THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 

 
.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
Dịch gỉa: Dương Đình Hỷ
Phước Quế Publications, Arlington, USA 2003
Mục Lục.
Quyển Thượng.
Quyển Trung.
Quyển Hạ.
Quyển Chung.
NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN
禪 之 花
QUYỂN CHUNG 

1750.- Thấy  núi  xanh  đi.

Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Khi thấy núi xanh thường đi, ai biết trong đêm đá trắng sanh con.
Nói rồi xuống tòa giảng.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Nguyên câu nói này là của Phù Dung Đạo Giai trong Phổ Đăng Lục : Núi Xanh thường đi, ban đêm thạch nữ sanh con. Trong tắc này Đạo Nguyên đổi thành đá trắng. Trong thế giới tuyệt đối , núi xanh và chúng ta là một, siêu việt hết tất cả tư lượng.

1751.- Ca  Diếp  đạp  bùn.

Sư thượng đường kể :
-Xưa, khi ngài Ca Diếp đạp bùn để xây tường, một sa di hỏi :
-Tôn giả, sao lại làm việc này ?
-Nếu tôi không làm thì ai làm cho tôi ?
Đạo Nguyên thêm :
-Tâm như cái quạt trong tháng 12, thân như đám mây trong hang lạnh. Nếu hiểu được ý “tôi làm” trong câu nói của tôn giả thì không có nhị kiến ta người. Hành vi của tôn giả như bức tường sắt, sừng sững khiến người khó thấy.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Do công án này có thể thấy Thiền tông rất đề cao lao động. Bách Trượng cũng có nói : “Một ngày không làm, một ngày không ăn”.

1752.- Phật  tánh.

Sư thượng đường nói :
-Tôi nhớ có một ông tăng hỏi Triệu Châu như sau :
-Thế giới chưa có, tánh này đã có. Thế giới diệt rồi, tánh này không diệt. Tánh bất hoại này là gì ?
Triệu Châu đáp :
-Tứ đại, ngũ uẩn.
-Vẫn bị hoại, cái gì không hoại ?
-Tứ đại, ngũ uẩn.
Đạo Nguyên nói :
-Triệu Châu cổ Phật chỉ biết nghiêm khắc, nhưng chẳng khoan dung, còn Vĩnh Bình tôi sẽ nói : “Nước sâu thuyền cao, bùn nhiều Phật lớn”.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Tuy hình thể vô thường, theo thời gian mà tiêu diệt, nhưng Phật tánh trong chúng ta thì bất diệt.

1753.- Ngày  giỗ  Như  Tĩnh.

Ngày giỗ Như Tĩnh, Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Tôi đến Trung Quốc vào đời Tống, theo Như Tĩnh học Phật pháp như người tới Hàm Đan học đi đứng, chỉ học được mắt ngang, mũi dọc. Chớ nói Như Tĩnh dấu người học mà là Vĩnh Bình tôi lừa Như Tĩnh.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Ở đây Đạo Nguyên đề cập đến chuyện trong Thu Thủy Thiên (một thiên trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử) kể rằng người ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu đời chiến quốc, nay thuộc tỉnh Hà Bắc) đi đứng rất tao nhã, lịch sự. Người ở các nơi đến học tập, kết quả là chưa học được cách đi đứng mới mà đã quên cả cách đi đứng cũ, phải bò mà về xứ. Đạo Nguyên đưa ra tỷ dụ này để chỉ rằng ông theo Như Tĩnh, Phật pháp chưa học được tốt mà những gì tu học lúc trước đều đã quên cả.

1754.- Rửa  bát  quét  nhà.

Một ông tăng mới vào thiền viện hỏi Triệu Châu :
-Con mới vào thiền viện, xin thầy đặc biệt chỉ thị.
-Ông đã ăn sáng chưa ?
-Dạ ! Đã ăn rồi .
-Vậy sao ? Hãy đi rửa bát đi.
-Đã rửa sạch sẽ rồi.
-Vậy đi quét nhà đi.
Ông tăng lộ vẻ bất mãn :
-Chẳng lẽ ngoài rửa bát quét nhà ra thầy không còn thiền pháp nào sao ?
-Ngoài rửa bát quét nhà ra, tôi chẳng còn biết thiền pháp nào nữa.
(Tinh Vân Thiền Thoại)

Thiền không lìa sinh hoạt. Mặc áo, ăn cơm là thiền, bổ củi, xách nước là thiền. Một người không lo sinh hoạt cho tốt : bát không rửa, nhà không quét thì làm sao giải quyết được vấn đề sanh tử giải thoát ? (Xem thêm công án 1073)

1755.- Cá  nhỏ  nuốt  cá  lớn.

Đạo Nguyên thượng đường nêu công án một ông tăng hỏi Nham Đầu :
-Buồm cũ chưa treo thì thế nào ?
-Cá nhỏ nuốt cá lớn.
Nếu các ông muốn biết ý nghĩa của công án này thì hãy nghe bài kệ của Vĩnh Bình tôi :
小 魚 吞 大 魚
Tiểu ngư thôn đại ngư
和 尚 讀 儒 書
Hòa thượng độc nho thư
透 出 佛 魔 網
Thấu xuất Phật ma cương
法 塵 也 掃 除
Pháp trần dã tảo trừ.

Cá nhỏ nuốt cá lớn
Hòa thượng đọc sách Nho
Ra khỏi lưới ma, Phật
Là sạch hết bụi nhơ.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Đạo Nguyên nêu công án này để thuyết minh chân lý vượt lên, Nho, Phật, ngay cả Phật cũng không chấp.

1756.- Chưa  đủ.

Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Ngày nay trong chư vân thủy huynh đệ có ai ngộ không ?
-Có ông tăng bước ra lạy.
-Có loại người này nhưng vẫn chưa đủ.
-Chưa đủ ở chỗ nào ?
-Ông không biết sao ? Là không tin đạo. Một người chân chính ngộ đạo, tâm không phụ người, mặt không sắc thẹn.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Tin đạo và thấy đạo đồng nghĩa. Không tin đạo thì không thấy được đạo lý.

1757.- Đông  Ấn  quốc  vương.

Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Đông Ấn quốc vương mời tôn giả Bát Nhã Đa La thọ trai. Vương hỏi :
-Mọi người đều tụng kinh, thầy vì sao không tụng ?
-Bần đạo thở ra không theo chúng duyên, hít vào không ở ấm giới, thường chuyển trăm ngàn vạn ức quyển kinh.
Ai có thể nói ra đạo lý ảo diệu của tôn giả ?
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Đạo Nguyên nêu công án này để thuyết minh tụng kinh chân chính là lãnh hội đạo lý tự nhiên của trời đất.

1758.- Phật  Pháp.

Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Bỗng nghe 2 tiếng Phật pháp làm bẩn cả tai tôi, các ông chưa tới Pháp đường đã bị ăn 30 gậy rồi. Tuy là vậy, sư núi này, hôm nay cũng vì các ông mà tận tâm nói pháp.
Nói rồi Đạo nguyên hét lên một tiếng, xuống tòa giảng.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Phật pháp là chân lý tối thượng, nếu lấy đó làm đối tượng chấp trước thì chân lý không còn là chân lý nữa.

1759.- Không  từ  ngoài  tới.

Đạo Nguyên thượng đường nói :
-Không từ ngoài tới, không từ trong ra, đối mặt chỉ vẫy tay một cái mọi việc đều được giải quyết, đâu cần nhọc công truy vấn. Đó chính là trí tuệ Bát Nhã vậy.
(Đạo Nguyên Ngữ Lục)

Đây là Đạo Nguyên giảng về Phật tánh.

1760.- 500  vị  A  La  Hán.

