là tuyệt duyên phiền não
nhưng đồng thời cũng tuyệt duyên trí tuệ, đánh mất trách
nhiệm đối với thế giới, tâm như gỗ đá thì có ích lợi
gì?
1993.-
Dùng lưỡi kiếm mà giải quyết.
Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch đang nằm nghỉ trên thiền sàng, một ông tăng
hỏi:
-Pháp
thân có thể lý giải những lời Phật nói hay không?
-Câu
hỏi này của ông tôi không trả lời được, nhưng có một
người có thể trả lời được.
-Người
ấy ở đâu?
Ngưỡng
Sơn lấy cái gối đầu đưa ra trước mặt ông tăng. Quy Sơn
(sư phụ của Ngưỡng Sơn) nghe được chuyện này, bảo:
-Gã
tiểu quỷ Huệ Tịch này đã dùng gươm báu mà biện sự.
(Tứ
Lý Thiền)
Vạn
sự, vạn vật đều hàm chứa ảo bí của vũ trụ. Ngôn
ngữ chỉ là phương tiện để truyền thông của con người.
Sự vật có thể đi vào ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ không tiến
vào được sự vật
1994.-
Huyền Sa cứu hỏa.
Có
một lần Tuyết Phong Nghĩa Tồn ở tăng đường đóng chặt
cửa trước và cửa sau. Sau đó kêu lên :
-Cứu
hỏa ! Cứu hỏa ! Mau lại cứu hỏa !
Chư
tăng không biết phải làm sao. Cửa lại đóng không làm sao
vào được. Lúc đó Huyền Sa Sư Bị bèn ném qua cửa sổ một
thanh củi. Tuyết Phong mở cửa đi ra.
(Tứ
Lý Thiền)
Đây
là một màn kịch do Tuyết Phong độc diễn. Đóng cửa là
chỉ tinh thần không ra ngoài, đốt lửa là chỉ sự quang minh
của tinh thần. Kêu cứu hỏa là để khảo nghiệm đại chúng.
Huyền Sa thêm củi vào lửa nên về sau được Tuyết Phong
truyền y bát.
(Xem
thêm công án 1007)
1995.-
Chặt giun thành hai mảnh.
Thời
mạt Đường có ông tăng hỏi Diên Khánh Pháp Đoan :
-Một
con giun bị chặt thành hai, cả hai đầu đều ngọ nguậy,
không biết Phật tánh ở đầu nào ?
Diên
Khánh dang hai tay ra.
(Tứ
Lý Thiền)
Diên
Khánh không nói mà nói. Ý ông là 2 tay tôi đang vẫy, Phật
tánh ở tay phải hay ở tay trái, hay ở giữa ? Đây là
một công án rất khéo. Về sau Động Sơn xem đoạn công án
này nói :
-Ông
tăng đặt câu hỏi không biết ở đầu nào của con giun ?
(Xem
thêm các công án 1054 và 1242)
1996.-
Ẩn thân ở sao Bắc Đẩu.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Xin
hỏi thầy làm sao có thể dùng lời mà diễn tả pháp thân
?
-Ông
hãy ẩn thân ở sao Bắc Đẩu.
(Tứ
Lý Thiền)
Pháp
thân là cảnh giới tối cao của Phật giáo, cũng gọi là Niết
Bàn, là trở về với bản nguyên của vũ trụ. Ông là vũ
trụ, vũ trụ là ông, ông có thể diễn tả ra không ? Câu
đáp của Vân Môn là dùng cách phản diện, ông có thể trốn
ở sao Bắc Đẩu chứ ? Chắc là không rồi !
1997.-
Không có pháp nào cả.
Tuyết
Phong Nghĩa Tồn hỏi Đức Sơn Tuyên Giám :
-Lịch
đại tổ sư truyền vô thượng Phật pháp, không biết con
có tư cách học không ?
Đức
Sơn nện cho ông một gậy :
-Ông
nói cái gì ?
-Con
vẫn chưa hiểu !
Ngày
hôm sau Tuyết Phong lập lại câu hỏi. Đức Sơn nói :
-Thiền
tông không dùng lời, thật không có một pháp nào truyền cho
người.
Tuyết
Phong có chút lãnh ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Chữ
“không” của Phật giáo có thể dùng lý luận mà hiểu được,
nhưng khế hợp nó với sinh hoạt hàng ngày thì rất khó. Đức
Sơn dùng gậy đánh là có mục đích gì ? Là để trừ đi
những lý luận và giáo điều đầy trong óc Tuyết Phong khiến
Tuyết Phong không hiểu được chân lý trong kinh Phật không
phải ở bên ngoài, cũng không phải ở trong kinh mà là ở
chính trong tâm mình.
1998.-
Phật giới dùng làm gì ?
Dược
Sơn hỏi Cao sa di :
-Ông
định đi đâu ?
-Con
định đi thọ giới.
-Thọ
giới để làm gì ?
-Để
miễn sanh tử.
-Có
người không thọ giới, cũng không có sanh tử để miễn,
ông có biết không ?