500 vị A La Hán cùng tu với Đức Phật. Các vị này đều chứng ngũ thông, chỉ còn Lậu Tận Thông là chưa chứng thôi. Các vị này dùng trí thần thông mà quán sát chính mình thì thấy trong quá khứ hoặc giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng v . v . toàn là những đại tội. Dùng Túc Mạng thông, họ thấy kiếp này phạm tội gì, kiếp kia phạm tội gì, tội nghiệp vô lượng, vô biên. Lòng đầy mặc cảm tội lỗi, họ rất sợ hãi, cùng rủ nhau đến bạch Phật :
-Thế Tôn ! Ngài giảng rất nhiều pháp, nhưng chúng con vẫn chưa đạt được cứu cánh. Tại sao chúng con tự mình quán sát những nhân duyên trong quá khứ, nội tâm không siêu việt được mà còn phát sinh ra những cảm giác tội lỗi, sợ hãi ?
Lúc đó Văn Thù Sư Lợi đang ngồi bên Phật bèn đứng dậy, dùng kiếm  trí tuệ đến bên Phật uy hiếp. Thế Tôn nói :
-Được rồi ! hãy ngưng lại. Diễn đến đây là được rồi ! Các ông vừa thấy Văn Thù định giết ta, cũng như các ông trong quá khứ đã giết cha, hại mẹ. tất cả đều đã là quá khứ rồi. Dù là trăm ngàn năm hay vài giây thôi, quá khứ vẫn là quá khứ. Khi tâm niệm khởi, tâm này có thật không ? Có thể nắm giữ không ? Không. Tâm này là hư ảo, không thật, không nắm được, có gì mà phải sợ ?
(Công Án Thiền Cơ)

Những ai tu đến Đệ tứ thiền đều có Ngũ thần  thông, nhưng muốn đạt tới Lậu Tận thông thì phải tu được Ngã không và Pháp không. Lúc đó tất cả mọi phiền não do nội tâm, ngoại cảnh đều không làm lay động được tâm như như bất động này. Tuy những gì ta tưởng, ta thấy đều là hư ảo nhưng những tập khí khiến chúng ta vẫn cứ phiền não, cứ theo nghiệp duyên mà lưu chuyển. cho nên lý giải là một chuyện, tu chứng lại là một chuyện khác.

1761.- Bài  kệ  của Vân  Cái  Trí  Bản :

一 年 春 盡 一 年 春
Nhất niên xuân tận nhất niên xuân
野 草 山 花 幾 度 新
Dã thảo sơn hoa cơ độ tân
天 曉 不 因 鐘 鼓 動
Thiên hiểu bất nhân chung cổ động
月 明 非 爲 夜 行 人
Nguyệt minh phi vi dạ hành nhân.

Một năm xuân hết một năm xuân
Cỏ hoang, hoa núi nở mấy lần
Trời sáng chẳng do chuông, trống đánh
Trăng tỏ đâu vì dạ hành nhân.
(Thiền Thị Kiếm Nhẫn Đích Sự)

Trời sáng là trời sáng không do chuông, trống đánh mà tối sớm hay muộn, trăng soi vằng vặc chẳng liên quan gì đến người đi đêm. Nhưng vì chúng sanh điên đảo, nhận rằng thời gian và không gian vì mình mà chuyển động, cứ lo thủ, xả cả đời. Đó chính là căn nguyên của phiền não.

1762.- Bài  kệ  của  Tuyết  Đậu  Trùng  Hiển :

牛 頭 峰 頂 鎖 重 雲
Ngưu đầu phong đỉnh tỏa trùng vân
獨 坐 寥 寥 寄 此 身
Độc tọa liêu liêu ký thử thân
百 鳥 不 來 春 又 去
Bách điểu bất lai xuân hựu khứ
不 知 誰 是 到 庵 人
Bất tri thùy thị đáo am nhân

Mây phủ Ngưu Đầu đỉnh
Vắng ngắt một mình ngồi
Chim bay rồi, xuân tận
Người nào tới am chơi ?
(Thiền Môn Khai Ngộ Thi)

Tuyết Đậu nhắc tới công án Tứ tổ tới thăm Pháp Dung. 
(Xem công án 1082)

1763.- Bài  kệ  của  Phật  Tâm  Bổn  Tài :

草 鞋 頭 戴 與 誰 論
Thảo hài đầu đới dữ thùy luận
四 海 無 風 浪 自 平
Tứ hải vô phong lãng tự bình
解 道 曲 終 人 不 知
Giải đạo khúc chung nhân bất tri
江 頭 贏 得 數 峰 青
Giang đầu doanh đắc sổ phong thanh.
 

Dép cỏ đội đầu cùng ai luận ?
Bốn biển không gió sóng bình an.
Hết câu, hiểu đạo người chẳng biết.
Đầu sông xem thấy vài non xanh.
(Thiền Môn Khai Ngộ Thi)

Phật Tâm Bổn Tài nhắc đến công án Nam Tuyền chém mèo. (Xem công án 563)

1764.- Bài  kệ  của Hoàng  Long  Huệ  Nam :
 

盧 陵 米 价 逐 年 新
Lô Lăng mễ giá trục niên tân
道 聽 虛 傳 未 必 真
Đạo thính hư truyền vị tất chân
大 意 不 須 歧 路 問
Đại ý bất tu kỳ lộ vấn
高 低 宜 見 本 來 人
Cao đê nghi kiến bản lai nhân.

Giá gạo Lô lăng mỗi năm thay.
Lý đạo được nghe chửa chắc ngay
Đại ý chẳng nên cặn kẽ hỏi
Thấp cao căn cứ mặt xưa nay.
(Thiền Môn Khai Ngộ Thi)

Hoàng Long nhắc lại công án “Giá gạo ở Lô Lăng.”
(Xem công án 772)

1765.- Vô  minh  và  Phật  tánh.

Hòa thượng Thần Hội nói :
-Vô minh và Phật tánh đều là tự nhiên mà sanh. Vô minh dựa vào Phật tánh; Phật tánh dựa vào Vô minh; cả 2 dựa vào nhau, có thì cùng có. Giác rồi là Phật tánh, không giác là vô minh.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Lý tánh và dục vọng, chúng ta gọi chung là Phật tánh và phiền não. Nếu chúng ta không tỉnh giác thì không thể tự do tự tại làm chủ được chính mình. Chúng ta sẽ trở thành con ngựa lỏng cương, túng dục vô độ bị vô minh trói buộc, không thể tự chế.

1766.- Phàm  phu và đạo nhân.

Thiền sư Hoàng Bá nói :
-Phàm phu giữ cảnh, đạo nhân giữ tâm.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Nếu con người không tự chủ được chính mình thỉ dễ bị hoàn cảnh chi phối.

1767.- Tâm  bình  thường.

Đời Đường, một đệ tử hỏi Cảnh Sầm :
-Tâm bình thường là sao ?
-Muốn ngủ thì ngủ, muốn ngồi thì ngồi.
-Con không hiểu.
-Nóng tìm chỗ mát, lạnh thì gần lửa.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Cảnh Sầm đã giảng rất rõ đói ăn mệt ngủ, nhưng người thường ăn chẳng lo ăn, mệt chẳng lo ngủ, chỉ nghĩ chuyện đâu đâu.

1768.- Phật  Đại Thông Trí Thắng.

Một ông tăng hỏi Sùng Huệ :
-Phật Đại Thông Trí Thắng là sao ?
-Từ vô lượng kiếp không bị ngưng trệ, chẳng phải là Phật Đại Thông Trí Thắng thì là ai ?
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Phật Đại Thông Trí Thắng là người giác ngộ, có thể khế hợp với tất cả, nhưng không nắm giữ gì cả.
(Xem công án 193)

1769.- Tiếc  thay  một  chén  trà.

Một ông tăng sau khi xem công án đạp đổ tịnh bình (Xem công án 210) khi bưng trà cho sư phụ không biết cố ý hay lỡ tay làm rơi vỡ chén trà. Sư phụ bảo :
-Tiếc thay một chén trà ! (Xem công án  324)
(Nhất Chuyển Ngữ Thiền)

Ý của thiền sư là ông vừa đánh vỡ một chén trà, thật là đáng tiếc. Nếu ông là người có năng lực thì như trong tay áo có nắm một cái chùy, không cần phải lộ cái chùy ra ngoài cho người khác thấy. Làm việc chỉ cần tận lực mà làm, cũng là vô tâm mà làm không cần đả động đến tâm người khác. Hơn nữa, thiền trọng sự sáng tạo chứ không thích mô phỏng.

1770.- Nghe  lời  chỉ  trích  nên  hoan  hỉ.

Có một ông tăng bảo thiền sư Linh Mặc :
-Trong đám đệ tử của thầy có một ông tăng thường nói xấu thầy và loan truyền những lời không tốt, thầy nên khai trừ hắn.
-Dù ông ta có phao ngôn khắp nơi về tôi thì sao chứ ? Huống hồ ông ta là đệ tử của tôi. Cứ để ông ta nói chán thì thôi. Ông ta chỉ trích chỉ là muốn tôi thành một vị thầy tốt.
(Nhất Chuyển Ngữ Thiền)

1771.- Thương  Na  Hòa  Tu.

Thương Na Hòa Tu là tổ thứ 3 của Thiền tông Ấn Độ. Ông hỏi A Nan :
-Tự tánh là cái gì mà có thể sanh ra vạn pháp ?
A Nan chỉ vào cà sa của ông. Ông không hiểu, lập lại câu hỏi. A Nan nắm lấy chéo áo của ông giật mạnh một cái. Thương Na Hòa Tu hoát nhiên đại ngộ.
(Zen Light)

Thương Na Hòa Tu hỏi A Nan về tự tánh, cái bất sinh bất diệt, cái tuyệt đối –mặt trăng. Ông muốn A Nan chỉ cho ông cái bí mật của vũ trụ, cái chất keo dính mọi vật lại. Ông thử thách A Nan xem A Nan có thể chỉ cho ông cái không thể chỉ ? hoặc thực tình ông mong mỏi cái mà mọi người mọi lứa tuổi, mọi thời đại muốn biết, những câu nói cuối của kịch bản Ghost của Henrik Ibsen :
-Mẹ ơi  ! Hãy cho con mặt trời. 
Sau khi nói xong lời này đứa con trở nên điên luôn, không thể chữa được nữa. Cũng như con thiêu thân bay vòng quanh ngọn lửa,  chỉ có một cách được nó là mất nó vĩnh viễn.
Thi nhân Lý Bạch đời Đường chết đuối vì cố ôm bóng trăng được phản chiếu trên mặt hồ. Hãy cho tôi ngọn lửa, cho tôi sự bí mật của vô sanh, cho tôi mặt trời, cho tôi mặt trăng.
A Nan không điên. Ông biết dục vọng của con thiêu thân sẽ khiến nó lao vào lửa và chết. Ông biết muốn với tới mặt trăng chỉ đưa tới rồ dại. Do đó ông dùng ngón tay trỏ mặt trăng. Ngón tay là ngón tay, mặt trăng là mặt trăng, đừng lầm ngón tay với mặt trăng. Hạt bụi nhỏ trên áo cà sa Thương Na Hòa Tu là mặt trăng, là tự tánh. Thương Na Hòa Tu phải tự mình thấy. Ông không thấy do đó A Nan kéo áo ông để nhắc nhở. Cuối cùng thì Thương Na Hòa Tu đã ngộ.

1772.- Cưu  Ma  Đa  La.

Cưu Ma Đa La là tổ thứ 19 của Thiền tông Ấn Độ. Có một lần Già Gia Xá Đa (tổ thứ 18) bảo ông :
-Lúc trước Thế Tôn có phó chúc rằng : “Sau khi tôi diệt độ một ngàn năm, một đại sĩ xuất hiện ở nước Nguyệt Thị sẽ đảm đương chánh giáo mà quảng độ quần sanh.’ Nay ông gặp tôi thật là may mắn.
Nghe lời này Cưu Ma Đa La liền đắc túc mạng minh (rõ được các kiếp trước).
Keizan có bài kệ :
Trong quá khứ ông ta đã bỏ hết xác này đến xác khác
Giờ đây, ông ta lại gập lại người bạn cũ.
(Zen Light)

Công án này đề cập đến ánh sáng. Người bạn cũ trong bài kệ của Keizan là ánh sáng. Cái ánh sáng này chiếu khắp mọi vật, mọi thời. Sau này Bàn Khuê gọi nó là Tâm bất sinh. Phật trong tiếng Phạn có nghĩa là người tỉnh thức, là người giác ngộ. Phật là người sống trong ánh sáng nội tâm ấy. Tỉnh thức là hiện diện trong ánh sáng nội tâm, không để những khái niệm, tư tưởng, hình ảnh, hoặc sự chồng chất các sự kiện làm mờ đi cái ánh sáng ấy.

1773.- Leo  núi.

Thiền sư Động Sơn trách Vân Cư :
-Ông không ở thiền đường mà dụng công, lại chạy đi đâu ?
-Con đi leo núi.
-Leo núi nào ?
-Chẳng có ngọn nào để con leo.
-Ý ông là đã leo hết mọi núi rồi ?
-Cũng không phải như vậy.
-Vậy là ông đã tìm được đường ra.
-Không có đường ra.
-Nếu không có đường ra sao ông có thể gập tôi ở đây ?
-Nếu có đường ra vậy thầy và con đã cách nhau một ngọn núi !
Không lâu, Động Sơn lại hỏi ;
-Ông đi đâu ?
-Con đi leo núi.
-Có leo tới đỉnh không ?
-Có.
-Trên đỉnh có người không ?
-Không có.
-Có thể thấy ông vốn không leo tới đỉnh.
-Nếu không leo tới đỉnh sao con biết đỉnh núi không có người ?
-Vì sao ông không ở lại ?
-Không phải là con không muốn ở, nhưng người ở đó không cho.
Động Sơn cười ha hả :
-Tôi đã sớm biết ông leo qua núi đó rồi.
(Thiền Vị)

Tu đạo giống như leo núi, quá trình gian khổ chỉ tự mình biết. Người đã leo tới đỉnh cảm nhận cảnh trí ở đó như thế nào, chỉ người ấy biết thôi.

1774.- Cháo  và  trà.

Thiền sư Triệu Châu rất chú trọng đến sinh hoạt, ông biểu lộ thiền phong trong mọi sinh hoạt.
Có ông tăng đến hỏi :
-Con mới vào nghiệp lâm, xin thầy khai thị.
-Ông ăn cháo chưa ?
-Dạ ! đã ăn rồi.
-Vậy đi rửa bát đi.
Ông tăng này do đó khai ngộ.
Một ông tăng khác hỏi :
-Con mới vào nghiệp lâm, xin thầy khai thị.
-Ông đến đây lâu chưa ?
-Dạ ! vừa mới đến sáng nay.
-Đã uống trà chưa ?
-Dạ, đã uống rồi.
-Ông hãy đến khách đường báo danh.
(Thiền Vị)

Cái gọi là Phật pháp, thiền tâm đều không lìa sinh hoạt. Ăn cho hợp vị là thiền, ngủ cho no giấc là thiền. Nếu lìa sinh hoạt, Phật  pháp còn có ích lợi gì ?

1775.- Phất  trần  nói  pháp.

 Động Sơn Lương Giới khi còn tham học với Quy Sơn Linh Hựu, có lần hỏi Quy Sơn :
-Lão sư ! Con không hiểu công án “Vô tình thuyết pháp” của Nam Dương Huệ Trung. Hữu tình thuyết pháp có thể hiểu được, còn vô tình làm sao thuyết pháp, chẳng hạn cái bàn, cái ghế  thuyết pháp làm sao ? Xin thầy phương tiện chỉ thị.
Quy Sơn giơ phất trần lên, hỏi :
-Cái này, ông hiểu không?
-Dạ, không hiểu. Xin thầy từ bi chỉ thị.
-Miệng cha mẹ tôi sanh ra không phải để bảo cái bí mật này cho ông.
Động Sơn không cho là phải :
-Phật pháp cũng có bí mật sao ?
Quy Sơn lại giơ phất trần lên :
-Cái này là bí mật.
-Nếu thầy không muốn bảo cho con biết cái bí mật ấy, con có thể hỏi bạn đồng tham của thầy không ?
-Ở Lễ Lăng (huyện Du) có một động đá trong đó có một vị Vân Nham đạo nhân, nếu ông tìm gập được thì nhất định ông ta sẽ bảo cho ông biết.
-Không biết ông ta là người thế nào ?
-Ông ta từng tham với tôi.
-Ông ta học được gì ở thầy ?
-Ông ta hỏi tôi làm sao để chặt đứt phiền não ?
-Thầy trả lời sao ?
-Tôi bảo ông cứ làm theo ý tôi là được.
-Ông ta có làm theo ý thầy không ?
-Ông ta rất theo ý tôi.Ông ta hiểu vô tình làm sao thuyết pháp. Ông coi. Phất trần đang thuyết pháp đấy thôi.
Động sơn cuối cùng đại ngộ.
(Thiền Vị)

Chỉ cần lắng nghe, Phật pháp ở khắp mọi nơi, không đâu không có.

1776.- Buông  đao  đồ  tể.

Mộng ước của Ương Quật Ma La là trở thành quốc vương. Một tà sư ngoại đạo bảo ông chỉ cần có một ngàn ngón tay cái đủ để làm một sâu chuỗi thì ước muốn sẽ thành sự thật. Do đó ông đi khắp nơi để thu thập, cuối cùng đã được 999 ngón. Ông định giết luôn cả mẹ để hoàn thành ước nguyện. Đức Phật đang ở núi Linh sơn quán chiếu thấy vậy, muốn độ ông. Ngài bèn hóa thành một vị sa di xuất hiện trước mặt Ương Quật Ma La. Ma La vội đuổi theo để giết. Vị tỳ kheo cứ chậm chậm mà đi nhưng Ma La cố hết sức đuổi theo mà vẫn không kịp. Ông hét lên :
-Ngừng lại !
Phật tổ bảo ông :
-Tôi ngừng đã từ lâu rồi, sao ông còn chưa chịu ngừng ?
Ương Quật Ma La đột nhiên giác ngộ, vội bỏ đao xuống, xin quy y Phật.
(Nhất Nhật Nhất Thiền)

Làm sao để tâm phiền não ngừng lại ? Chúng ta phải có thời gian tư khảo, tham ngộ để tâm được an định.