-Nếu
đã đạt tới cảnh giới này thì giới của Phật còn dùng
làm gì ?
Dược
Sơn bảo đại đệ tử Đạo Ngộ :
-Chớ
coi thường chú sa di thọt này, chú ta rất có khí chất.
(Tứ
Lý Thiền)
Giới
luật chỉ là phương tiện không phải là mục đích. Người
tu hành tới một thành quả nào đó sẽ có những hành vi do
nội tại chứ không phải do ngoại tại bắt buộc. Trong xã
hội có nhiều quy luật phải giữ. Có người đối với những
quy luật này thấy là mất tự do, có người lại cho là tự
do. Vậy đạo lý ở đâu ?
1999.-
Dong chiếc thuyền nhẹ tới Dương
Châu.
Có
ông tăng hỏi Tuyết Phong Nghĩa Tồn :
-Xin
hỏi thiền sư khi tu hành đạt tới cảnh giới an tĩnh, không
khởi một tạp niệm nào thì đó là đúng hay là sai ?
-Đó
là bệnh.
-Nếu
chuyển cảnh thì sao ?
-Nếu
là thế thì như lên một chiếc thuyền nhẹ, theo dòng tới
Dương Châu, có thể ngắm cảnh đẹp hai bên bờ sông một
cách thích thú.
(Tứ
Lý Thiền)
An
tĩnh là cảnh giới mà mọi người muốn đạt được. An tĩnh
là một phương diện, động cũng là một phương diện. Phải
đạt tới cảnh giới động mà không động, tĩnh mà không
tĩnh. Trong động có tĩnh, trong tĩnh có động thì mới biết
thế nào là Thiền.
(Xem
thêm công án 1992)
2000.-
Tuyết Phong sàng gạo.
Tuyết
Phong Nghĩa Tồn khi tham học với Động Sơn Lương Giới làm
phạn đầu. Có một lần đang sàng gạo. Động Sơn hỏi :
-Ông
sàng gạo bỏ cát hay sàng cát bỏ gạo ?
-Gạo
và cát đều bỏ !
(Tứ
Lý Thiền)
Thiền
tông có câu “Lâm cơ chẳng nhượng thầy”, trong thiền cảnh
thầy trò đều bình đẳng. Trong đối thoại của họ người
tuốt kiếm kẻ trương cung không ai nhường ai. Đãi gạo bỏ
cát hay đãi cát bỏ gạo ? Gạo là vật có ích có thể ăn,
cát thì không. Nhưng Tuyết Phong nói gạo và cát đều bỏ,
vật có ích và vô ích đều không bó buộc được ông. Ông
đã tới cảnh giới hữu dụng và vô dụng là một thể, là
cái mà Thiền tông gọi là diệu dụng.
(Xem
thêm công án 624)
2001.-
Hôm nay mùng ba.
Vân
Ưng Đạo Cư sắp viên tịch, hỏi thị giả :
-Hôm
nay là mùng mấy ?
-Dạ
! Mùng ba.
-Ba
mươi năm sau ông cũng nên nói như vậy !
Rứt
lời liền viên tịch.
(Tứ
Lý Thiền)
2 cộng
2 là 4, tôi ngắm hoa, nghe nhạc rất là tự nhiên không kèm
lẫn một tạp niệm nào. Đó là cái mà Thiền tông gọi là
tâm bình thường. Ông phải gìn giữ cái tâm này không thêm
mắm giặm muối gì cả. Vân Cư lúc sắp mất cũng không quên
chỉ điểm cảnh giới này cho thị giả. Không cần biết thị
giả có hiểu không, điều cần thiết là ông có hiểu không
?
2002.-
Tài khéo của Tào Sơn.
Một
ông tăng tới Tào Sơn Bản Tịch tham học, ông thưa :
-Con
có đem một khối ngọc tới, thỉnh thầy điêu khắc.
-Tôi
không khắc.
-Vì
sao thầy không khắc ?
-Để
biểu thị tài năng tuyệt vời của tôi .
(Tứ
Lý Thiền)
Giáo
dục cao minh không phải là dạy sao cho trò hiểu mà là làm
sao cho trò tự tìm hiểu. Muốn no bụng thì tự mình phải
ăn, bụng của thầy không giúp gì được cả.
2003.-
Sanh tử tới.
Có
ông tăng hỏi Vân Môn Văn Yển :
-Khi
sanh tử tới, làm sao để tránh khỏi ?
Vân
Môn dang hai tay ra :
-Ông
mang sanh tử ra trao cho tôi.
(Tứ
Lý Thiền)
Người
học Phật là để giải thoát sanh tử đạt tới tự do. Nhưng
cái tự do này làm sao có thể đạt được ? Giải thoát sanh
tử không phải là đứng ngoài sanh tử mà là trong sanh tử
đạt được giải thoát.
2004.-
Giơ lên , hạ xuống.
Vân
Môn Văn Yển hỏi một ông tăng :
-Cổ
nhân đối với ông tăng mới đến, giơ phất tử lên rồi
hạ phất tử xuống là có ý gì ?