1777.- Đối  người  thân  thiết,  đối  mình  nghiêm  khắc.

Câu này thường gập trong các bộ ngữ lục, có ý là đối với người mình phải đem hết lòng dâng hiến còn đối với mình phải thật nghiêm khắc, nỗ lực bài trừ ngã chấp. Sơn Bản Huyền Phong, năm 19 tuổi mắt bị bệnh cơ hồ gần mù. Ông lưu lạc tứ xứ. Một hôm vừa bệnh, vừa đói ngã gục trước Tuyết Hề Tự, được trụ trì là Sơn Bản Thái Huyền cứu sống. trụ trì hỏi ông :
-Sau này ông định làm gì ?
-Con muốn làm hòa thượng.
-Thật vậy sao ?
-Dạ ! Nhưng con là một gã mù dở, không đọc kinh được, có thể làm hòa thượng được không ?
-Tuy ông không thành một ông tăng phổ thông, nhưng nếu quyết tâm có thể thành một hòa thượng chân chính.
(Nhất Chuyển Ngữ Thiền)

Quả nhiên về sau Huyền Phong trở thành một vị thiền sư trứ danh cận đại.

1778.- Bước  bước  là  đạo  trường.

Hòa thượng Từ Hải ở Kim Các Tự, trên đường gập một vị giáo sư. Hai người nói chuyện rất hợp ý. Khi chia tay hòa thượng mời giáo sư có rảnh thì đến vãn cảnh chùa. Giáo sư rất vui, nghĩ bụng hòa thượng đã mời chắc phải có gì đặc biệt cho mình coi. Được một ngày nghỉ, giáo sư bèn đến chùa. Tới nơi không lâu thì đến bữa ngọ. Giáo sư nghĩ chắc phải có bữa cơm chay đặc biệt, nào ngờ khi đem ra cũng chỉ có đậu phụ và tương. Sau bữa cơm, giáo sư ngỏ ý muốn bàn luận về thiền. Hòa thượng bảo :
-Ông muốn tôi nói về thiền sự là không được. Tôi chỉ là người được chùa giao cho việc quét dọn. Quét dọn là việc tôi rành nhất. Được để tôi kể ông nghe.
Nói rồi, hòa thượng dẫn giáo sư đi khắp nơi từ nhà kho, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, sân chùa, v . v .  Tới mỗi nơi đều cắt nghĩa phải làm gì, dùng chổi như thế nào. Giáo sư rất kinh ngạc :
-Cám ơn thầy đã tận tình tiếp đãi.
Nói rồi chuồn mất.
(Nhất Chuyển Ngữ Thiền)

Quét nhà chỉ là một việc, còn nhiều việc khác nữa chúng ta cho là vô ý nghĩa. Nếu chúng ta nhất tâm, nhất ý làm thì đó là một cách ma luyện chính mình, khảo nghiệm thực lực của mình. Nếu bị sai làm một việc mà ta cảm thấy phiền não thì ta phải lấy câu “Bước bước là đạo trường” mà cảnh giác.

1779.- Giữ  giới.-

Trào Minh, thiền sư Phổ Minh có làm Mục Ngưu Đề Tụng (Tụng Tranh chăn trâu) trong đó bài Vị mục (Chưa chăn) như sau :

生 獰 頭 角 趑 咆 哮
Sanh nanh đầu giác tư bào hao
奔 走 溪 山 路 轉 遙
Bôn tẩu khê sơn lộ chuyển dao
一 片 黑 雲 橫 谷 口
Nhất phiến hắc vân hoành cốc khẩu
誰 知 步 步 犯 佳 苗
Thùy tri bộ bộ phạm giai miêu.

Vênh váo đầu sừng miệng hậm hự
Chạy theo khe núi mỗi lúc xa
Một dải mây đen ngang cửa động
Ai hay từng bước dẫm mạ a !

Dã tánh và trí tuệ cùng tồn tại, cũng giống như vàng lẫn trong khoáng chất. Dã tánh là phiền não, trí tuệ là Phật tánh. Muốn lấy vàng thì phải dùng lửa để tinh luyện. Chất khoáng sẽ bị đốt thành than và vàng sẽ được tinh luyện. Phiền não là tối ám dùng sáng để phá tối chứ không thể dùng tối để phá sáng. Muốn dùng sáng để phá tối thì theo Phổ Minh đầu tiên là phải dùng giới luật nên ông làm bài Sơ Điều (Mới chăn) như sau :

我 有 芒 繩 驀 鼻 穿
Ngã hữu mang thằng mạch tỵ xuyên
一 迴 奔 競 痛 加 鞭
Nhất hồi bôn cạnh thống gia tiên
從 來 劣 性 難 調 制
Tòng lai liệt tánh nan điều chế
猶 得 山 童 盡 力 牽
Do đắc sơn đồng tận lực khiên.

Ta có giây thừng xỏ mũi ngươi
Kéo về chẳng được liền dùng roi
Từ đây nếu vẫn còn khó dậy
Mục đồng đành phải tận sức lôi.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Dây thừng và roi là chỉ giới luật. Không giữ giới thì không thể chế ngự được phiền não của nội tại, dễ dàng đánh mất chính mình.
 

1780.- Đột  phá  giới  luật.

Thời Nam, Bắc triều, Trúc đạo Sinh là một vị cao tăng mẫn tiệp. Một lần tống Văn Đế thiết trai cúng dường chư tăng, nhưng vì sửa soạn quá lâu khi dọn bữa ra thì đã quá ngọ. Chư tăng không dám đụng đũa. Tống văn đế bảo ;
-Chẳng quan hệ, bây giờ mới là chính ngọ.
Chư tăng vẫn không dám dùng bữa. Lúc đó Trúc Đạo Sinh đứng dậy lớn tiếng nói :
-Thanh thiên bạch nhật, thiên tử nói chính ngọ thì là chính ngọ, còn ngờ gì nữa ?
Nói rồi cầm bình bát lên ăn, chúng tăng cũng làm theo.
(Nhất Nhật Nhất Thiền)

Giới luật nhất định phải theo. Nhưng giới luật không phải là cố định mà tùy theo hoàn cảnh, thời gian mà thay đổi, như vậy mới bắt kịp sự tiến triển của xã hội.

1781.- Không  tại  nơi  khác.

Một hôm Động Sơn Lương Giới hỏi Vân Nham :
-Lão sư ! nếu như thầy trăm năm rồi, có người hỏi con phong tư diện mạo thầy, con phải trả lời sao ?
-Tôi không ở chỗ khác.
Động Sơn trầm ngâm, Vân Nham bảo :
-Giới thượng tọa ! Đối với sự tình này ông phải để ý, xử lý thận trọng.
Động Sơn lòng đầy hoài nghi chẳng lẽ hỏi vấn đề này là phạm úy kỵ gì ? Về sau Động Sơn qua cầu, nhìn thấy bóng mình dưới sông đột nhiên tỉnh ngộ, bèn làm bài kệ (Xem công án 1083) Động Sơn về gập Vân Nham vui vẻ thưa :
-Lão sư ! Bất kể lúc nào dù trải qua ngàn vạn kiếp, phong tư diện mạo của thầy con đã biết rồi.
Vân Nham nghiêm trang bảo :
-Lúc đó tôi không ở đó.
Động Sơn lập tức lãnh ngộ, vội nói :
-Không tại lúc đó, không tại chỗ khác.
(Thiền Vị)
Tín ngưỡng chân chính được xây dựng trên nền đá tảng, không bị những lớp sóng thời gian lay chuyển.

1782.- Không  thể  bắt chước.

Thiền sư Lâm Tế sắp viên tịch, chiêu tập đệ tử lại bảo :
-Tôi nhập diệt rồi, các ông không thể để chánh pháp nhãn tạng của tôi bị tiêu diệt.
Đại đệ tử Tam Thánh lập tức biểu lộ quyết tâm :
-Đệ tử chúng con đâu dám để chánh pháp nhãn tạng của thầy bị hủy diệt.
Lâm Tế gật gù :
-Vậy sao ? Giả như về sau có người hỏi Phật pháp của tôi thế nào, các ông trả lời làm sao ?
Tam Thánh bắt chước Lâm Tế hét lớn. Lâm Tế lắc đầu :
-Ai ngờ đâu chánh pháp nhãn tạng của tôi bị hủy diệt bởi con lừa mù này. Thật là đau lòng !
Nói rồi, Lâm Tế đoan tọa tại pháp đường mà  tịch.
Thấy Lâm Tế lìa đời, Tam Thánh rất thương tâm, bảo đại chúng :
-Bình thường lão sư đối với người đến tham học đều hét lên một tiếng, tại sao chúng ta cũng hét mà lại không được ?
Đột nhiên Lâm Tế mở mắt ra nói :
-Tôi ăn các ông không thể no, tôi chết các ông cũng không thế được.
 Chúng đệ tử đều quỳ lạy, Tam Thánh thưa :
-Xin lão sư tha thứ chúng con đã không hiểu rõ giáo huấn của thầy. Xin thầy đừng vội đi, xin hãy chỉ điểm thêm cho chúng con.
Lâm Tế hét lên một tiếng lớn rồi bảo :
-Tôi không để cho các ông bắt chước.
Nói rồi, lần này đi luôn.
(Thiền Vị)

Trí tuệ chân chánh không thể mô phỏng được.

1783.- Đơn  Hà  đốt  Phật.

Một hôm Đơn Hà Thiên Nhiên quải đơn ở một ngôi chùa nhỏ. Lúc đó trời rất lạnh, tuyết rơi bời bời. Đơn Hà lấy pho tượng Phật bằng gỗ đem đốt để sưởi ấm. Củ sát sư của chùa trông thấy, tức giận hét lớn :
-Thật đáng chết ! Sao ông dám đem tượng Phật ra đốt ?
-Tôi đốt để tìm xá lợi.
-Nói bậy không à ! Phật gỗ làm sao có xá lợi ?
-Đúng rồi ! Phật gỗ đương nhiên không có xá lợi, vậy chắc ông không ngại cho tôi xin một pho nữa đốt để sưởi ấm chứ ?
(Thiền Vị)

Tượng Phật là Phật giả, nội tâm mới là Phật thật.

1784.- Ý  nghĩa  bài  kệ  Vô  Môn. 

Trong công án “Tâm bình thường là đạo”, thiền sư Vô Môn có làm bài tụng  sau : (bản chữ Hán xin xem công án 982)
Xuân có trăm hoa, Thu có nguyệt
Hạ có gió mát, Đông tuyết rơi
Nếu không chuyện gì làm bận óc
Thì chính nhân gian buổi đẹp trời.
(Thiền Ngộ Dữ Thực Hiện)

Mọi người dĩ nhiên hiểu và thưởng thức được cái đẹp của hoa Xuân và trăng Thu, nhưng cũng không quên những luồng gió mát của mùa Hè và cảnh đẹp của mùa Đông bao phủ dưới làn tuyết trắng. Nếu chúng ta quá coi trọng thắng bại, được mất thì sẽ đánh mất đi cái lạc thú của đời sống. Nếu chúng ta có thể dùng tâm bình thường mà sinh hoạt thì cuộc sống sẽ tự do tự tại và đầy vui vẻ. Thiền dạy chúng ta khẳng định sinh hoạt, tâm trí sẽ tĩnh lặng và tỉnh giác. Khẳng định sinh hoạt tức là dùng tâm bình thường vậy.

1785.- Có  oán  thù  gì ?

Có một vị thiền tăng tình nguyện chung thân giữ mộ tổ sư Đạt Ma. Đời Đường Đại Tông, tháp này được gọi là Viên Giác Đại Sư Không Quán tháp. Người ta gọi vị thiền tăng đó là tháp chủ. Tương truyền các thiền sinh, trong đời nhất định phải có một lần đến thăm tháp này. Một hôm, thiền sư Lâm Tế cùng mọi người đến thăm tháp. Vì Lâm Tế là truyền nhân  đời thứ 11, tháp chủ trông thấy bèn hỏi :
-Xin hỏi trưởng lão lễ Phật trước hay bái tổ trước ?
-Tôi tới đây không phải để lễ Phật hay bái Tổ.
Tháp chủ bất mãn hỏi :
-Phật và Tổ có oán thù gì với trưởng lão ?
-Vậy Phật và Tổ có ân tình gì với ông ?
Tháp chủ không trả lời được, một lát sau hỏi :
-Vậy phải làm sao ?
-Diệt hết oán thù và ân tình, thể hội Phật pháp bình đẳng thì có thể thấy khuôn mặt xưa nay của Tồ sư.
-Thế nào là Phật pháp bình đẳng ?
Lâm Tế trả lời bằng câu của Tam Tổ Tăng Xán :
-Đạo lớn không khó, chỉ vì chọn lựa thôi.
(Thiền Vị)

Trong tự tánh không có phân biệt.

1786.- Hãy  bỏ  tâm  sân  đi  đã.

Có một vị tướng quân từng lăn lộn nhiều năm ngoài chiến trường. Một hôm ông đến thăm thiền sư Đại Huệ và yêu cầu xuất gia.
-Thiền sư, con nay đã chán hồng trần, xin thầy từ bi xuống tóc cho con, nhận con làm đệ tử.
Đại Huệ từ chối :
-Ông có gia đình, có nhiều tập khí xã hội, chưa thể xuất gia ngay được, hãy từ từ.
Tướng quân vội đáp :
-Thiền sư, hiện giờ cái gì con cũng bỏ xuống được, vợ con, gia đình đều không thành vấn đề. Xin thầy cho con xuất gia.
Đại Huệ lập lại :
-Hãy từ từ.
Tướng quân chưa chịu thôi, một hôm đến chùa thật sớm. Đại Huệ hỏi :
-Sao mới sáng sớm mà ông đã tới lễ Phật vậy ?
Tướng quân bèn ngâm hai câu thơ :
Để dập tắt ngọn lửa
Dậy sớm lễ tôn sư.
Đại Huệ cười :
Sao ông dậy sớm thế ?
Chẳng sợ vợ bỏ ư ?
Tướng quân nổi giận :
-Lão quái này sao dám mạ lỵ người.
Đại Huệ cười ha hả, đọc cho một bài kệ :

輕 輕 一 撥 扇
Khinh khinh nhất bát phiến
性 火 又 燃 燒
Tánh hỏa hựu nhiên thiêu
如 此 暴 躁 氣
Như thử bạo táo khí
怎 算 放 得 下
Chẩm toán phóng đắc hạ.

Nhè nhẹ quạt một cái
Ngọn lửa lại cháy bùng
Tánh tình thô bạo thế
Bỏ xuống được hay chăng ?
(Thiền Vị)

1787.- Phật  Đà  Nan  Đề.

Phật Đà Nan Đề là tổ thứ 8 của Thiền tông Ấn Độ. Khi ông gập tổ thứ 7 là Di Dá Ca, ông nói :
-Tôi đến luận nghĩa với sư.
-Này hiền giả, nếu luận thì chẳng phải là chân lý, chân lý chẳng cần phải luận.
Nghe rồi Phật Đà Nan Đề liễu ngộ cái lý vô sanh.
(Zen Light)

Có một câu chuyện nổi tiếng về một người đến hỏi Phật :
-Bạch Thế Tôn, có linh hồn không ? Linh hồn có vĩnh viễn không ? Khi chết rồi linh hồn sẽ ra sao ? v . v .
Trong một thoại bản Đức Phật im lặng không trả lời.Trong một thoại bản khác Đức Phật kể một câu chuyện : Có một người bị tên độc bắn. Chúng ta nên rút mũi tên ra và lo chữa trị cho người đó hay là hỏi ai bắn ? Vì lý do gì mà bị bắn v . v . Trả lời những câu hỏi này cần nhiều thì giờ, nhưng chúng ta không có thì giờ. Chúng ta đang sống trong tình trạng cấp cứu vì chúng ta đang bị bắn bởi những mũi tên buồn khổ, bệnh tật, chết chóc. Chúng ta phải hành động để giải quyết những vấn đề này ở đây và ngay bây giờ. Những giải thích siêu hình thì lý thú thật nhưng xa vời với thực tại chúng ta đang sống. Thiền là ở đây, ngay bây giờ, ở trong việc rửa bát, quét nhà, cãi lộn giữa vợ chồng, con cái, bạn bè.

1788.- Xà  Dạ  Đa.