-Khi
giơ lên ý tưởng rõ ràng, khi hạ xuống ý tưởng cũng rõ
ràng.
-Đúng
thế ! Đúng thế !
(Tứ
Lý Thiền)
Công
án này là thiền cơ rất bình thường, nhưng hàm ý sâu sa.
Thiền tông nhận rằng giơ phất tử lên, hạ phất tử xuống
vốn không có ý tưởng gì, nhưng mỗi cử động là để khảo
hạch xem học nhân phản ứng thế nào (hoặc suy nghĩ, hoặc
tảng lờ v .v .). Nếu có phản ứng thì ông đã qua được
cửa rồi.
2005.-
Cao tăng ở đâu ?
Bùi
Hưu trỏ bức tranh treo trên tường hỏi Hoàng Bá :
-Hình
ở đây còn cao tăng ở đâu ?
Hoàng
Bá gọi :
-Bùi
Hưu.
-Dạ
!
-Ông
ở đâu ?
Bùi
Hưu do đó có chỗ ngộ.
(Tứ
Lý Thiền)
Đây
là một công án rất đặc sắc, nó đề thị cho chúng ta mối
quan hệ giữa cái “ngã vật chất” và cái “ngã tinh thần”.
Trang Tử có nói :”Trong ngũ tạng, lục phủ, xương thịt,
ai là chủ nhân ? Nói lên một bậc :”Ai là chủ nhân của
tinh thần?” Chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày mọi cử động
đều không lìa “ngã”, nhưng mấy ai đã hiểu rõ cái “ngã”
này ? Hoàng Bá gọi tên Bùi Hưu khiến chân ngã của Bùi Hưu
từ trăm ngàn cái ngã mà nhẩy ra. Sự thể hội này rất linh
động, trực tiếp, mãnh liệt dùng lý luận khó mà đạt được.
2006.-
Đại dụng hiện tiền.
Vân
Môn Văn Yển trong một pháp hội bảo đại chúng :
-Khi
đại dụng hiện tiền thì không có vết tích.
(Tứ
Lý Thiền)
Chỉ
có vô không có tánh chất cố định, pháp tắc, quy luật mới
có thể biểu hiện pháp tắc, quy luật của mọi hiện tượng
trong vũ trụ. Lão Tử nói: Vạn vật trong trời đất sinh ra
ở Hữu, Hữu sinh ra ở Vô. Thích Ca Mâu Ni thì nói :Pháp vốn
là pháp không pháp. Đều là chỉ đạo lý này. Nếu có một
pháp tắc, quy luật có thể tìm ra được thì đó là cục
bộ, giới hạn, không phải là đại dụng của vũ trụ.
2007.-
Chốt tre.
Thù
Du là đệ tử của Nam Tuyền Phổ Nguyện, một lần khai đường
thuyết pháp giơ một cái chốt tre lên hỏi đại chúng :
-Có
ai trong các ông có thể đóng cái chốt tre này vào hư không
chăng ?
Một
ông tăng bước ra thưa :
-Hư
không
cũng là cái chốt tre.
(Tứ
Lý Thiền)
Tư
tưởng con người là hư không, nếu không làm sao dung nạp
được vạn sự, vạn vật chứ ? Tư tưởng là chốt tre nếu
không làm sao có thể vào vạn vật ? Nhưng tư tưởng cũng
là một con dao có thể giải phẫu vạn vật.
2008.-
Một câu của Dược Sơn.
Dược
Sơn Duy Nghiễm có một lần thượng đường bảo đại chúng
:
-Tôi
có một bí quyết thành Phật chưa bảo cho ai biết.
Đạo
Ngô Tòng Trí bước ra :
-Sau
đó đã nói rồi.
Một
ông tăng hỏi :
-Bí
quyết của Dược Sơn làm sao nói ?
-Tôi
không dùng ngôn ngữ để nói cho ông nghe.
Đạo
Ngô hỏi :
-Sư
phụ đã chẳng dùng ngôn ngữ nói ra rồi đó sao ?
(Tứ
Lý Thiền)
Nói
là dùng lời, không nói là không dùng lời. Có khi chúng ta
nghe lời nói thuyết minh mà hiểu đạo lý, có khi chúng ta
không nghe lời nói mà cũng hiểu đạo lý. Sự hiện diện
của vạn sự, vạn vật chẳng là đang thuyết minh cho chúng
ta sự tồn tại của chúng sao ?
2009.-
Mười phương thế giới là tâm
ông.
Có
ông tăng hỏi Trường Sa Cảnh Sầm :
-Tâm
con như thế nào ?
-Tâm
ông là mười phương thế giới.
-Nếu
tâm con rộng lớn như thế thì thân con ở đâu ?
-Ở
nơi thân ông ở.
(Tứ
Lý Thiền)
Chúng
ta nhận thức thế giới vật chất, đồng thời cũng nhận
thức thế giới tinh thần. Có khi chúng ta thấy vật chất
là tinh thần, có khi thấy tinh thần là vật chất. Nhưng đây
chỉ là sự dỡn chơi của nh