Xà Dạ Đa là tổ thứ 20 của Thiền tông Ấn Độ. Một lần tổ thứ 19 là Cưu Ma Đa La bảo ông :
-Mặc dầu ông tin vào ba nghiệp, nhưng ông chưa rõ nghiệp ấy là do vọng mà sanh, vọng lại do thức mà có. Thức lại do bất giác sanh, mà bất giác lại ở nơi tâm. Tâm vốn thanh tịnh, không sanh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn kém, êm đềm sáng suốt. Nếu ông tin nhận pháp môn này thì ông cũng giống như chư Phật không khác. Tốt, xấu, hữu vi, vô vi, đều là chiêm bao, mộng ảo.
Nghe được lời này Xà Dạ Đa hiểu được thâm ý và nẩy sanh trí huệ ông đã có từ muôn kiếp.
(Zen Light)

Công án này nêu lên vấn đề nghiệp và công lý. Tại sao có những người hiền lành làm nhiều việc tốt mà vẫn chịu khổ sở, trong khi những kẻ xấu xa, tội lỗi lại được hưởng đời sống vinh hoa, phú quý ? Thực ra nghiệp rất phức tạp. Có những nhân gieo trong đời này có kết quả ngay, nhưng cũng có khi đến các đời sau quả mới hiện thành. Tâm có thể phân làm phàm tâm và chân tâm. Cưu Ma Đa La chỉ cho chúng ta biết chân tâm vắng lặng không có tốt xấu, hữu vi, vô vi, tất cả là mộng ảo. Nghiệp không tồn tại trong chân tâm. Trái lại, phàm tâm có phân biệt tốt xấu, hơn kém, chủ thể, đối tượng. Phàm tâm thấy kẻ xấu sống sung sướng trong khi người tốt lại chịu nhiều đau khổ. Chính cái phàm tâm này tạo nên nghiệp báo ba đời. Phải bỏ xuống hết. Đạo Nguyên nghe Như Tĩnh bảo phải thoát lạc thân tâm liền giác ngộ. Chúng ta phải bỏ xuống mọi khát khao, thực hiện công lý, cũng bỏ xuống sự chán ghét mọi bất công. Bỏ của cải, bỏ tư tưởng, bỏ chấp trước. Bỏ xuống những gì ta nghĩ ta không cần. Những gì ta nghĩ ta cần là vọng, những gì ta nghĩ ta không cần cũng là vọng nốt.

1789.- Ưu   Ba  Cúc  Đa.

Ưu Ba Cúc Đa là tổ thứ 4 của Thiền tông Ấn Độ. Ông theo học Thương Na Hòa Tu ba năm rồi xin xuống tóc. Một lần Thương Na Hòa Tu hỏi ông :
-Ông xuất gia là thân ông xuất gia hay tâm ông  xuất gia ?
-Là thân con xuất gia.
-Diệu pháp của chư Phật có liên quan gì đến thân hay tâm ?
Nghe lời này Ưu Ba Cúc Đa hoát nhiên đại ngộ.
(Zen Light)

Thế đạo luôn phân biệt, chia cách, đa thù và vọng tưởng. Chúng ta đang sống trong thế giới ảo vọng.
Phật đạo từ vạn pháp trở về một, là con đường chữa lành vết thương của thân và tâm. Phật đạo chỉ rằng thân và tâm không phải chỉ là thân hoặc tâm mà là thân tâm. Khi chúng ta giác ngộ (trở về với cái một) và thực hành hạnh bố thí thì tặng phẩm của chúng ta cho người khác là tặng phẩm của cái một. Đó là lý do tại sao Đức Phật nói : “Khi bố thí chân chính thì không có người cho, kẻ nhận chỉ có sự bố thí.”

1790.- Một  hạt  chủng  tử.

Quế Khâm đến tham phỏng Huyền Sa. Huyền sa biết ông nghiên cứu Duy Thức rất thâm, cố ý trỏ một cái ghế, hỏi :
-Ba giới duy tâm, vạn pháp duy thức, cái này ông lý giải ra sao ?
-Nếu nói đến duy thức, duy tâm thì dùng cái nhìn của duy thức, duy tâm mà lý giải là được rồi.
Huyền Sa không cho là phải :
-Đứng trên lập trường đạo lý mà nói thì như vậy nhưng cũng có lúc không có cách chi nhận thức được vũ trụ vạn hữu.
Quế Khâm chỉ một cái bàn hỏi :
-Xin hỏi thầy gọi cái này là cái gì ?
-Cái bàn.
Quế Khâm lắc đầu :
-Thầy không hiểu ba giới duy tâm, vạn pháp duy thức, cái này không chỉ cái bàn. Cái bàn là giả danh, giả tướng.
-Không sai, “cái này” không phải là cái bàn, chân tướng của cái này là gỗ. Gỗ đóng thành bàn gọi là cái bàn, đóng thành ghế gọi là cái ghế. Khuôn mặt xưa nay của cái bàn, cái ghế là gỗ.
Quế Khâm gật đầu. Nhưng Huyền Sa chỉ cái bàn :
-Cái này không phải là cái bàn, không phải là gỗ, là cây lớn trong rừng.
Huyền sa thấy Quế Khâm định mở miệng liền ngăn lại, nói tiếp :
-Cái này cũng không phải là một cây lớn mà là một chủng tử quy tụ các duyên ánh sáng, đất, nước, không khí mà thành cây, thành gỗ, thành bàn, thành ghế. Nói tóm lại là vũ trụ, vạn hữu do nhân duyên tạo thành.
-Vũ trụ vạn hữu là duy thức, duy tâm.
-Ông đã tới đây tham học sao không nói vũ trụ vạn hữu là thiền tâm.
(Thiền Vị)

Trong tâm mỗi người đều có chủng tử thiền tâm, sao không để nó lớn lên và trở thành cây lớn.

1791.- Bất  Như  Mật  Đa.

Bất Như Mật Đa là tổ thứ 26 của Thiền tông Ấn Độ. Khi còn là thái tử, tổ 25 hỏi ông :
-Khi ông xuất gia, ông định làm gì ?
-Khi con xuất gia con chẳng làm gì đặc biệt.
-Ông không làm những việc gì ?
-Con không làm những việc thế tục.
-Vậy ông tính làm gì ?
-Con làm việc Phật.
-Thái tử thiệt là thiên tư mẫn tuệ, ông phải là một vị thánh ứng thế.
Nói rồi cho phép ông xuất gia.
(Zen Light)
 

Có thể làm sáng bản tâm là làm việc Phật. Bản tâm chứa trong mọi vật. Mọi vật đều có bản tâm. Do đó, không có sự khác biệt giữa tu sĩ, cư sĩ, đàn ông đàn bà, cảnh sát, kẻ tù tội , v . v . Bất cứ ta sống duới dạng thức nào cũng là Đạo. Chúng ta có thể tu ở bất cứ đâu. Bất cứ cái gì chúng ta làm cũng là biểu hiện của Đạo. Không cần phải đi đâu, tìm học một cuốn kinh sách gì, chúng ta đang ở trong Đạo, điều phải làm là thực hành.

1792.- Không  thấy  mình.

Có một học tăng đến tham học với Trí Thường. Lúc gập Trí Thường đang cuốc đất, một con rắn trong đám cỏ bỗng bò ra. Trí Thường giơ cuốc bổ xuống.
Học tăng kinh ngạc :
-Từ lâu vẫn mộ danh nơi đây đạo phong từ bi, tới nơi chỉ thấy một gã tục nhân thô lỗ.
-Như ông nói thì ông thô hay tôi thô ?
Học nhân không vui hỏi :
-Thế nào là thô ?
Trí Thường ném cuốc xuống ;
-Thế nào là tế ?
Trí Thường giơ cuốc lên làm bộ chém rắn.
Học tăng không hiểu ý Trí Thường hỏi :
-Thiền sư nói thô tế khiến người ta chẳng hiểu gì cả.
Trí Thường hỏi ngược lại :
-Không nói thô, tế nữa; xin hỏi ông thấy tôi chém rắn ở đâu ?
Học tăng không khách khí đáp :
-Ngay đây.
Trí Thường giáo huấn ông :
-Ngay đây ông không thấy mình, lo xem người khác chén rắn làm gì ?
Học tăng do đó tỉnh ngộ.
(Thiền Vị)

Người ta thường chỉ chăm phê bình người khác mà không lo xét mình.

1793.- Hạc  Lặc  Na.

Hạc Lặc Na là tổ thứ 23 của Thiền tông Ấn Độ. Một lần kia tổ 22 là Ma Na La bảo ông :
-Tôi có pháp bảo quý báu ông phải lắng nghe, tiếp nhận rồi tương lai sẽ giáo hóa cho chúng sanh.
Nghe lời này Hạc Lặc Na tỉnh ngộ.
(Zen Light)

Công án này là nói về pháp bảo. Đức Phật nói:
-Tôi giáo hóa 49 năm mà chưa hề mở mồm nói một điều gì.
Thế là thế nào? Phật đã chẳng dạy Tứ diệu đế, 12 nhân duyên và Bát chánh đạo đó sao ?
Trong cuộc trò truyện  với học trò, Socrates bảo họ mọi thứ đều là tiến trình nhớ lại những gì họ đã có trong họ.
Đức Phật nói :
-Hãy nội quán và các ông sẽ thấy các ông là Phật.
Trong một lần đi thuyết pháp, Đức Phật qua một làng nọ, người làng thưa :
-Có nhiều vị thầy đến làng chúng tôi. Một vị nói thế này, thế này là chân lý. Một vị khác nói ngược lại vị trên,  như vậy, như vậy mới là chân lý. Một vị khác nữa nói khác hẳn hai vị kia và quả quyết chân lý phải như thế này cơ. Lời giảng của vị nào là đúng và làm sao nhận ra thế nào là pháp bảo ?
Và Phật trả lời :
-Hãy nhìn vào trong ông. Ông thấy điều nào tốt cho mình và không hại cho người thì làm. Điều nào không tốt cho mình và cho người thì không làm. Đừng trông vào ai, chỉ nương tựa vào chính mình.
 

1794.- Bát  Nhã  Đa  La.

Bát Nhã Đa La là tổ thứ 27 của Thiền tông Ấn Độ. Một lần tổ 26 là Bất Như Mật Đa hỏi ông :
-Ông còn nhớ chuyện quá khứ không ?
-Con nhớ nhiều kiếp trước đã ở chung với thầy. Thầy có giảng kinh Ma ha Bát Nhã, còn con thì giảng kinh Thậm Thâm Tu Đa La. Việc gặp gỡ ngày nay là do túc duyên lúc trước.
(Zen Light)

Công án này đề cập đến thời gian. Keizan có nói :
-Hôm nay thấy là thấy từ vĩnh cửu, nếu ông nhìn lại vĩnh cửu thì thấy hôm nay. Khi chúng ta đạt đến cảnh giới này thì không có quá khứ, hiện tại, tương lai. Pháp vượt thời gian. Hiện tại chứa cả 3 thời.

1795.- Chân,  giả.

Có lần Đạo Quang hỏi Đại Châu Huệ Hải :
-Thiền sư bình thường dụng công là dùng tâm nào để tu ?
-Lão tăng không có tâm nào để dùng, đạo nào để tu.
-Vậy sao hàng ngày thiền sư tụ chúng, khuyên người tham thiền tu đạo ?
-Lão tăng trên không có mái ngói, dưới không có tấc đất cắm dùi làm gì có chỗ để tụ chúng ?
-Sự thực thì thiền sư mỗi ngày đều tụ chúng luận đạo, chẳng lẽ không phải là thuyết pháp độ chúng ?
-Ông đừng đổ oan cho tôi, ngay lời nói tôi cũng không biết nói, làm sao luận đạo, một người tôi cũng không gặp làm sao độ chúng ?
-Thiền sư đã vọng ngữ rồi !
-Lão tăng ngay lưỡi cũng không có, làm sao vọng ngữ ?
-Chẳng lẽ khí thế gian, hữu tình thế gian, sự tồn tại của thiền sư và con, còn có tham thiền thuyết pháp đều là giả sao ?
-Đều là thật.
-Nếu là thật sao thiền sư lại phủ định ?
-Giả cũng phủ định, thật cũng phủ định.
Đại Quang cuối cùng đại ngộ.
(Thiền Vị)

Không tâm để dùng, không đạo để tu, đó chính là cảnh giới đắc đạo.

1796.- Nghe  không  hiểu.

Vương cư sĩ là một tín đồ rất cung kính Phật pháp. Hễ có thời gian rảnh rỗi là ông chạy tới chùa hoặc giúp viên đầu trồng rau, tưới nước, hoặc giúp điển tọa bổ củi, nấu cơm, nói tóm lại là luôn luôn bận rộn. Nếu gặp thiền sư Vô Danh thuyết pháp cho đại chúng thì cũng hết sức lắng nghe. Có một lần Vương cư sĩ ở ngoài thiền đường nhìn các học tăng mắt nhìn mũi, mũi quán tâm, không nén được thở dài, gập lúc thiền sư Vô Danh đi qua nghe được.Thiền sư bèn hỏi :
-Vương cư sĩ, sao ông lại thở dài ?
Vương cư sĩ lại thở một hơi dài nữa. Vô Danh không hiểu lại hỏi :
-Bình thường ông rất cung kính Phật pháp, lại hết lòng giúp đỡ làm các việc trong chùa, gập buổi thuyết pháp thì chăm chú lắng nghe. Có thể nói thân, khẩu, ý đều phiếm du trong bể pháp. Vì sao lại thở dài ?
-Thiền sư, phiền não của con là nghe Phật pháp mà không hiểu. Thiền sư giảng cho các học tăng nào là “Ý của tổ sư từ Tây sang”, “Con chó có Phật tánh không”, “Tức tâm, tức Phật”, “Thế nào là bản lai diện mục” v . v . Con đều nghe mà chẳng hiểu gì cả, giống như xem hoa trong sương mù. Vì sao con hết lòng nghe mà chẳng hiểu ?
-Lúc trước, khi một học tăng đến nhập môn, Đức Sơn liền đánh, Lâm Tế thì hét, Tuyết Phong thì hỏi là cái gì ? Lịch đại tổ sư, đại đức cả đời chỉ tham một công án mà cũng chưa khai ngộ, cho thấy học thiền phải dụng công mà tham, không chỉ nghe không mà được.
Vương cư sĩ vẫn không hiểu hỏi :
-Làm sao để tham ?
-Trước hết ông hãy tham “Nghe mà chẳng hiểu”.
(Thiền Vị)

Chẳng kể hiểu hoặc không hiểu, nên lắng nghe tiếng nói của nội tâm.

1797.- Thấy  và  không  thấy.

Khi Hà Dịch Thần Hội mới đến tham học lục tổ Huệ Năng, tổ hỏi :
-Ông từ xa tới đây, đường xá diệu vợi gian khổ, có đem tự tánh thiền tâm theo không ? Có thể thấy bản thể của pháp tánh là cái gì không ?
-Bẩm sư phụ, “ngã” có đến đi, còn “tự tánh” không có đến đi, bản thể pháp tánh ở khắp pháp giới làm sao nói thấy hoặc không thấy ?
-Ông thật mẫn tiệp.
Nói rồi dùng gậy đánh, Thần Hội không tránh hỏi ngược lại :
-Lúc sư phụ tọa thiền là thấy hay không thấy ?
Lục tổ không đáp ngay, dùng gậy đánh Thần Hội 3 gậy, hỏi :
-Tôi đánh ông đau hay không đau ?
-Cũng đau, cũng không đau.
Tổ cũng theo ngữ khí của Thần Hội mà đáp :
-Tôi tọa thiền cũng thấy, cũng chẳng thấy.
Thần Hội không bỏ lỡ cơ hội, hỏi tiếp :
-Vì sao sư phụ cũng thấy, cũng chẳng thấy ?
-Tôi thấy là thường thấy những lỗi lầm của mình, không thấy là không thấy thị phi, thiện ác của người khác. Cho nên nói cũng thấy, cũng chẳng thấy. Còn như ông nói không đau thì ông giống như sỏi đá, không có tri giác, còn nói đau thì giống như tục nhân có tâm oán hận. Tôi bảo cho ông biết thấy và không thấy là chấp vào lưỡng biên, đau và không đau là hiện tượng sanh diệt. Ông ngay tự tánh chưa rõ, còn nói không tới, không đi ?
Về sau khi Huệ Năng sắp viên tịch, chúng đệ tử đều buông tiếng khóc lớn, chỉ có Thần Hội là yên lặng không khóc. Tổ bảo :
-Tại sao các ông lại khóc ? Tôi đã biết rõ sẽ đi về đâu. Nếu tôi không biết làm sao có thể nói trước cho các ông biết ? Chỉ có Thần Hội vượt qua được quan niệm thiện ác đạt tới cảnh giới hoại không động, buồn vui không sanh. Đại chúng nên ghi nhớ pháp tánh vốn không sanh diệt, đến đi.
(Thiền Vị)

Con mắt thường đánh lừa chúng ta.

1798.- Bà  Xá  Tư  Đa.

Bà Xá Tư Đa là tổ thứ 25 của Thiền tông Ấn Độ. Tổ 24 là Sư Tử Tôn Giả bảo ông :
-Nay tôi truyền chánh pháp nhãn tạng của Như Lai cho ông, ông phải hết lòng hộ trì và quảng thí cho tất cả quần sanh trong tương lai.
Bà Xá Tư Đa nghe rồi rõ được nguyên nhân của nghiệp báo và được truyền tâm ấn.
(Zen Light)

Công án này nói về cái một. Chúng ta theo một cách nào đó đều liên quan đến cái một. Lòng từ bi là một chứng cớ. Chúng ta có thể cảm nhận nỗi đau đớn hay nỗi hân hoan của người khác mặc dù thân thể ta không đau đớn hoặc đó không phải là chuyện vui của ta. Công án này chỉ cho chúng ta thấy cái một vượt lên trên sanh tử, những gì đã có trong quá khứ thì sẽ có trong tương lai. Cái một vượt lên trên không gian và thời gian.

1799.- Ba  Tu  Bàn  Đầu.

Ba Tu Bàn Đầu là tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ. Có lần tổ 20 là Xà Dạ Đa nói :
-Tôi không cầu đạo, cũng không điên đảo; tôi không lễ Phật cũng không khinh dể Phật, tôi không ngồi lâu cũng không lười biếng. Tôi không độ ngọ cũng chẳng ăn tạp. Tôi không biết đủ cũng không tham lam. Tâm không cần gì. Đó gọi là Đạo.
Ba Tu Bàn Đầu nghe lời này bỗng phát sinh trí vô lậu.
(Zen Light)

Công án này đề cập đến sự cố gắng tu tập. Đạo Nguyên nói :
-Ngồi thiền, tự nó là con đường giác ngộ.
Chúng ta thường ngồi thiền với mục đích đạt được một cái gì, chẳng hạn chúng ta muốn trở thành thiền sinh, thiền sư, hay được tâm an bình. Công án này bảo cho chúng ta thấy có một mục đích để đạt thì không phải là Đạo, có mục đích là chúng ta đã đánh mất Đạo. Tại sao không có gì để đạt tới ? Vì chúng ta đã có nó rồi. Ở đâu ? Ngay trong chúng ta. Chúng ta ngồi là ngồi, không phải để trở thành Phật, để được giác ngộ, để giải một công án. Vậy thì học công án thế nào ? Chúng ta hãy để cho công án thấm qua các lỗ chân lông và trở thành một với công án.
 
 

1800.- Thiền  là  thế  đó.

Có một vị y sĩ, y thuật rất giỏi, mỗi ngày đều nhìn thấy nhiều bệnh nhân qua đời, do đó ông bị ám ảnh bởi cái chết, sinh ra lo sợ. Ông nghe nói học thiền thì có thể khắc phục trạng thái tâm lý này. Ông đến gập thiền sư Nam Ẩn xin được khai thị. Nam Ẩn bảo ông :
-Học thiền không khó, ông vốn là một y sĩ ông hãy đối đãi tử tế với bệnh nhân của ông. Đó là Thiền.
Y sĩ dường như hiểu, dường như không. Ông trở lại vài lần, lần nào thiền sư cũng bảo :
-Là một y sĩ ông đừng phí thời gian ở chùa, hãy về săn sóc bệnh nhân.
Y sĩ không hiểu loại khai thị này làm sao trừ được nỗi sợ chết chóc ? Do đó lần tham phỏng thứ tư, ông trách :
-Có một vị vân thủy tăng bảo cho con biết, học Thiền thì sẽ không còn sợ chết nữa, nhưng mỗi lần con đến thầy đều bảo con lo săn sóc bệnh nhân. Điều này thì con đã rõ, nhưng đó gọi là Thiền thì về sau con không dám đến làm phiền thầy nữa.
Nam Ẩn mỉm cười :
-Tôi quá nghiêm khắc với ông, hãy thử cho ông một công án xem sao.
Nói rồi bảo y sĩ về tham thoại đầu chữ “Vô” của Triệu Châu.
Y sĩ khổ công tham thoại đầu này nhiều năm, cuối cùng tự giác tâm mình trong sáng tĩnh lặng, Vô đã trở thành chân lý. Y sĩ chăm sóc tốt cho các bệnh nhân của mình, nhưng không coi đó là thiện hạnh. Ông đã thoát được sự lo lắng về cái chết. Khi y sĩ đến trình sự tu tập của mình cho Nam Ẩn. Thiền sư mỉm cười bảo ông :
-Từ vong ngã đến vô ngã, đó là sự biểu hiện của thiền tâm.
(Thiền Vị)

Vong ngã là để hết tâm chí vào một việc gì, vô ngã là trí huệ thấy mọi pháp đều là không.

1801.- Phú  Na  Dạ  Xa.

Phú Na Dạ Xa là tổ thứ 11 của Thiền tông Ấn Độ. Ông đứng chấp tay trước mặt tổ thứ 10. Tổ thứ 10 là Hiếp Tôn Giả, hỏi ông :
-Ông từ đâu đến ?
-Tâm con không đến, không đi.
-Ông trụ ở đâu ?
-Tâm con không chuyển, không trụ.
-Vậy ông chẳng nhất định sao ?
-Chư Phật cũng vậy.
-Ông không phải là chư Phật và chư Phật cũng chẳng phải.
Nghe lời này Phú Na Dạ Xa nhập định 21 ngày đắc vô sanh pháp nhẫn và đưa ra câu trả lời :
-Chư Phật chẳng phải và chư Phật cũng chẳng phải là thầy.
Hiếp Tôn Giả gật đầu và truyền tâm ấn cho ông.
(Zen Light)

Công án này nói về trụ xứ. Chúng ta trụ ở đâu ? Ở Nữu Ước ? Ở nhà ? Ở rừng ? Ở thân ? Ở tâm ? Ở Phật ? Không ! Không ở những chỗ này. Vậy thì ở đâu ? (Vô sanh pháp nhẫn : cảnh giới không làm các hành vi tạo nên nghiệp)

1802.- Sư  Tử  Tôn  Giả.

Sư Tử Tôn Giả là tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Độ. Ông hỏi tổ 23 là Hạc Lặc Na :
-Con muốn cầu Đạo, vậy phải dụng tâm thế nào ?
-Muốn cầu đạo thì không phải dụng tâm.
-Nếu không dụng tâm thì ai làm việc Phật ?
-Nếu ông dụng tâm thì không có công đức. Nếu ông không làm gì cả thì đó là làm việc Phật. Kinh nói : Công đức tôi làm không phải là của tôi.
Nghe lời này Sư Tử Tôn Giả phát sanh Phật huệ.
(Zen Light)

Công án này chỉ rằng Phật đạo không phải là con đường ta có thể tạo nên để đi trên đó. Sư Tử Tôn Giả hỏi :
-Con phải làm gì để đi trên đường Đạo ?
-Không làm gì cả hãy ra khỏi đường là ở trên đường.
Cố gắng đạt Đạo giống như muốn tạo thêm một cái đầu mới. Chúng ta đã có một cái đầu đầy đủ tai, mắt, mũi, miệng và chúng ta có thể nghe, nhìn, ngửi, nếm. Chúng ta đâu cần có thêm một cái đầu nữa để làm gì ?

1803.- Lý  Vạn  Quyển.

Trong kinh Duy Ma Cật phẩm Bất Khả Tư Nghị trong đó có các câu : “Hạt cải đựng núi Tu Di” và “Nước của bốn biển chứa trong một lỗ chân lông”.
Đời Đường, Lý Bột là một người nổi tiếng xem nhiều sách. Vì số sách ông đọc nhiều hơn vạn cuốn nên người ta gọi ông là Lý Vạn Quyển. Một hôm, Lý Bột đến thăm Trí Thường, ông hỏi :
-Trong kinh điển nhà Phật có câu “Hạt cải đựng núi Tu Di”, làm sao giải thích đây ?
-Người ta gọi ông là Lý Vạn Quyển, không biết vạn quyển đó làm sao chứa trong đầu ông hả ?
Lý Bột hoát nhiên đại ngộ.
(Nhất Nhật Nhất Thiền Ngữ)

Tất cả mọi pháp, có khi từ sự mà nói, có khi từ lý mà giải. Nên biết vũ trụ thế gian trong sự có lý, trong lý có sự. Tu Di đựng hạt cải là sự, hạt cải đựng Tu Di là lý. Nếu rõ lý sự vô ngại thì chư pháp sẽ viên dung vậy.                                             (Tinh Vân)
(Xem thêm công án 985)

1804.- Đứng  trên  đỉnh  núi  cao,  đi  dưới  đáy  bể  sâu.

Đời Đường, Lý Cao khi nhậm chức Đỉnh Châu Châu Mục, ông đến bái phỏng hòa thượng Dược Sơn (751-834